Bản tin cải cách hành chính ngày 05/8/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. TP Hồ Chí Minh: Người dân hài lòng mới chi thu nhập tăng thêm - Bài 1: Thước đo chất lượng phục vụ của cán bộ

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Kiểm soát chi qua KBNN gắn với cải cách thủ tục hành chính: 6 giảm, 8 tự động, 4 hơn

4. Lựa chọn ngẫu nhiên doanh nghiệp khảo sát đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hải quan

5. Ngành y tế tiết kiệm 18.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Trách nhiệm người đứng đầu trong chống tham nhũng vặt

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Cải cách thủ tục hành chính nhìn từ xây dựng chế độ, chính sách làm việc tại bộ phận một cửa

8. Phải tỉnh táo khi nhận quà

9. Cán bộ “ngồi” nhầm chỗ: Không hiếm trường hợp “tưởng sai” nhưng lại làm rất tốt!

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Các cơ quan, đơn vị đã tổ chức 128 hội nghị tuyên truyền pháp luật về PCTN, cho khoảng 21.507 lượt người tham gia.

Theo báo cáo kết quả công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), từ đầu năm đến nay, công tác PCTN đã được UBND TP Hà Nội quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện kịp thời, tạo chuyển biến trên nhiều lĩnh vực.

Các cấp, các ngành đã tăng cường công khai, minh bạch, tập trung thực hiện cải cách hành chính nhất là cải cách thủ tục hành chính. Các cơ quan, đơn vị đã ban hành mới 125 quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn và thực hiện giám sát kiểm tra việc thực hiện.

Công tác tuyên truyền PCTN được thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Cụ thể, việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về PCTN các văn bản pháp luật mới ban hành của Trung ương và thành phố được triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú; mở các chuyên trang chuyên mục trên Cổng giao tiếp điện tử của thành phố và trang thông tin nội bộ của các đơn vị; tổ chức hội nghị tuyên truyền và làm chuyên đề về PCTN… phù hợp theo từng nhóm đối tượng, địa bàn.

Kết quả, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức 128 hội nghị tuyên truyền pháp luật về PCTN, cho khoảng 21.507 lượt người tham gia.

Từ nay đến cuối năm, UBND TP xác định sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế cơ chế, chính sách pháp luật trên các lĩnh vực, xóa bỏ tình trạng xin – cho, tập trung trong các lĩnh vực đầu tư xây dựng, quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, tín dụng ngân hàng, quản lý tài chính ngân sách, tài sản công, tổ chức cán bộ…

Đồng thời, tăng cường công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trong việc xây dựng chính sách pháp luật, quá trình chuẩn bị, trình ban hành các quyết định, văn bản hành chính cá biệt.

Cùng với đó, cải cách chế độ tiền lương, thực hiện chính sách tiền lương, đãi ngộ hợp lý với cán bộ, công chức, viên chức và trong một số lĩnh vực đặc thù; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về PCTN, đưa nội dung PCTN vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đào tạo.

Kế hoạch cũng nêu rõ sẽ xây dựng Quyết định quy định về minh bạch tài sản thu nhập thay thế Quyết định số 58/2013/QĐ-UBND về việc kê khai tài sản thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thành phố cho phù hợp với Luật PCTN mới.

Đồng thời, phát mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội ngành nghề, nhân dân, cơ quan báo chí truyền thông và mỗi cán bộ công chức viên chức trong PCTN. (Pháp Luật & Xã Hội 4/8, H.L) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP Hồ Chí Minh: Người dân hài lòng mới chi thu nhập tăng thêm - Bài 1: Thước đo chất lượng phục vụ của cán bộ

Thành phố Hồ Chí Minh đang xem xét ban hành quyết định mới về chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Dự kiến, quý III/2019, chính quyền thành phố sẽ chính thức triển khai được quyết định này. Theo đó, tiêu chí quyết định chi tăng thu nhập cho cán bộ chính là chỉ số hài lòng của người dân.

Theo ông Nguyễn Thiện Nhân - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM, việc chi thu nhập tăng thêm cần có sự cân nhắc rất thận trọng. Chúng ta cải cách hành chính tốt, mức độ hài lòng của người dân tăng thì mới có thể nhận thu nhập tăng thêm.

Việc ban hành quyết định mới về chi thu nhập tăng thêm của UBND TP HCM phải hoãn lại so với dự kiến. Lúc đầu, UBND TP dự định đưa vấn đề ra kỳ họp HĐND TP vào tháng 3/2018, nhưng 100% đại biểu đã chọn phương án tạm ngưng thông qua tờ trình về nội dung này để tiếp tục hoàn thiện. Thế nhưng, tại kỳ họp này cũng có đột phá trong Nghị quyết 03/2018 đã đề ra tiêu chí xếp loại cán bộ xuất sắc được tăng tối đa 0,6 lần mức chi hiện tại. Năm sau tăng lên 1,2 lần và gấp 1,8 lần vào năm 2020. Đến quý II năm nay, TP một lần nữa phải tạm dừng việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức để chờ áp dụng quy định mới.

