Bản tin cải cách hành chính ngày 31/7/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Triển khai hóa đơn điện tử: Cơ quan Nhà nước phải cùng nhau gỡ khó

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. An Giang: Cải thiện PCI qua phần mềm “Chính quyền điện tử”

3. Quận Cầu Giấy tăng 5 bậc về chỉ số cải cách hành chính

4. Khánh Hòa ra mắt Trung tâm dịch vụ hành chính công trực tuyến

5. Đà Nẵng: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu vẫn còn gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục hải quan

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Doanh nghiệp sốt ruột chờ hướng dẫn triển khai hóa đơn điện tử

7. Cải cách thủ tục hành chính - “đòn bẩy” thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Cách nào để Chính phủ luôn “có mặt” cạnh người dân và doanh nghiệp?

9. Vì mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Triển khai hóa đơn điện tử: Cơ quan Nhà nước phải cùng nhau gỡ khó

Chiều 30//7, tại Hà Nội, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Tổng cục Thuế tổ chức Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc trong triển khai hóa đơn điện tử".

Phát biểu tại diễn đàn, TS. Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và  Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khẳng định, việc triển khai hóa đơn điện tử (HĐĐT) đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho cả doanh nghiệp (DN), khách hàng, cơ quan thuế, giúp giảm tới 70% quy trình phát hành, 90% các tranh chấp liên quan đến hóa đơn, rút ngắn thời gian thanh toán, quản lý hóa đơn; giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế, góp phần cải cách thủ tục hành chính; giúp ngành Thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn; hỗ trợ, phục vụ việc thanh tra, kiểm tra, hoàn thuế, phân tích rủi ro DN, cá nhân kinh doanh, hạn chế các hành vi gian lận về hóa đơn.

Ông Lộc cho biết thêm, đối với các cơ quan quản lý, đặc biệt là đại diện cơ quan quản lý thuế, việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng giúp cơ quan thuế kịp thời ngăn chặn hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích; khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Đồng thời, sử dụng hóa đơn điện tử còn góp phần bảo vệ môi trường, khắc phục được trình trạng gian lận sử dụng hóa đơn bất hợp pháp - lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên.

Mặc dù có rất nhiều lợi ích, song quá trình triển khai HĐĐT đang gặp không ít khó khăn. Nhiều ý kiến cho rằng, việc triển khai còn chưa bài bản nên gây khó cho DN, trong khi đó, ngành Thuế lại chưa làm tốt công tác tuyên truyền vận động để các DN, tổ chức kinh doanh thấy rõ lợi ích cũng như sự thuận lợi khi sử dụng HĐĐT.

Ông Nguyễn Khơ Din – Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp, Tập đoàn Công nghệ BKAV, Tổng thư ký CLB chữ ký số và giao dịch điện tử Thuộc Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam cho biết, một trong những vướng mắc trong triển khai HĐĐT gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp đó là mặt pháp lý.

Cụ thể, mặc dù đã có Nghị định 119 song lại chưa có thông tư hướng dẫn nghị định này. Chính vì vậy đang có những “khoảng trống” quy định và đánh giá các đơn vị triển khai, quy định về ngày ký, ngày lập hóa đơn chưa rõ ràng, chưa có hướng dẫn cho các loại hóa đơn đặc biệt…

Bên cạnh đó là những vướng mắc trong hoạt động triển khai chưa đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp như thuế, kho bạc, bảo hiểm, quản lý thị trường. 

Ví dụ, cơ quan thuế thì khuyến khích việc sử dụng hóa đơn điện nhưng khi doanh nghiệp dùng hóa đơn điện tử, mang đến kho bạc hay đơn vị bảo hiểm thì lại chưa chấp nhận loại hóa đơn này, họ yêu cầu doanh nghiệp lại chuyển đổi sang hóa đơn giấy. Việc này làm mất đi ý nghĩa của việc triển khai hóa đơn điện tử.

Ông Nguyễn Khơ Din chia sẻ thêm, chính vì chưa có thông tư hướng dẫn nên trong quá trình triển khai các doanh nghiệp vẫn vướng mắc trong việc có cần thiết phải có chữ ký của người bán có hiển thị trên hóa đơn hay không? Đơn vị độc lập nào sẽ thẩm tra năng lực của đơn vị cung cấp giải pháp dịch vụ cung cấp hóa đơn, kiểm tra tính an toàn, an ninh và bảo mật của dịch vụ?

Ông Din kiến nghị, cần triển khai đồng bộ giữa các cơ quan liên quan. Các cơ quan cần ngồi lại để đưa ra những giải pháp tháo gỡ vướng mắc không gây khó khăn cho doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử.  Đồng thời, kiến nghị sớm ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết hơn về hóa đơn điện tử quy định rõ: lựa chọn đơn vị cung cấp, các vấn đề liên quan ngày ký, ngày lập hóa đơn. Bộ Tài chính, Tổng cục thuế cần đưa ra lộ trình triển khai rõ ràng theo từng giai đoạn cụ thể để tránh dồn vào thời điểm năm 2020.

Trước những tồn tại, hạn chế mà các đại biểu chỉ ra, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cho rằng, để có đủ điều kiện sử dụng hóa đơn điện tử, một trong những điều kiện mà các doanh nghiệp phải có được chính là hệ thống máy móc và trang thiết bị đảm bảo cho việc vận hành và sử dụng hóa đơn này. Ngoài ra, còn phải có một hệ thống nhân lực với trình độ cao để có thể sử dụng hóa đơn điện tử.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, điều kiện để thực hiện giao dịch điện tử khắt khe và phức tạp hơn nên việc triển khai chậm hơn. Hóa đơn điện tử chạy bằng phần mềm phải có chứng thư kĩ thuật số, hạ tầng ngành viễn thông cũng như các điều kiện khác từ phía các doanh nghiệp, phải kết nối cơ quan thuế và cơ quan liên quan thì mới có thể sử dụng hóa đơn điện tử.

“Đề nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế cần đẩy mạnh tuyên truyền về hành lang pháp lý và lợi ích của việc phát hành hóa đơn điện tử, để các doanh nghiệp hiểu rõ được những lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử và triển khai thực hiện sớm loại hình dịch vụ này”, TS Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh./. (VOVNews 30/7, Chung Thủy) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

An Giang: Cải thiện PCI qua phần mềm “Chính quyền điện tử”

Việc áp dụng phần mềm thông minh “Chính quyền điện tử”, đánh giá cán bộ để cải thiện môi trường, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là nhiệm vụ trong tâm của An Giang trong năm 2019.