Lý do được ông Nguyễn Thành Phong- Chủ tịch UBND TP HCM lý giải, TP cần thời gian cho việc đánh giá và ký quyết định mới, bởi vì bắt buộc phải dựa vào chỉ số hài lòng của người dân. Do đó trong quý II, việc thực hiện đánh giá chi thu nhập tăng thêm chưa được áp dụng, thay vào đó vẫn thực hiện theo quy định cũ (số 4631/QĐ-UBND). Cũng theo Chủ tịch UBND TP HCM, với các đánh giá mới thì tất cả các lãnh đạo, các đơn vị, địa phương phải hoàn thành xuất sắc khoảng 50% đầu việc và yêu cầu cần phải thực hiện kỹ lưỡng, nghiêm túc. Rút kinh nghiệm trước đó, công tác đánh giá từ lãnh đạo đến cán bộ công chức văn phòng đều đạt xuất sắc nhất nhưng không sát với công việc, nhiệm vụ được giao. Còn với cách đánh giá mới sẽ giúp đánh giá đúng người, đúng việc và xác thực hơn vì chỉ số đánh giá cán bộ, công chức sẽ dựa trên chỉ số đánh giá sự hài lòng của người dân.

Chỉ số này được Đảng bộ, chính quyền TP HCM thống nhất và đồng thuận rất cao. Theo ông Nguyễn Thiện Nhân- Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM, việc chi thu nhập tăng thêm cần có sự cân nhắc rất thận trọng. Chúng ta cải cách hành chính tốt, mức độ hài lòng của người dân tăng thì mới có thể nhận thu nhập tăng thêm. Ngoài việc đánh giá mức độ hài lòng, người dân còn biết hồ sơ mình đang nằm ở đâu, khâu nào? Từ đó, hàng tháng mới đánh giá được cán bộ, công chức. Đây cũng chính là cơ sở để trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ. Chung quy lại, tiêu chí bắt buộc là phải có sự hài lòng của người dân và đây được xem là thước đo chất lượng phục vụ của cán bộ. TP HCM phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ hài lòng của người dân tham gia vào đánh giá khi đến thực hiện thủ tục hành chính sẽ đạt được khoảng 80%.

Theo ông Trương Văn Lắm - Giám đốc Sở Nội vụ TP HCM, không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người dân, quyết định mới ban hành về việc chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức tới đây nhắm đến việc đánh giá hiệu quả công việc hằng quý của họ. Hiện nay, cơ chế để TP HCM vận hành toàn bộ máy để đạt các mục tiêu đề ra chính là đẩy mạnh cải cách hành chính. Và, ở nơi nào cải cách hành chính hiệu quả, cán bộ, công chức, viên chức phục vụ dân tốt mới xứng đáng nhận phần thu nhập tăng thêm này.

Theo dự kiến, TP HCM sẽ chi thu nhập tăng thêm cho khoảng 130.000 cán bộ, công chức (chưa kể cán bộ không chuyên trách ở các phường, xã, thị trấn), với số tiền dự kiến chi riêng năm 2019 vào khoảng hơn 7.200 tỷ đồng, lấy từ các khoản ngân sách dành cho cải cách tiền lương (năm trước chuyển sang năm sau); cải cách tiền lương trích lập từ nguồn thu được để lại hàng năm; nguồn từ đề xuất bằng cơ chế đặc thù; từ ngân sách cấp quận/huyện, thành phố.

Tuy nhiên, theo bà Thi Thị Tuyết Nhung, Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND TP HCM, dù cơ sở dựa vào Nghị quyết 03 của HĐND TP về chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức, nhưng cho đến nay diện hợp đồng Nghị định 68 chưa được Nghị quyết 54 điều chỉnh. Ngoài ra, vấn đề ở đây là mức chi thu nhập tăng thêm rất lớn, tiêu tốn ngân sách, do đó việc đánh giá vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức để hưởng thu nhập tăng thêm là hết sức quan trọng. Quá trình này đòi hỏi phải đảm bảo công bằng, công khai, đúng người, đúng việc, tránh tình trạng kiện cáo. Trong các trường hợp thì trách nhiệm nên thuộc về người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Căn cứ vào dự thảo quy định mới của Sở Nội vụ vừa trình UBND TP HCM, muốn đạt loại xuất sắc, cán bộ, công chức, nhân viên phải có 20% khối lượng công việc hoàn thành vượt thời gian quy định và có điểm số đạt từ 90 điểm trở lên (trước đây là 80 điểm). Thủ trưởng đơn vị nếu có điểm số cá nhân đạt 90 điểm trở lên cộng với đơn vị đạt tỷ lệ hài lòng 80% trở lên mới được loại tốt, 90% trở lên mới đạt xuất sắc. Đặc biệt thủ trưởng đơn vị đạt 100/100 điểm nhưng tỷ lệ hài lòng của cơ quan đơn vị phụ trách dưới 80% thì không được thu nhập tăng thêm.

Theo ông Lắm, các tiêu chí trên sẽ đánh giá được sát hơn, chặt chẽ hơn và đạt được mục tiêu gắn với sự hài lòng của người dân, tác động vào thời gian giải quyết công việc của cán bộ phải nhanh hơn.

Đối với người đứng đầu, quy định mới cũng gắn gắn trách nhiệm của họ. Cụ thể, nếu thủ trưởng đơn vị được đánh giá 100 điểm nhưng tỉ lệ hài lòng của cơ quan đơn vị chỉ đạt dưới 80% thì thủ trưởng/người đứng đầu đó cũng không được chi thu nhập tăng thêm. Do đó, muốn đủ điều kiện, bắt buộc thủ trưởng đơn vị phải có điểm số cá nhân đạt 90 điểm trở lên, cộng với đơn vị đạt tỉ lệ hài lòng của người dân là 80% trở lên (loại tốt) hoặc 90% trở lên mới (loại xuất sắc). (Đại Đoàn Kết 5/8, Thành Luân – Thanh Giang) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Kiểm soát chi qua KBNN gắn với cải cách thủ tục hành chính: 6 giảm, 8 tự động, 4 hơn

“Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước (KBNN) thời gian qua đã có nhiều bước tiến rõ rõ rệt được đúc kết bằng 6 giảm - 8 tự động - 4 hơn”, Phó Tổng giám đốc KBNN Nguyễn Quang Vinh chia sẻ mới đây tại buổi Họp báo Chuyên đề về công tác kiểm soát chi qua KBNN gắn với cải cách hành chính hiện đại hóa hoạt động KBNN.