Theo đó, chiều 29/7/2019, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh An Giang, các sở ngành như: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ và các doanh nghiệp tỉnh An Giang đã chính thức thăm quan mô hình chính quyền điện tử, quản lý và đánh giá cán bộ thông qua phần mềm thông minh tại Quận 12, TP.HCM.

Việc áp dụng phần mềm thông minh “Chính quyền điện tử”, đánh giá cán bộ để cải thiện môi trường, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là nhiệm vụ trong tâm của An Giang trong năm 2019.

Việc áp dụng phần mềm thông minh “Chính quyền điện tử”, đánh giá cán bộ để cải thiện môi trường, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là nhiệm vụ trong tâm của An Giang trong năm 2019.

Theo kế hoạch, đây là chuyến công tác thực tế, học hỏi kinh nghiệm của lãnh đạo tỉnh An Giang, với các tỉnh thành phố, quận huyện trung tâm thuộc các tỉnh và thành phố lớn về việc thực hiện mô hiện mô hình chính quyền điện tử, đặc biệt là UBND Quận 12.

Phát biểu và chia sẻ những kinh nghiệm về công tác cải cách hành chính thông qua mô hình chính quyền điện tử, ông Lê Trương Hải Hiếu - Chủ tịch UBND Quận 12, cho biết: Theo quy hoạch của TP.HCM thì Quận 1, 2, 12 được thí điểm là các quận “đô thị thông minh”. Do đó, trong quá trình thực hiện sẽ lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp xuyên suốt quá trình xây dựng, và nghiệm thu đề án.

Cũng theo ông Hiếu, thành phố thông minh không chỉ là giải pháp giải quyết các vấn đề nội tại của thành phố về giao thông, kinh tế, văn hóa xã hội… mà còn mở ra cơ hội, tiềm năng hợp tác quốc tế rất lớn - ông Hiếu nói.

Theo ông Hiếu, chính quyền điện tử tại Quận 12 gồm nhiều ứng dụng công nghệ, như: phần mềm quản lý công việc và quản lý địa bàn dân cư; cổng dịch vụ công trực tuyến; tra cứu thông tin quy hoạch trực tuyến; các giải pháp tiếp nhận phản ánh, góp ý, đánh giá việc giải quyết hồ sơ và phần mềm tương tác với người dân thông qua ứng dụng di động.

ông Lê Trương Hải Hiếu – Chủ tịch UBND quận 12, cho biết: Theo quy hoạch của TP.HCM thì quận 1, 2, 12 được thí điểm là các quận “đô thị thông minh”. Do đó, trong quá trình thực hiện sẽ lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp xuyên suốt quá trình xây dựng, và nghiệm thu đề án. Cũng theo ông Hiếu, thành phố thông minh không chỉ là giải pháp giải quyết các vấn đề nội tại của thành phố về giao thông, kinh tế, văn hóa xã hội… mà còn mở ra cơ hội, tiềm năng hợp tác quốc tế rất lớn – ông Hiếu nói.

Ông Lê Trương Hải Hiếu - Chủ tịch UBND Quận 12, cho biết: theo quy hoạch của TP.HCM thì Quận 1, 2, 12 được thí điểm là các quận “đô thị thông minh”.

Với phần mềm này, người dân có thể làm thủ tục đăng ký hộ kinh doanh cá thể; đăng ký lao động; trích lục hay đăng ký hộ tịch; sao y từ bản gốc; theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ qua cổng dịch vụ công trực tuyến. Tại UBND các phường, người dân có thể sử dụng dịch vụ trực tuyến trong ba lĩnh vực: trích lục - đăng ký hộ tịch; địa chính - xây dựng, sao y từ bản chính. Trang thông tin quy hoạch là nơi cung cấp thông tin quy hoạch trên địa bàn quận. Ngoài ra, phần mềm HCMC One (tải miễn phí) giúp người dân gửi phản ánh, góp ý về mọi lĩnh vực đến chính quyền Quận 12.

Mọi ý kiến đóng góp sẽ tự động chuyển đến cán bộ và lãnh đạo quận. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết và phản hồi trên ứng dụng hoặc cổng dịch vụ công trực tuyến thông qua (Zalo,facebook…).

Về lợi ích của phần mềm, ông Hiếu cho biết: "Người dân sẽ là trung tâm, thụ hưởng các tiện ích, sử dụng năng lượng với chi phí thấp; hệ thống giao thông công cộng tiện lợi; giảm thiểu tác động của ngập nước; dịch vụ y tế tốt hơn; thực phẩm an toàn; học sinh có thể học tại các trường đạt chuẩn chất lượng tốt; nước sạch, không khí trong lành; tỷ lệ tội phạm thấp và các hoạt động vui chơi giải trí đa dạng. Ngoài ra, đô thị thông minh giúp sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên một cách tối ưu, bền vững, bảo đảm lợi ích cho các thế hệ tương lai".

Đồng thời, người lao động có cơ hội học kỹ năng, kiến thức; được cung cấp không gian sống vừa tầm thu nhập, hệ thống giao thông tốt… giúp họ nâng cao năng suất lao động, cạnh trạnh tốt trên thị trường thế giới" - ông Hiếu chia sẻ.

Phát biểu về mục đích của chuyến công tác, ông Lê Văn Nưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, chia sẻ: "Để có được sự kết nối và học hỏi kinh nghiệm về chính quyền điện tử tại Quận 12 hôm nay, trước tiên lãnh đạo tỉnh An Giang rất cảm ơn Báo DĐDN đã có những những thông tin, chia sẻ cho địa phương về mô hình quản lý hành chính công thông qua phần mềm điện tử mà Quận 12 đang thực hiện".

Ông Lê Văn Nưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang:An Giang xác định việc cải thiện môi trường kinh doanh để nâng cao chỉ số canh tranh cấp tỉnh (PCI), là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cộng đồng doanh nghiệp được xác định có vai trò cực kỳ quan trọng với sự phát triển bền vững của địa phương.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết: xác định việc cải thiện môi trường kinh doanh để nâng cao chỉ số canh tranh cấp tỉnh (PCI), là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cộng đồng doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng với sự phát triển bền vững.

Theo ông Nưng: An Giang xác định việc cải thiện môi trường kinh doanh để nâng cao chỉ số canh tranh cấp tỉnh (PCI), là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cộng đồng doanh nghiệp được xác định có vai trò cực kỳ quan trọng với sự phát triển bền vững của địa phương. Và khi làm được điều này, lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân không những đóng góp cho ngân sách, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, doanh nghiệp còn là bộ mặt và niềm tự hào của địa phương.

Cũng theo ông Nưng, trên tinh thần “tâm huyết - đổi mới- sáng tạo”, UBND tỉnh An Giang đã thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch hành động nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, như: tăng cường chất lượng chương trình Cà phê doanh nhân; thành lập Ban Hỗ trợ doanh nghiệp; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tiếp nhận ý kiến doanh nghiệp qua hệ thống điện tử. Do đó, mục đích của chuyến công tác lần này là tìm hiểu thông tin về phần mềm quản lý và đánh giá cán bộ đã được lãnh đạo từ Tỉnh ủy, UBND và các sở ngành, doanh nghiệp đã thống nhất cao, quyết tâm đầu tư với mục đích là để phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Dựa vào phần mềm này, sẽ đánh giá được thái độ phục vụ của cán bộ công chức, viên chức trong việc tạo điều kiện cho người dân đến làm các thủ tục hành chính. Sau mỗi lần làm việc, người dân và doanh nghiệp sẽ bấm vào nút được lắp đặt sẵn trước bàn của mỗi công chức, viên chức.

Nếu công chức, viên chức có thái độ phục vụ không tốt, người dân và doanh nghiệp chỉ việc bấm vào các nút (bao gồm 5 mục: Rất kém - Kém - Bình thường - Tốt - Rất tốt). Và căn cứ vào kết quả này để đánh giá cán bộ công chức, viên chức (cán bộ công chức, viên chức bị người dân bấm vào nút không tốt nhiều lần trong tháng, quý), và từ kết quả này sẽ xem xét để kiểm điểm kỷ luật cán bộ ông Nưng nói.

Theo ông Nưng: “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã và đang tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, khoa học và sôi nổi giữa các tỉnh. Đồng thời cũng thể hiện mức độ niềm tin giữa doanh nghiệp và địa phương trong quá trình cùng đồng hành phát triển. Do đó, chuyến công tác lần này sẽ là dịp để các sở, ban ngành cùng Hiệp hội các doanh nghiệp có thêm kinh nghiệm, kỹ năng và giải pháp nâng cao chỉ số PCI, vực dậy tiềm năng của địa phương, lấy đó làm nền tảng để toàn tỉnh bước vào sân chơi PCI một cách tự tin, cầu thị và quyết tâm cao” - ông Nưng nhấn mạnh. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp Online 30/7, Hương Giang) Về đầu trang

Quận Cầu Giấy tăng 5 bậc về chỉ số cải cách hành chính

Đây là một trong những thông tin được ông Trần Việt Hà, Phó Chủ tịch UBND quận Cầu Giấy cho biết tại Hội nghị giao ban báo chí do Ban tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội tổ chức chiều 30-7.

Theo Phó Chủ tịch UBND quận Cầu Giấy, thực hiện “Năm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của hệ thống chính trị năm 2019”, trong đó tập trung đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, thời gian qua công tác CNTT tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong phục vụ công tác hỉ đạo, điều hành của quận.

Quận đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử, trực tiếp Chủ tịch UBND quận làm Trưởng ban; tiếp tục triển khai tốt hệ thống một cửa điện tử dùng chung 3 cấp của TP. Quận và các phường đã tiếp nhận 47.594 hồ sơ yêu cầu giải quyết TTHC, đã giải quyết 46.749 hồ sơ, không có hồ sơ quá hạn.

Đồng thời, quận đã ra mắt 2 fanpage trên mạng xã hội, hệ thống nhắn tin SMS đến Bí thư Chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, trưởng ban công tác mặt trận để thông tin và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân. Chỉ số CCHc năm 2018 của quận tiếp tục tăng hạng, xếp vị trí thứ 4/30 quận. huyện, tăng 5 bậc…

Trong công tác tư pháp, công tác theo dõi thi hành pháp luật và quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, kiểm soát TTHC được tăng cường; công tác PBGDPL tiếp tục triển khai theo kế hoạch với 41 hội nghị, gần 10.000 lượt người tham dự; tổ chức tổng kết 5 năm thi hành Luật Hoà giải ở cơ sở; hoạt động hoà giải ở cơ sở được đẩy mạnh, tỷ lệ hoà giải thành đạt 88,1%; công nhận 8/8 phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2018; lĩnh vực hành chính tư pháp đã giải quyết kịp thời nhu cầu của đối tượng tuyên truyền pháp luật.

Về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong 7 tháng, ông Trần Việt Hà cho biết: Tổng mức luân chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt hơn 182.133 tỷ đồng, tăng 13,24% so với cùng kỳ năm 2018; giá trị sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước tăng 3,6%; giá trị sản xuất ngành xây dựng ngoài nhà nước tăng 12%; quận đã cấp 1.031 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh với tổng số vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng. Trên địa bàn quận có 15.348 doanh nghiệp đóng thuế.

Trong năm học 2018-2019 kết quả thi vào lớp 10 THPT tiếp tục dẫn đầu TP năm thứ 11 liên tiếp; thi học sinh giỏi đạt nhiều thành tích cao. Thời gian qua, quận đã tăng cường phối hợp kiểm tra liên ngành trong công tác ATTP, hành nghề y, dược. Triển khai nhân rộng tuyến phố ATTP có kiểm soát tại 8/8 phường và 1 tuyến phố cấp TP; đã kiểm tra 80 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, xử phạt 5 cơ sở với số tiền 57,5 triệu đồng; ký cam kết phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú ý, ATTP đối với 100% hộ kinh doanh thịt lợn (537 hộ)…

Bên cạnh đó, công tác quản lý đô thị- trật tự đô thị được duy trì thường xuyên. Ban chỉ đạo 197 đã kiểm tra, nhắc nhở, xử lý 7.960 trường hợp vi phạm trật tự đô thị, xử phạt 3,1 tỷ đồng các trường hợp lấn chiếm lòng đường, hè phố, các điểm trông giữ phương tiện.