Thời gian qua, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã tích cực triển khai cải cách hành chính trong công tác kiểm soát chi. Nhờ đó, bước đầu KBNN đã đạt được kết quả trong công tác kiểm soát chi thường xuyên và chi đầu tư.

Cụ thể, trong công tác kiểm soát chi thường xuyên, KBNN đã thực hiện việc kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước (NSNN) qua KBNN hướng tới thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao kỷ cương, kỷ luật tài chính tại các đơn vị và góp phần ngăn chặn tình trạng nợ đọng trong thanh toán.

Cùng với đó, hệ thống KBNN đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế, quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ, nội dung kiểm soát; gắn với việc phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản, KBNN và các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN.

Nhằm tiến tới kiểm soát chi theo giá trị, kiểm soát chi theo rủi ro, hệ thống KBNN đã thực hiện kiểm soát chi theo ngưỡng chi đối với các khoản chi nhỏ lẻ có giá trị từ 20 triệu đồng trở xuống; thực hiện việc kiểm soát theo phương thức khoán chi đối với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Mặt khác, KBNN đã triển khai thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của KBNN từ tháng 2/2018, góp phần hiện đại hóa công tác kiểm soát chi theo hướng hồ sơ, chứng từ của đơn vị được gửi đến KBNN qua dịch vụ công trực tuyến và được kiểm soát, kế toán, thanh toán trên các hệ thống liên thông tại KBNN, đảm bảo minh bạch về hồ sơ, chứng từ, nội dung kiểm soát.

Trong công tác kiểm soát chi đầu tư, đến nay, thủ tục kiểm soát thanh toán tại KBNN đã được cải cách, giảm bớt về số lượng hồ sơ, tài liệu do chủ đầu tư, ban quản lý dự án gửi đến KBNN như: Đơn vị không phải gửi đến KBNN văn bản thẩm định về nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của cơ quan kế hoạch và đầu tư, cơ quan tài chính; Văn bản thẩm tra phân bổ kế hoạch vốn đầu tư đối với các đự án thuộc UBND các cấp quản lý...

Điểm nhấn nổi bật của công tác kiểm soát chi đầu tư là thời gian kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư đã được rút ngắn hơn trước (từ 7 ngày xuống chỉ còn 3 ngày làm việc). KBNN cũng đã thực hiện việc kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc “thanh toán trước, kiểm soát sau” đối với hợp đồng thanh toán nhiều lần. Theo đó, KBNN các cấp hoàn thành thủ tục thanh toán cho chủ đầu tư chậm nhất là 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ theo quy định…

Đánh giá về kết quả công tác kiểm soát chi, Phó Tổng Giám đốc KBNN Nguyễn Quang Vinh cho biết, công tác kiểm soát chi của KBNN thời gian qua đã có nhiều bước tiến rõ rệt được đúc kết bằng “6 giảm, 8 tự động, 4 hơn”. Cụ thể, 6 giảm: Giảm hồ sơ; giảm giấy tờ; giảm thủ tục; giảm đầu mối (việc tiếp nhận hồ sơ, xử lý công việc chỉ do 1 người đảm nhiệm); giảm thời gian kiểm soát thanh toán (trước đây 7 ngày, rút xuống 4 ngày, nay chi thường xuyên chỉ còn 1 ngày); giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ kho bạc với khách hàng, tiến tới không tiếp xúc.

8 khâu được KBNN thực hiện tự động gồm: Tiếp nhận hồ sơ; kiểm soát; kế toán; thanh toán; trả kết quả; lưu trữ hồ sơ; báo cáo tự động; tự động đối chiếu.

Từ những cải cách trên, ông Vinh cho biết, KBNN đã thu được 4 hơn so với trước đây gồm: Công khai minh bạch hơn; chặt chẽ hơn; an toàn hơn; hiệu quả hơn.

Để thực hiện công tác kiểm soát chi NSNN đảm bảo chặt chẽ, kịp thời, đúng quy định của pháp luật hiện hành, trong những tháng đầu năm 2019, KBNN đã tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ trong công tác kiểm soát chi. Cụ thể:

Đối với kiểm soát chi thường xuyên NSNN, hệ thống KBNN thực hiện kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN theo đúng các điều kiện chi NSNN được quy định tại Điều 12 Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Trong đó, đảm bảo các khoản chi NSNN phải có dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đúng nội dung và mục đích theo quy định của pháp luật.

Đối với các khoản mua sắm máy móc trang thiết bị, mua sắm xe ô tô, KBNN chỉ đạo KBNN các tỉnh, thành phố thực hiện kiểm soát thanh toán theo đúng quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các nghị định của Chính phủ...

Trong công tác kiểm soát chi đầu tư, KBNN kiểm soát theo đúng quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn hiện hành về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN và các văn bản quy định pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, hệ thống KBNN thực hiện kiểm soát chi theo kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền giao hàng năm, phù hợp với kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn đối với tất cả các dự án được đầu tư từ nguồn vốn đầu tư công theo quy định tại Luật Đầu tư công.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp kiểm soát chi, KBNN đã đạt những kết quả bước đầu trong chi thường xuyên và chi đầu tư. Cụ thể: trong chi thường xuyên, tính đến ngày 15/5/2019, hệ thống KBNN đã thực hiện kiểm soát đạt hơn 289 nghìn tỷ đồng (bằng 27,8% dự toán chi thường xuyên của NSNN qua KBNN). Vốn thanh toán tính đến 31/5/2019, hệ thống KBNN thực hiện kiểm soát ước đạt 317.469 tỷ đồng, bằng 30,4% dự toán chi thường xuyên của NSNN qua KBNN (không bao gồm chi trả nợ, viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng).

Đáng chú ý, thông qua công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN, đến ngày 15/5/2019, các đơn vị trong hệ thống KBNN đã phát hiện khoảng 2.230 khoản chi chưa đủ thủ tục theo quy định, thông qua đó, từ chối thanh toán với số tiền khoảng 5,3 tỷ đồng.

Đối với chi đầu tư, tính đến ngày 15/5/2019, lũy kế vốn đầu tư giải ngân thuộc kế hoạch năm 2019 qua KBNN đạt hơn 72 nghìn tỷ đồng (bằng 20,3% kế hoạch năm 2019).

Kết quả giải ngân vốn đầu tư cho thấy, tỷ lệ giải là khá thấp. Lý giải nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, ông Vinh cho biết, về phía KBNN, đơn vị không gặp bất cứ khó khăn, vướng mắc gì, bởi hiện nay quy trình kiểm soát chi từ KBNN là rất rõ ràng.

“Hầu như những tháng đầu năm tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư thường đạt thấp. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó, việc giải ngân đang có bất cập cần phải chỉnh sửa từ Luật Đầu tư, Luật Xây dựng;Việc phân bổ nguồn vốn còn nhiều chậm trễ từ phía chủ đầu tư, nhà thầu. Ngoài ra, còn có vướng mắc từ Luật Đất đai liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng. Chính những điều đó khiến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm thường thấp”, ông Nguyễn Quang Vinh chia sẻ. (Tapchitaichinh.vn 4/8, Minh Hà)  Về đầu trang

Lựa chọn ngẫu nhiên doanh nghiệp khảo sát đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hải quan

Tổng cục Hải quan sẽ tổ chức khảo sát đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan năm 2019.

Nội dung khảo sát đánh giá gồm: Chi phí chính thức là chi phí bằng tiền thực tế bạn bỏ ra để thực hiện thủ tục, chi phí này có chứng từ và được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của DN. Chi phí không chính thức là chi phí không có chứng từ, không theo quy định và không tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của DN.

Trên thực tế, vấn đề chi phí trong quá trình là thủ tục hải quan không chỉ được cơ quản quản lý nhà nước, trong đó có cơ quan Hải quan mà DN cũng đặc biệt quan tâm. Điều này thể hiện sự hài lòng của DN khi tiếp xúc với cơ quan công quyền.

Trong khảo sát mức độ hài lòng của DN về việc thực hiện thủ tục hành chính XNK năm 2018 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổng cục Hải quan và Dự án USAID thực hiện đã dành một phần để tìm hiểu tình hình trả chi phí ngoài quy định của DN trong quá trình thực hiện thủ tục XNK (đây là đánh giá chung cho toàn bộ chuỗi các hoạt động trong quá trình XNK của DN). Về kết quả nhận được, DN có phản ánh về vấn đề chi phí ngoài quy định trong quá trình thực hiện thủ tục XNK.

Trong số hơn 2.800 DN cung cấp thông tin cho nội dung trên có 56% DN cho biết không chi trả chi phí ngoài quy định, 26 DN chọn phương án “không biết”, có 18% DN thừa nhận là có chi trả chi phí ngoài quy định. Trong số DN cung cấp thông tin về câu hỏi liệu có chi trả chi phí ngoài quy định khi thực hiện thủ tục hải quan, có 497 DN cho biết có chi trả loại chi phí này khi thực hiện các thủ tục hải quan, chiếm tỉ lệ 18%, có 212 DN cho biết có chi trả chi phí ngoài quy định khi thực hiện thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành.

Về nội dung hỏi, khả năng bị phân biệt đối xử nếu không chi trả chi phí ngoài quy định hay không? Câu trả lời có 52% DN cho biết không bị phân biệt đối xử nếu không chi trả chi phí ngoài quy định, có 34% DN không biết có bị phân biệt đối xử hay không, chỉ có 15% DN cho rằng sẽ bị phân biệt đối xử nếu không trả chi phí ngoài quy định khi thực hiện các thủ tục XNK (trong khi năm 2015 là 31% DN bị phân biệt đối xử nếu không chi trả chi phí ngoài quy định khi thực hiện thủ tục hải quan).

Việc phải trả chi phí không chức thức ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hài lòng chung của DN với thủ tục tại cơ quan Hải quan. Các DN được khảo sát cho biết phải trả chi phí ngoài quy định có mức độ hài lòng thấp hơn rõ rệt so với số DN còn lại.

Với mong muốn thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính theo chủ trương của Chính phủ để giảm chi phí cho cộng đồng DN, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, cơ quan Hải quan tiến hành đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan từ phía DN. Việc đánh giá được thực hiện đối với các thủ tục hải quan (ở cấp Tổng cục, cục, chi cục) kể từ đầu năm 2019 đến thời điểm khảo sát.