Triển khai xây dựng tuyến phố đảm bảo vệ sinh môi trường 24/24 giờ trên địa bàn quận, duy trì tốt công tác xử lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường sáng thứ 7 hàng tuần.

Công tác quản lý, sử dụng nhà chung cư tiếp tục được tăng cường. Quận đã công nhận, công nhận lại 18 Ban quản trị nhà chung cư; tăng cường tuyên truyền các quy định an toàn về phòng cháy, chữa cháy; kiểm tra, yêu cầu các cơ sở kinh doanh có điều kiện thực hiện các quy định về an ninh, trật tự, phòng chống cháy nổ; duy trì, nâng cao hiệu quả của đội phòng cháy, chữa cháy cơ sở.

Công tác cấp giấy phép xây dựng được thực hiện đúng quy định, quận cấp 521 giấy phép xây dựng với 130.250m2; kiểm tra, xử lý vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn; kiểm tra, xử lý 66 công trình vi phạm, trong đó 16 trường hợp không phép, 41 trường hợp sai phép, 9 trường hợp vi phạm khác, xử phạt hơn 1,4 tỷ đồng.

Thời gian tới, UBND quận tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trên tinh thần 5 rõ: “Rõ người, rõ việc, rõ quy trình trách nhiệm và rõ hiệu quả”, “một việc-một đầu mối xuyên suốt” trên tinh thần kiên trì- sáng tạo-hiệu quả, cụ thể hoá chỉ đạo của quận uỷ, nghị quyết của HĐND quận trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 6 tháng cuối năm và chỉ tiêu nhiệm kỳ 2015-2020, Phó Chủ tịch UBND quận Cầu Giấy chia sẻ. (Pháp Luật Xã Hội 30/7, Vân Hà) Về đầu trang

Khánh Hòa ra mắt Trung tâm dịch vụ hành chính công trực tuyến

Sáng 30/7, những dịch vụ, tiện ích của Trung tâm Dịch vụ hành chính công trực tuyến tỉnh Khánh Hòa đã được giới thiệu đến các tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội.

Trung tâm Dịch vụ hành chính công trực tuyến tỉnh Khánh Hòa chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 31 tháng 8 năm ngoái. Sau gần 1 năm, các cơ quan hành chính 3 cấp ở tỉnh Khánh Hòa đã tiếp nhận hơn 500.000 hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có 80.000 hồ sơ trực tuyến. Theo tính toán, một hồ sơ nếu được giải quyết trực tuyến, tiết kiệm cho khách hàng ở Khánh Hòa từ 200.000 đồng đến 260.000 đồng, đối với khách hàng ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiết kiệm từ 900.000 đồng đến 1 triệu đồng, chưa kể những khoản lợi khác. Thế nhưng, thời gian qua, lượng hồ sơ được giải quyết trực tuyến ở Khánh Hòa chỉ mới chiếm 17%.

Để tăng khách hàng sử dụng dịch vụ hành chính công trực tuyến, mấu chốt là giúp người dân tiếp cận dễ dàng các dịch vụ, tiện ích. Vì vậy, trong sáng nay, những nội dung như cách đăng ký tài khoản, cách đăng nhập hệ thống , tạo và nộp hồ sơ điện tử... đã được hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, khách hàng trực tiếp thử nghiệm các dịch vụ hành chính công trực tuyến với sự hướng dẫn của các đơn vị cung cấp dịch vụ. Hoạt động này tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới ở Khánh Hòa nhằm rút ngắn khoảng cách giữa người dân với các dịch vụ hành chính công trực tuyến. (VTVNews 30/7, Tấn Quỳnh) Về đầu trang

Đà Nẵng: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu vẫn còn gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục hải quan

Ngày 30/7, tại TP. Đà Nẵng, Cục Hải quan thành phố phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - Chi nhánh Đà Nẵng tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp với chủ đề “Hải quan và doanh nghiệp: Kết nối - chia sẻ - đồng hành”. Hơn 200 doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu thường xuyên trên địa bàn thành phố tham dự buổi đối thoại.

6 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của TP. Đà Nẵng đạt 1,685 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 800,7 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 884,5 triệu USD; hơn 2,5 triệu hành khách làm thủ tục xuất nhập cảnh tại các cửa hải quan; đã có 52.266 tờ khai đã làm thủ tục hải quan. Thời gian trung bình thực hiện thủ tục hải quan cho một lô hàng xuất khẩu là 2 giờ 28 phút (từ khi tiếp nhận tờ khai EDC đến khi có quyết định thông quan/giải phóng hàng); hàng nhập khẩu là 19 giờ 33 phút (từ khi nhận tờ khai IDC đến khi có quyết định); hàng nhập khẩu có kiểm tra chuyên ngành là khoảng 13 ngày.

Theo ông Phạm Đình Vũ - Chánh văn phòng Phòng VCCI, Hải quan Đà Nẵng là một trong hai đơn vị hải quan trong cả nước thực việc đối thoại với doanh nghiệp. Đây là một tín hiệu tích cực thể hiện sự đồng hành, chuyển hướng Hải quan từ cơ quan công quyền sang đơn vị phục vụ, chuyển doanh nghiệp từ bị giám sát quản lý sang đối tác cùng đồng hành và phát triển.

Tại hội nghị, nhiều kiến nghị, vướng mắc, khó khăn đã được doanh nghiệp trao đổi trực tiếp với lãnh đạo Cục Hải quan Đà Nẵng. Trong đó, đáng chú ý là việc doanh nghiệp cho rằng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập trong việc xác minh các C/O ưu đãi đối với các lô hàng nhập khẩu được hưởng thuế suất ưu đãi theo các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Cụ thể là tần suất xác minh quá nhiều, kể cả với những C/O được cấp điện tử. Lý do yêu cầu xác minh đa phần là do chữ ký không giống với chữ ký mẫu. Trường hợp C/O bị lỗi do đánh máy, hải quan không chấp nhận thì sau khi khách hàng xin cấp mới và thu hồi C/O cũ nhưng số C/O thay đổi thì lại phải tiến hành xác minh trở lại.