Để triển khai Tổng cục Hải quan đã có văn bản chỉ đạo cục hải quan các tỉnh, thành phố triển khai tới cộng đồng DN. Phạm vi khảo sát được thực hiện đối với các thủ tục hải quan được DN thực hiện tại các cục hải quan từ ngày 1/1/2019 đến 31/7/2019. Để minh bạch quá trình khảo sát, đối với mỗi thủ tục, Tổng cục Hải quan yêu cầu có ít nhất 30 DN (đã thực hiện thủ tục) tham gia đánh giá. Các DN được lựa chọn ngẫu nhiên trong danh sách DN đến làm thủ tục tại Cục, chi cục (trường hợp số DN đến làm thủ tục ít hơn 30 DN đối với mỗi thủ tục cơ quan Hải quan sẽ khảo sát toàn bộ DN đến làm thủ tục); trường hợp tỷ lệ DN trả lời khảo sát dưới 50% cơ quan Hải quan sẽ mở rộng số lượng DN tham gia đánh giá trong danh sách DN đến làm thủ tục tại đơn vị chưa được mời tham gia khảo sát.

Chi phí tuân thủ thủ tục hải quan được Tổng cục Hải quan khảo sát dưới các nội dung: Chi phí chính thức là chi phí bằng tiền thực tế bạn bỏ ra để thực hiện thủ tục, chi phí này có chứng từ và được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của DN. Chi phí không chính thức là chi phí không có chứng từ, không theo quy định và không tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ của DN.

Cụ thể, phiếu khảo sát của sẽ tập trung vào các nội dung thời gian và chi phí khi: Tìm hiểu thủ tục (để hoàn thành thủ tục DN có mất thời gian và chi phí để tìm hiểu thủ tục không; thời gian và chi phí DN phải trả để tìm hiểu về thủ tục (nếu có); Chuẩn bị hồ sơ (thời gian và chi phí để chuẩn bị hồ sơ đối với thủ tục của cơ quan Hải quan; thời gian và chi phí chuẩn bị hồ sơ đối với thủ tục quản lý chuyên ngành (nếu có)…); Nộp hồ sơ; Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ; Nhận kết quả hồ sơ.

Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan cũng dành một phần nội dung quan trọng để khảo sát DN về chi phí không chính thức. Theo đó nội dung được khảo sát tập trung vào câu hỏi: Chi phí không chính thức thường phải trả ở khâu nào trong quá trình làm thủ tục hải quan; những công ty tương tự trong ngành có phải trả chi phí không chính thức trong quá trình thực hiện thủ tục này không; đề xuất của DN để cắt bỏ chi phí không chính thức.

Ngoài ra, cơ quan Hải quan cũng khảo sát về vấn đề chi phí rủi ro pháp lý của DN như: DN có phải trả những chi phí tăng thêm, thiệt hại hoặc mất cơ hội kinh doanh mà DN phải gánh chịu do chất lượng kém của quy định pháp luật dẫn đến bị xử phạt hoặc chậm trễ trong giải quyết thủ tục; mức độ trả những chi phí như thế nào?...

Theo Tổng cục Hải quan, kết quả đánh giá sẽ góp phần giúp cơ quan Hải quan nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để tiếp tục cải cách thủ tục hải quan, cắt giảm chi phí tuân thủ đối với cộng đồng DN, đồng thời nâng cao tính liêm chính, minh bạch trong môi trường thông quan. (Hải Quan 4/8, Ngọc Linh) Về đầu trang

Ngành y tế tiết kiệm 18.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước

Ngành y tế đã tinh giản khoảng 35.000 biên chế và tiết kiệm tiền cho ngân sách nhà nước thông qua việc sáp nhập, tinh gọn bộ máy và tự chủ tài chính tại các bệnh viện.

Dự kiến, đến năm 2020, ngành y tế sẽ giảm 10% biên chế. Việc tinh giản biên chế được tính toán để không mang tính cơ học và không ảnh hưởng tới công tác chăm sóc sức khỏe người dân.

Vĩnh Phúc là một trong 6 địa phương đi đầu cả nước về tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế trong ngành y tế. 200 cán bộ, nhân viên không đủ năng lực, chuyên môn đã nghỉ chế độ hoặc chuyển công tác khác.

2.300/4.000 cán bộ y tế tại Vĩnh Phúc không hưởng lương từ ngân sách, với số tiền là 230 tỷ đồng, qua việc tự chủ tài chính.

Đại diện sở y tế Vĩnh Phúc cũng khẳng định, việc sáp nhập Trung tâm kiểm soát dịch bệnh và Trung tâm y tế đa chức năng đã giảm được các đầu mối lãnh đạo và giải quyết được tình trạng thiếu nguồn nhân lực bác sỹ tại địa phương.

Đến thời điểm này đã có 53/63 tỉnh, thành phố thực hiện sáp nhập và tinh gọn bộ máy. Toàn ngành y tế đã tinh giản được 35.000 cán bộ, nhân viên và tiết kiệm được 18.000 tỷ đồng tiền ngân sách nhà nước cho việc trả lương.

Chỉ riêng 4 bệnh viện được Thủ tướng cho thực hiện thí điểm tự chủ toàn diện là Bạch Mai, Chợ Rẫy, K và Việt Đức, số tiền chi trả lương đã hơn 1.100 tỷ đồng. Khoản kinh phí này sẽ dành để hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách. (VTVNews 4/8, Kim Xuân) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Trách nhiệm người đứng đầu trong chống tham nhũng vặt

Tham nhũng vặt rất nguy hại nhưng ít được phát hiện. Có những địa phương trong nửa năm không phát hiện được vụ tham nhũng vặt nào. Trao đổi với PV báo Đại Đoàn Kết, ông Đỗ Đức Hồng Hà - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho rằng, tham nhũng vặt chưa được phát hiện, nghiêm trị kịp thời một phần là do các cấp lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan chưa quan tâm đúng mức, nhất là chưa tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ của mình do nể nang và vì thành tích.