Bên cạnh đó, thời gian xác minh C/O là quá lâu (theo quy định của Bộ Tài chính về xác định xuất xứ hàng nhập khẩu là không quá 180 ngày - Cục Hải quan Đà Nẵng thông tin), không biết khi nào có kết quả dẫn đến việc doanh nghiệp phải chịu đóng mức thuế thông thường cho đến khi C/O ưu đãi được xác minh, điều này gây phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.

Một khó khăn nữa cũng được nhắc đến đó là sự thiếu nhất quán trong việc xác minh mã HS. Có nhiều trường hợp ngay tại cùng một chi cục, cùng một loại mặt hàng nhưng 2 cán bộ tiếp nhận khác nhau thì hướng dẫn áp mã HS khác nhau dẫn đến thuế suất khác nhau. Có mặt hàng doanh nghiệp áp mã HS theo hướng dẫn của cán bộ hải quan khi làm thủ tục thông quan (đối với tờ khai luồng vàng và luồng đỏ) nhưng sau đó lại bị bác bỏ bởi các cán bộ hải quan thuộc chi cục hải quan kiểm tra sau thông quan. Điều này khiến các doanh nghiệp bị xử phạt hành chính dù họ đã áp mã theo đúng hướng dẫn của cán bộ khi thực hiện thủ tục thông quan.

Một số doanh nghiệp cho rằng việc áp mã HS của cán bộ hải quan thường nghiêng về mã HS có mức thuế suất cao hơn để thu thuế cao nhất có thể. Bên cạnh đó, kết quả phân tích, phân loại chậm, doanh nghiệp phải mất thời gian chờ kết quả, trong khi, có trường hợp phân tích phân loại cùng một mặt hàng như 2 lần cho ra 2 kết quả khác nhau.

Về vấn đề này, lãnh đạo Cục Hải quan cho biết, việc phân loại hàng hóa được quy định thống nhất tại các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, do kỹ thuật phân loại hàng hóa phức tạp, hàng hóa xuất nhập khẩu rất đa dạng nên việc phân loại hàng hóa là một nghiệp vụ khó trong lĩnh vực hải quan. Trên thực tế, nhiều trường hợp vướng mắc Hải quan Việt Nam phải xin ý kiến phân loại từ Tổ chức Hải quan Thế giới nhưng chính các thành viên trong tổ chức này đôi lúc cũng có quan điểm phân loại khác khau cho cùng một mặt hàng.

Bên cạnh đó, Cục sẽ kiến nghị với Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính xem xét sửa đổi quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm tra sau thông qua đối với các tờ khai luồng đỏ theo hướng không xử phạt đối với những trường hợp này. Cục Hải quan thành phố cũng thừa nhận, do tính phức tạp của công tác phân loại mã số nên đôi khi còn xảy ra tình trạng không thống nhất về phân loại mã số giữa doanh nghiệp với công chức hải quan.

Ngoài ra, còn gần 18 kiến nghị, ý kiến của doanh nghiệp liên quan đến các lĩnh vực như thủ tục hải quan, giám sát quản lý, thuế xuất nhập khẩu, chính sách mới…. cũng được doanh nghiệp thẳng thắn đề cập và được lãnh đạo Cục Hải quan trực tiếp trả lời.

Phát biểu tại hội nghị, Cục trưởng Cục Hải quan Đà Nẵng - ông Quách Đăng Hòa - cho biết, việc tương tác giữa Hải quan - doanh nghiệp nhằm nắm bắt, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Từ đó, góp phần xây dựng và hoàn thiện các chính sách về hải quan, minh bạch hóa các hoạt động hải quan, cải thiện và nâng cao năng lực quản lý nhà nước của hải quan cũng như ý thức tuân thủ pháp luật về hải quan của doanh nghiệp. (Báo Công Thương Điện Tử 31/7, Vũ Lê) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Doanh nghiệp sốt ruột chờ hướng dẫn triển khai hóa đơn điện tử

Cần sớm có sự thống nhất và hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp (DN) trong việc triển khai hóa đơn điện tử (HĐĐT) là vấn đề nhận được nhiều kiến nghị của DN đối với Tổng cục Thuế tại Diễn đàn Tháo gỡ vướng mắc trong triển khai HĐĐT diễn ra chiều ngày 30/7, tại Hà Nội.

Theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP hướng dẫn quản lý, sử dụng hoá đơn điện tử (NĐ 119), chậm nhất là đến ngày 1/11/2020, các DN phải hoàn thành việc chuyển đổi sử dụng từ hóa đơn tự in, hóa đơn giấy sang HĐĐT.

Số liệu tổng hợp của Tổng cục Thuế tính đến tháng 7/2019 cho thấy, số lượng DN đã đăng ký phát hành hoá đơn điện tử có mã của Cơ quan Thuế mới chỉ có 279 DN (Hà Nội có 128 DN, TP.HCM có 118 DN, Đà Nẵng có 33 DN). Trong đó, số lượng DN đã xuất HĐĐT có mã là 255 DN với tổng số hoá đơn được xác thực là hơn 8 triệu hoá đơn.

Theo ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, một trong những nguyên nhân dẫn tới việc nhiều DN vẫn còn ngần ngại triển khai HĐĐT là do chi phí áp dụng HĐĐT vẫn cao hơn nhiều so với việc tự in hóa đơn.

Mặc dù nhận thức được những lợi ích mang lại và đã áp dụng HĐĐT, nhưng tại Diễn đàn, không ít DN phản ánh họ đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có văn bản trả lời chính thức, thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện Nghị định số 119/2018/NĐ-CP, dẫn đến những cách hiểu khác nhau, khiến DN vô cùng lúng túng không biết triển khai như thế nào.

Chẳng hạn như vấn đề có bắt buộc hiển thị ngày ký chữ ký số trên HĐĐT hay không; ngày lập hóa đơn hay ngày ký phát hành HĐĐT mới là ngày có giá trị pháp lý; muốn điều chỉnh nhiều nội dung của một hóa đơn gốc thì phải phát hành nhiều hóa đơn điều chỉnh...

Nhưng điều khiến DN bức xúc hơn, bà Hương chia sẻ: “Chúng tôi đã có văn bản hỏi trực tiếp Tổng cục Thuế, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản hướng dẫn. Trong khi đó, mỗi chi cục thuế tại địa phương lại thực thi theo cách khác nhau.