PV: Thưa ông, tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và Hội nghị chuyên đề “Tham nhũng vặt - nhận diện và giải pháp phòng chống” của Cụm thi đua số 1 do Ban Nội chính Trung ương tổ chức, với sự tham dự của 14 tỉnh phía Bắc, một thông tin được công bố là trong 6 tháng có “những địa phương không phát hiện được tham nhũng vặt”. Tham nhũng vặt đang được coi là nguy hại nhưng thông tin trên lại cho thấy rất ít trường hợp được phát hiện. Ông có suy nghĩ gì về vấn đề này?

Ông Đỗ Đức Hồng Hà: Tham nhũng vặt  rất nguy hại nhưng ít được phát hiện, nguyên nhân của tình trạng này theo tôi có mấy nguyên nhân. Thứ nhất, việc quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết ở nhiều nơi chưa nghiêm. Chưa có giải pháp đủ mạnh để ngăn chặn hành vi tham nhũng, một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí còn hình thức, chậm tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện, làm giảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN), lãng phí. Cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực PCTN còn bất cập, chưa có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn sự tác động không đúng vào quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tham nhũng, lãng phí. Thực thi pháp luật về PCTN, lãng phí còn chưa nghiêm. Năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác PCTN chưa đáp ứng yêu cầu.

Thứ hai, tham nhũng nói chung và tham nhũng vặt nói riêng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Vì tham nhũng nói chung, tham nhũng vặt nói riêng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn - những người có hiểu biết, có quan hệ, có quyền lực nên việc phát hiện, xử lý tham nhũng vặt do họ thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn. Đáng lưu ý, đã xảy ra các vụ tiêu cực, tham nhũng nghiêm trọng trong một số cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có những vụ liên quan đến cả cán bộ lãnh đạo, sỹ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang; nhiều trường hợp bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực gây bức xúc trong dư luận.

Thứ ba, việc thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở một số nơi chưa tốt. Chưa kiểm soát được thực chất tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn. Chưa có giải pháp hữu hiệu để phòng, chống “nhóm lợi ích”, “doanh nghiệp sân sau”.

Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng tham nhũng vặt chưa được nghiêm trị là do người đứng đầu các cơ quan chưa quan tâm đúng mức, nhất là tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ của mình. Vậy phải chăng còn sự nể nang, hay vì thành tích của cơ quan, đơn vị, địa phương?

Tham nhũng vặt chưa được phát hiện, nghiêm trị kịp thời một phần là do các cấp lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan chưa quan tâm đúng mức, nhất là chưa tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ của mình do nể nang và vì thành tích. Không ít cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa thực sự gương mẫu, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác PCTN, lãng phí. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống.

Giữa quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và hành động thực tiễn của không ít cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức còn khoảng cách, nói chưa đi đôi với làm. Một số cơ quan, đơn vị thực thi pháp luật chưa nghiêm, kỷ cương, kỷ luật còn bị buông lỏng. Một số cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc mức độ nghiêm trọng của tình hình tham nhũng ở địa phương, lĩnh vực mình quản lý, chưa thực sự gương mẫu trong chống tham nhũng nên dẫn đến tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên chuyển, dưới chưa chuyển”.

Khi thẩm tra Báo cáo PCTN của Chính phủ, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cũng đã từng chỉ ra tham nhũng vặt đang là sự bức xúc của người dân, qua đó đã đề nghị Chính phủ cần vào cuộc để ngăn chặn. Ông có đánh giá như thế nào về sự vào cuộc này?

Sau khi Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chỉ ra tham nhũng vặt đang là sự bức xúc của người dân và đề nghị Chính phủ vào cuộc, tôi cho rằng Chính phủ đã khẩn trương, quyết tâm, quyết liệt PCTN vặt. Đơn cử như Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, xây dựng cơ chế giám sát, phát hiện vi phạm, tiếp tục chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, nhất là thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Hay mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTG về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Qua đó Thủ tướng đã đề nghị UBTƯ MTTQ Việt Nam, các tổ chức đoàn thể ở Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường các biện pháp tuyên truyền sâu rộng về chính sách, pháp luật. Hướng dẫn, khuyến khích người dân, doanh nghiệp sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, thực hành liêm chính, không tiếp tay với tiêu cực, tham nhũng, kiên quyết không đưa, không môi giới hối lộ, tích cực, chủ động tham gia phát hiện các biểu hiện, các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Để ngăn chặn tham nhũng “vặt”, theo ông chúng ta cần chú trọng đến những giải pháp nào?

Để ngăn chặn tham nhũng “vặt”, theo tôi chúng ta cần tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN. Trước hết người đứng đầu các cơ quan đơn vị phải đề cao trách nhiệm nêu gương, gương mẫu thực hiện và tăng cường trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao. Xử lý nghiêm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị thiếu trách nhiệm, để cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý trực tiếp có hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với người dân, doanh nghiệp.

Mặt khác, cần thực hiện cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đổi mới công nghệ quản lý. Nhận diện nguy cơ tham nhũng theo vị trí việc làm để có biện pháp kiểm tra, giám sát. Rà soát thủ tục hành chính theo hướng tinh giản, loại bỏ ngay các thủ tục không cần thiết, rườm rà, khó thực hiện, rút ngắn thời gian, đưa ra lộ trình giải quyết. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, thủ tục hành chính theo quy định, không được yêu cầu doanh nghiệp, người dân bổ sung hồ sơ, tài liệu quá 1 lần.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc thực hiện đánh giá sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức cung cấp dịch vụ công. Coi đó là thước đo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Chú trọng việc giám sát thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và những việc không được làm của người có chức vụ, quyền hạn; thực hiện phương châm: Kỷ cương, liêm chính, hành động, phục vụ. Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, xây dựng cơ chế giám sát, phát hiện vi phạm. Tiếp tục chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, nhất là thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, khắc phục tình trạng chồng chéo, gây phiền hà, sách nhiễu trong hoạt động thanh tra, kiểm tra.

Trân trọng cảm ơn ông! (Đại Đoàn Kết 5/8, H. Vũ) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cải cách thủ tục hành chính nhìn từ xây dựng chế độ, chính sách làm việc tại bộ phận một cửa

Việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số hạn chế như còn quá hạn giải quyết một số thủ tục trong lĩnh vực đất đai, xây dựng chưa minh bạch…  

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do cơ chế, chính sách hỗ trợ người trực tiếp làm việc tại bộ phận một cửa chưa đủ để tạo động lực và yên tâm làm việc… Bài viết đánh giá thực trạng công việc tại bộ phận một cửa và đề xuất một số giải pháp về chế độ, chính sách phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính…

Theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/04/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính: Bộ phận một cửa là tên gọi chung của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) hoặc trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa là những người được các sở, ban, ngành cử ra làm việc tại bộ phận một cửa phải đảm bảo đầy đủ những tiêu chuẩn chung về phẩm chất đạo đức công vụ theo quy định của pháp luật như: đã được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên; có thâm niên công tác tối thiểu 03 năm trong ngành, lĩnh vực được phân công; được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ...

Thực hiện quy trình, tiếp nhận, chuyển giao, trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có); Hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ yêu cầu giải quyết TTHC của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành; Chuyển giao hồ sơ TTHC của tổ chức, cá nhân đến các phòng chuyên môn và thực hiện việc trả kết quả cho tổ chức, cá nhân; Hướng dẫn và phối hợp thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định; Lưu trữ hồ sơ, tài liệu, thông tin theo quy định của pháp luật và bằng công nghệ thông tin theo quy định; Theo dõi, đôn đốc việc giải quyết TTHC; Quản lý, sử dụng một số loại sổ sách, biểu thống kê theo quy định.

Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hành chính; Hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện TTHC đầy đủ, rõ ràng, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ  phải bổ sung hồ sơ một lần; Tiếp nhận hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức theo quy định; Chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến cải tiến việc thực hiện TTHC, kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về  TTHC không khả thi, hoặc không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; Mặc đồng phục hoặc trang phục ngành theo quy định; Đeo Thẻ công chức, viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ; Sinh hoạt chuyên môn, đảng, đoàn thể, bình xét thi đua, khen thưởng, kỷ luật tại cơ quan đã cử đến bộ phận một cửa; Thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan.

Được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, công nghệ thông tin và văn hóa ứng xử, giao tiếp với tổ chức, cá nhân; Được tham gia các khóa học lý luận chính trị, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học và các lĩnh vực khác ở trong nước, nước ngoài theo quy định của pháp luật; Được nghỉ bù (nếu làm việc thêm giờ, làm vào ngày nghỉ lễ, thứ Bảy, Chủ nhật); Nhận lương, phụ cấp, bồi dưỡng và chế độ, chính sách khác (nếu có) tại cơ quan đã cử đến bộ phận một cửa.

Thời gian làm việc của cán bộ, công chức, viên chức được cử đến bộ phận một cửa không ít hơn 06 tháng và không nhiều hơn 24 tháng (trừ các trường hợp nghỉ phép, nghỉ bù, nghỉ ốm, nghỉ việc riêng, đi học, đi công tác hoặc không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có mức độ hài lòng thấp).

Tính đến hết năm 2018, hầu hết các tỉnh/thành trong cả nước đã thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công theo mô hình của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP với phương châm làm việc “chuyên nghiệp – thân thiện – trách nhiệm”. Theo mô hình Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, số lượng cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa là tương đương với số lượng các sở, ngành làm việc tại Trung tâm, bao gồm cả các cơ quan ngành dọc.

Chế độ hỗ trợ đối với công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt đối với chính sách cải cách TTHC, làm cho cán bộ làm việc tại bộ phận một cửa có động lực làm việc, năng suất hiệu quả cao, từ đó làm cho việc giải quyết TTHC của người dân, tổ chức, doanh nghiệp thuận tiện, nhanh chóng, giảm các chi phí liên quan…

Đánh giá được vai trò, vị trí của bộ phận một cửa, dựa trên cơ sở mức chi theo Thông tư số 172/2012/TT-BTC ngày 22/10/2012 của Bộ Tài chính quy định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí, đảm bảo công tác cải cách hành chính, các tỉnh đều quan tâm, thực hiện theo đúng quy định. Riêng một số tỉnh như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Đà Nẵng có mức chi cao hơn.

Phân tích cho thấy, số lượng TTHC trong cơ quan Nhà nước là khá nhiều, bao gồm tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi cán bộ tại bộ phận một cửa, trong quá trình tiếp nhận hồ sơ phải có kiến thức tổng hợp về tất cả các lĩnh vực quản lý; công chức, viên chức làm việc tại phòng chuyên môn  lại chỉ cần nắm các kiến thức thuộc lĩnh vực công tác.

Thống kê cho thấy, số lượng hồ sơ phải giải quyết của các sở ngành, phận một cửa là rất lớn. Ngoài ra, với việc bổ sung các dịch vụ công các ngành lĩnh vực thuộc các sở, ngành dọc vào cung cấp tại bộ phận một cửa, cộng với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết TTHC, thực hiện hệ thống giám sát camera, ghi nhận các phản ánh kiến nghị của người dân qua hệ thống tổng đài dịch vụ công… đã dẫn đến những áp lực công việc khi làm tại vị trị một cửa.