Theo ông Nguyễn Khơ Din - Giám đốc khối khách hàng DN, Tập đoàn Công nghệ BKAV, Tổng thư ký Câu lạc bộ chữ ký số và giao dịch điện tử (Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam), mặc dù NĐ119 đã có hiệu lực từ tháng 9/2018, song lại chưa có thông tư hướng dẫn, tạo nên những khoảng trống trong quy định. Mỗi đơn vị cung cấp dịch vụ HĐĐT lại triển khai theo những cách thức khác nhau mà chưa có tiêu chuẩn chung, mạnh ai nấy làm. Đơn vị nào sẽ thẩm tra năng lực của các đơn vị cung cấp giải pháp dịch vụ HĐĐT, kiểm tra tính an toàn, an ninh và bảo mật của dịch vụ... Trong khi đó, các cơ quan quản lý nhà nước như thuế, kho bạc, bảo hiểm, quản lý thị trường lại chưa có sự thống nhất, triển khai đồng bộ khiến DN gặp không ít khó khăn khi áp dụng HĐĐT.

Giải đáp những băn khoăn, thắc của DN về HĐĐT, ông Nguyễn Văn Phụng – Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế DN lớn – Tổng Cục thuế khẳng định, hóa đơn có tính hợp pháp phải đảm bảo nguyên tắc toàn vẹn, đầy đủ nội dung, form, mẫu. Do đó, HĐĐT chỉ có giá trị pháp lý khi có đầy đủ chữ ký chứng thư số, tức là lúc ký phát hành hóa đơn, chứ không phải lúc lập. Trong trường hợp, DN có hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù thì phải nghiên cứu, xem xét điều khoản ký kết trong hợp đồng.

Tuy vậy, về phía nhà cung cấp dịch vụ HĐĐT, ông Lê Quang Anh – Phó Giám đốc Khối dịch vụ khách hàng của Công ty CP phát triển công nghệ Thái Sơn cho rằng, không nên áp dụng “cứng” quy định ngày ký và ngày lập HĐĐT phải trùng nhau, bởi có những DN rất đặc thù.

Đối với việc bổ sung thời điểm ký phát hành hóa đơn trên hóa đơn cung cấp cho người mua, hay các giao thức kết nối trong phát hành HĐĐT và chuẩn hóa dữ liệu giữa các cơ quan liên quan, đại diện của Cục Công nghệ thông tin thuộc Tổng cục Thuế khẳng định, để khắc phục điều này không khó về kỹ thuật, có thể làm được và sẽ sớm xem xét quy định này trong Dự thảo Thông tư hướng dẫn NĐ 119 sắp tới.

Đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ HĐĐT, nhiều ý kiến cho rằng, cần có quy định rõ ràng về tiêu chuẩn về năng lực, tài chính, hạ tầng công nghệ thông tin, kỹ thuật, kết nối... Tuy nhiên, không được phát sinh điều kiện kinh doanh, nhất là trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm và loại bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết tạo thuận lợi hóa cho DN.

“Lâu nay chúng ta chuyển từ giấy sang hoá đơn điện tử nên chưa chuẩn chỉ. Do đó, các DN lựa chọn nhà cung cấp HĐĐT cũng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng. Nhà cung cấp dịch vụ HĐĐT phải đảm bảo năng lực hạ tầng, nhân lực. Không chỉ có chuyên môn kế toán, mà còn phải có đội ngũ hỗ trợ…”, ông Phụng lưu ý thêm đối với các DN. (Baodauthau.vn 31/7, Lê Xuân) Về đầu trang

Cải cách thủ tục hành chính - “đòn bẩy” thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân

Nhằm đẩy nhanh lộ trình bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam đã có những sáng kiến trong cải cách thủ tục hành chính (TTHC), tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp thực hiện các giao dịch về BHYT.

Ngày 29/11/2013, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 68/2013/QH13 về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Thực hiện mục tiêu mà Nghị quyết đề ra, thời gian qua BHXH đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó công tác truyền thông chính sách BHYT, cải cách TTHC đã được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia.

Báo cáo định kỳ 2 năm một lần gửi Bộ Y tế thực hiện Nghị quyết số 68/2013/QH13 trong đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2018 - 2019, BHXH Việt Nam cho biết, trong giai đoạn năm 2018 - 2019, ngành BHXH đã bãi bỏ, cắt giảm nhiều TTHC trong lĩnh vực BHYT, cụ thể: Bãi bỏ một số thành phần hồ sơ theo quy định trước đây như đơn, công văn đề nghị, xác nhận; một số thủ tục chỉ còn quy định về tờ khai và danh sách; giảm số lần lập, kê khai hồ sơ, chỉ yêu cầu đơn vị sử dụng lao động lập, kê khai lần đầu và khi có thay đổi thông tin. Đến nay, số TTHC thuộc lĩnh vực giải quyết chính sách BHYT đã giảm xuống còn 4 thủ tục.

Đồng thời, để tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân, theo BHXH Việt Nam, cơ quan này đã chủ động giảm thời gian thực hiện TTHC, rút ngắn thời gian cấp thẻ BHYT. Như, Luật BHYT năm 2008 quy định thời hạn cấp thẻ BHYT là 10 ngày, BHXH Việt Nam thực hiện 5 ngày; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 quy định thời gian cấp thẻ BHYT là 7 ngày, BHXH Việt Nam thực hiện 3 ngày và 1 ngày đối với trường hợp cấp cứu, chuyển công tác hoặc không thay đổi thông tin.

Đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận và trả kết quả TTHC cũng được ngành BHXH quyết liệt thực hiện, đến nay việc thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả TTHC qua 3 hình thức gồm: giao dịch điện tử, sử dụng dịch vụ bưu chính và trực tiếp tại Bộ phận “một cửa”.

Đối với giao dịch điện tử, BHXH Việt Nam cho biết đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2015/QĐ-TTg ngày 9/3/2015 về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và cấp sổ BHXH, thẻ BHYT. Thông qua đó, các đơn vị lựa chọn hình thức giao dịch điện tử sẽ không phải mất thời gian đi lại, chờ đợi nộp hồ sơ đăng ký tham gia BHYT trực tiếp tại cơ quan BHXH. Kể từ 1/3/2017, ngành BHXH triển khai giao dịch điện tử trên tất cả lĩnh vực: Thu, cấp thẻ BHYT; giải quyết và chi trả chế độ BHYT đối với cả tổ chức và cá nhân.

Ngoài ra, với dịch vụ bưu chính, BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết định số 39/QĐ-BHXH ngày 9/1/2017 về việc công bố danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam. Theo đó, tổ chức, cá nhân giao dịch thủ tục liên quan BHYT được thực hiện tiếp nhận và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích không phải trả phí. Về cấp thẻ BHYT điện tử, BHXH Việt Nam hiện đang chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định về việc thực hiện thẻ BHYT điện tử nhằm tạo thuận lợi nhất cho cơ quan, đơn vị, tổ chức trong thực hiện giao dịch về BHYT và cá nhân khi đi khám chữa bệnh BHYT.

Ghi nhận từ BHXH Việt Nam, nhờ sự chủ động và quyết liệt cải cách TTHC đã góp phần quan trọng trong thực hiện chính sách BHYT, tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia, thụ hưởng các chế độ, tiến tới BHYT toàn dân. Tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống đại lý thu BHXH, BHYT. Hết năm 2018, toàn quốc có 12.141 đại lý thu đang hoạt động với 36.384 điểm thu…

Tính đến hết năm 2018, toàn quốc có trên 83,5 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT 88,5% dân số, vượt và hoàn thành trước mục tiêu theo Nghị quyết số 68/2013/QH13 (giao đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT); đồng thời cũng vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg là 3,3%. Trong đó, đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình đạt 15,7 triệu người, tăng gần 1 triệu người so với năm 2017 (tương đương tăng 6,3%).

Tuy nhiên, BHXH Việt Nam cho biết, bên cạnh nỗ lực cải cách TTHC để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân thì hiện vẫn có không ít khó khăn, vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật BHYT nói chung. Trong đó, theo BHXH Viêt Nam, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách về BHYT là một trong những nhiệm vụ quan trọng, tuy nhiên, một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức tới nhiệm vụ này, coi công tác tuyên truyền chính sách BHYT là nhiệm vụ riêng của ngành BHXH.

Mặt khác, một bộ phận người dân chưa nhận thức sâu sắc về chính sách BHYT, chưa có ý thức bảo vệ sức khỏe cho cá nhân mình và gia đình, chưa ý thức được quyền lợi và trách nhiệm để tham gia BHYT theo quy định của pháp luật. Tình trạng trốn đóng, chậm đóng BHYT của một số chủ sử dụng lao động vẫn xảy ra ở hầu hết các địa phương.

Bên cạnh đó, còn một số bất cập, chưa thống nhất của pháp luật BHYT như: Vướng trong xác định giá trị thẻ BHYT của người lao động khi người sử dụng lao động nợ tiền đóng BHYT; chưa có chế tài xử phạt người không tham gia BHYT dù quy định là bắt buộc; khó khăn trong thực hiện tham gia BHYT với người lao động có yếu tố nước ngoài… (Báo Công Thương Điện Tử 30/7, Hoa Quỳnh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cách nào để Chính phủ luôn “có mặt” cạnh người dân và doanh nghiệp?

Nói về “tinh thần” thì 100% bộ, ngành đều đã có ban chỉ đạo và kế hoạch thực hiện “quyết tâm” chính trị của Chính phủ về Chính phủ điện tử (CPĐT).

Để thực hiện, nhiệm vụ đặt “lên vai” cơ quan soạn thảo “hành lang pháp lý” rất nặng nề. Đó là việc đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện cho việc triển khai, xây dựng phát triển CPĐT. Theo kinh nghiệm các quốc gia phát triển về CPĐT, nền tảng thể chế của CPĐT phải đi trước, trong khi chúng ta còn thiếu nhiều quy định và chính sách.

Do vậy vấn đề ban hành các Nghị định về chia sẻ dữ liệu; về bảo vệ dữ liệu cá nhân; về xác thực điện tử; về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân; về chế độ báo cáo giữa các cơ quan hành chính Nhà nước có vị trí đặc biệt. Đầu năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2019/NĐ-CP quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước cũng nằm trong cố gắng chung về xây dựng CPĐT.

Sau nhiều nỗ lực, hiện đã đưa vào vận hành một số hệ thống thông tin nền tảng có ý nghĩa, như: Trục liên thông văn bản quốc gia, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (E-Cabinet).

Về xây dựng, hoàn thiện Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, các bộ, ngành đang triển khai nâng cấp hệ thống này, trong đó có một số bộ đã hoàn thành hoặc đang thử nghiệm.

Các bộ, cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước đã triển khai gửi, nhận văn bản điện tử trên trục liên thông văn bản quốc gia; về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 theo các quyết định của Thủ tướng đã có 7 bộ, cơ quan trong số 12 bộ, cơ quan kiểm tra đã hoàn thành. Tuy nhiên, hiện còn 4 bộ, cơ quan chưa ban hành quy chế tiếp nhận, xử lý, phát hành và quản lý văn bản điện tử; 5 bộ, cơ quan chưa thực hiện đúng quy định về thể thức, hình thức ký số…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đầu năm nay bày tỏ mong muốn xây dựng, vận hành trục liên thông văn bản quốc gia thông suốt, thống nhất, trơn tru, an ninh, an toàn và hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫn đầu về CPĐT trong ASEAN.

CPĐT là gì? Nhắc lại chút thì đó là “Chính phủ” luôn có mặt bên cạnh người dân và doanh nghiệp, ngay trên bàn phím. Xây dựng CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số là một chủ trương lớn đang được đẩy mạnh triển khai. Thành công hay không đòi hỏi sự vào cuộc với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị tạo ra một phương thức điều hành mới, một cách làm mới.

Mục đích không gì khác hơn ngoài việc tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ số mang lại, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đây là xu thế thời đại không thể đảo ngược, trong “kỷ nguyên 4.0”. Công tác quản trị quốc gia không nằm ngoài xu thế đó. (Pháp Luật Việt Nam 31/7, Từ Tâm) Về đầu trang

Vì mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp

Với sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương, nền tảng Chính phủ điện tử (CPĐT) đang được tăng tốc xây dựng vì mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp (DN), hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số, đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc đến năm 2025.

Có nhiều khái niệm về CPĐT được đưa ra bởi nhiều tổ chức quốc tế uy tín. Tựu trung lại, CPĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet và mạng toàn cầu (world wide web) để nâng cao chất lượng hoạt động của chính phủ, giảm phiền hà, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ người dân và DN.

Năm 2018, Việt Nam tăng 1 bậc, xếp hạng 88/193 quốc gia về Chỉ số phát triển CPĐT (EGDI) và tăng 15 bậc, xếp hạng 59/193 quốc gia về Chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI) so với năm 2016. Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu nâng xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc tăng từ 10 đến 15 bậc vào năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng CPĐT theo đánh giá của Liên hợp quốc đến năm 2025. Việc xây dựng CPĐT được xác định rõ là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, DN; phát triển CPĐT dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng.

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, xây dựng CPĐT tiến tới Chính phủ số là xu thế tất yếu của tất cả quốc gia trên thế giới. CPĐT giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả xử lý công việc, tăng cường sự giám sát và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Kết quả tổng hợp do Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thực hiện cho thấy, đến nay, 100% bộ, cơ quan đã thành lập ban chỉ đạo và có kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP (ngày 7-3-2019) của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025. Chính phủ, các bộ, cơ quan cũng đưa vào vận hành một số hệ thống thông tin nền tảng, như: Trục liên thông văn bản quốc gia, hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (E-Cabinet). Các bộ, cơ quan ngang bộ đang triển khai nâng cấp cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ. Một số bộ, như: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương đã hoàn thành và đang chạy thử nghiệm.

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản; điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 là dịch vụ đạt mức độ 3, đồng thời cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.

Các bộ, cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước đã triển khai gửi, nhận văn bản điện tử trên trục liên thông văn bản quốc gia. Từ ngày 12-3-2019 đến ngày 21-7-2019 đã có 68.257 văn bản gửi và 203.553 văn bản nhận; 62/95 bộ, cơ quan, địa phương đã hoàn thành việc nâng cấp phần mềm quản lý văn bản và điều hành; cung cấp 157.000 chứng thư số cho 86/93 bộ, ngành, địa phương và 314/431 lãnh đạo cấp bộ, cấp tỉnh; 85/95 cơ quan đã tích hợp chữ ký số chuyên dùng Chính phủ; 68/95 bộ, ngành, địa phương sử dụng máy chủ bảo mật riêng; 27/95 đơn vị đang sử dụng máy chủ dùng chung do Văn phòng Chính phủ cung cấp. Có 7 bộ, cơ quan ngang bộ đã hoàn thành việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo các ngân hàng, tổ chức tín dụng thúc đẩy thanh toán điện tử, không dùng tiền mặt trong dịch vụ công; xây dựng mô hình kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương nhằm đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thanh toán điện tử đối với các khoản phí, lệ phí dịch vụ công.

Ngay cả Bộ Quốc phòng hoạt động trong lĩnh vực rất đặc thù với yêu cầu bảo mật cao nhưng cũng đã tham gia rất tích cực vào việc xây dựng CPĐT, là một trong 7 bộ đã triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; tỷ lệ văn bản điện tử có chữ ký số gửi Văn phòng Chính phủ qua trục liên thông văn bản quốc gia từ ngày 12-3-2019 đến ngày 22-7-2019 đạt 22%. Thiếu tướng Tống Viết Trung, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 86 khẳng định, thời gian tới, Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục nâng cao tỷ lệ văn bản điện tử có chữ ký số.

Tuy vậy, đến nay, vẫn còn nhiều việc cần tiến hành gấp để thực hiện cho được kế hoạch, mục tiêu mà Chính phủ đề ra trong lộ trình xây dựng CPĐT. Theo Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Cao Lục: Một số bộ, cơ quan đến nay vẫn chưa ban hành quy chế tiếp nhận, xử lý và quản lý văn bản điện tử; chưa thực hiện đúng quy định về thể thức, hình thức ký số; vẫn còn tình trạng gửi văn bản điện tử ký số nhưng không đủ thành phần hồ sơ kèm theo, không được ký số hoặc không chuyển đúng địa chỉ gây khó khăn trong quá trình tiếp nhận, xử lý văn bản. Một số bộ, cơ quan chưa đáp ứng được yêu cầu trong xây dựng, nâng cấp cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử; chưa hoàn thành việc triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4…

Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn: Nhiều DN, sở, ngành chưa kết nối trục liên thông, nên các bộ vẫn phải gửi văn bản giấy. Giám đốc Trung tâm Thông tin (Bộ Xây dựng) Nguyễn Ngọc Quang cho biết: "Một số bộ, địa phương gửi văn bản điện tử nhưng không có chữ ký số của lãnh đạo, chỉ ghi chung chung như thứ trưởng đã ký. Bộ Xây dựng gửi văn bản điện tử trên trục liên thông văn bản quốc gia tới các địa phương, nhưng một số địa phương không khởi tạo trên trục liên thông và phản hồi là không nhận được. Vì thế, Bộ Xây dựng vừa phải gửi văn bản điện tử qua trục liên thông, vừa gửi qua email, đồng thời vẫn phải gửi bản giấy qua đường công văn truyền thống nên thành ra rườm rà hơn".

Phó cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) Đỗ Thái Hà cho hay, Chính phủ đang khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản thuộc thẩm quyền để việc vận hành nền tảng của CPĐT được trơn tru. Chính phủ đã ban hành nghị định, Bộ Nội vụ đã ban hành thông tư về mô hình một cửa của các bộ, cơ quan. Vì vậy, các bộ, cơ quan cần nghiên cứu kỹ lưỡng các văn bản này để việc triển khai thực hiện đạt hiệu quả; tích cực tham khảo kinh nghiệm của các bộ, ngành, địa phương đã triển khai thành công mô hình một cửa liên thông để tiết kiệm thời gian, chi phí.

Thời hạn Chính phủ đặt ra để các bộ, ngành phải thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 17/NQ-CP không còn nhiều. Có thể nói, CPĐT đã “gõ cửa” rất dồn dập tới từng bộ, ngành, địa phương. Chỉ có quyết tâm rất lớn với tinh thần ưu tiên cao nhất dành cho việc thực hiện nhiệm vụ này, các bộ, ngành, địa phương mới không bị trễ “chuyến tàu tốc hành 4.0" của cả nước. (Tuyengiao.vn 31/7) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.040.246 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này