Những người làm việc tại vị trí một cửa của các cấp chịu áp lực của công việc rất lớn. Vị trí một cửa là đầu mối duy nhất tiếp nhận hồ sơ của công dân, tổ chức, cá nhân và trả kết quả giải quyết TTHC.

Từ thực tế này, tác giả đề xuất một số giải pháp sau: Thứ nhất, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức làm việc tại bộ phận một cửa để nâng cao chất lượng giải quyết các TTHC. Trong đó, tập trung bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn, nhất là những trường hợp được bố trí tiếp nhận thêm hồ sơ ở các lĩnh vực khác với chuyên môn nghiệp vụ hiện đang đảm nhiệm. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng như tập trung; Tổ chức các chuyến thăm quan, học hỏi kinh nghiệm các đơn vị có bộ phận một cửa thực hiện theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tốt để công chức, viên chức có cơ hội học hỏi kinh nghiệm thực tế.

Thứ hai, các sở ngành, cơ quan ngành dọc phải dựa trên chức năng, nhiệm vụ, số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị mình, để từ đó bố trí cán bộ, công chức, viên chức làm tại vị trí bộ phận một cửa; Rà soát đội ngũ công chức làm việc tại bộ phận một cửa nhằm mục đích bố trí đúng quy định và đúng năng lực; Phải xác định rõ, ai là người trực chính, ai là người trực phụ, từ đó sẽ có cơ sở để chi trả mức hỗ trợ chính xác với trách nhiệm công việc.

Thứ ba, xây dựng mức hỗ trợ hoàn chỉnh, lấy năng suất lao động làm căn cứ, có thể áp dụng theo mức giao dịch số hồ sơ của các sở ngành.

Thứ tư, hoàn thiện vị trí việc làm tại bộ phận một cửa, coi đó là một vị trí quan trọng trong chuỗi giải quyết TTHC. Từ đó, các cơ quan, đơn vị xây dựng và thực hiện các cơ chế như: Luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm nhằm khuyến khích, động viên đối với công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ năm, thực hiện giải pháp tài chính, ngân sách nhằm tìm nguồn hợp lý cho chi hỗ trợ công chức, viên chức làm việc tại bộ phận một cửa. Các địa phương cần phải phân bổ thu, chi hợp lý và phải xác định đây là một mục chi quan trọng, mang tầm chiến lược cho công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách TTHC nói riêng.  (Tapchitaichinh.vn 4/8, ThS. Nguyễn Thị Diệu) Về đầu trang

Phải tỉnh táo khi nhận quà

Từ ngày 15-8, Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ có hiệu lực. Liên quan tới nội dung này, Báo SGGP có cuộc trao đổi với ông Lê Quang Thưởng, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

Từ ngày 15-8, Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ có hiệu lực. Từ thời điểm trên, quy định tặng quà và nhận quà tặng sẽ được áp dụng với các tổ chức, cơ quan, người có chức vụ, quyền hạn. Trong đó, việc nhận quà không đúng quy định phải từ chối quà tặng và nộp lại quà, đồng thời báo cáo cơ quan, cấp trên biết việc đó. Đây được xem là “chế tài” cụ thể để hạn chế nhũng nhiễu, tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn. Liên quan tới nội dung này, Báo SGGP có cuộc trao đổi với ông Lê Quang Thưởng, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

PHÓNG VIÊN: Thưa ông, văn hóa quà tặng ở Việt Nam không phải bây giờ mới có và việc tặng quà nhiều khi để thể hiện lòng biết ơn, lời cảm ơn nhau. Nhưng trong kinh tế thị trường, văn hóa quà tặng đang bị biến tướng để trở thành công cụ lót tay, tiến thân. Việc có quy định trả lại quà tặng nên hiểu như thế nào?

Ông LÊ QUANG THƯỞNG: Có 2 loại quà, một loại có tính chất vụ lợi, đó là những người đi tặng quà và người được tặng quà muốn thực hiện mục đích cá nhân nào đó. Ví dụ như được nhận dự án, được lên chức, được miễn trách nhiệm hình sự, hành chính… Như vậy là chạy chọt. Nguyên tắc thì người nhận quà phải từ chối. Nhưng nếu nhận ở mức nhẹ thì không sao, như một chai rượu, một túi hoa quả là bình thường, nhưng trong đó có cả ngàn đô la là vi phạm.

Thời tôi còn làm việc cũng đã rơi vào tình huống đó. Có một đồng chí chức trưởng phòng của một cơ quan nhà nước, muốn lên phó tổng giám đốc đã “chạy” tôi đã thông qua một người quen biết tôi đưa tới nhà giới thiệu và đưa 1.000 USD, nhưng tôi trả lại. Sau đó họp giao ban của Ban Bí thư, tôi có chia sẻ câu chuyện này và dứt khoát đồng chí đó không được đề bạt.

Qua câu chuyện ông vừa nêu, rõ ràng chủ trương nộp lại quà tặng đã hạn chế “cửa” chạy chức, chạy quyền, hạn chế tham nhũng trong bộ máy?

Đúng vậy, làm hạn chế tiền bạc, vật chất để đi hối lộ. Là người cán bộ phải kiên quyết đấu tranh tệ nạn này, phải kiên quyết từ chối, phải trả lại. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận, với những trường hợp thân quen, tặng quà nhau nhẹ nhàng thì không vấn đề gì. Quà cáp là chuyện văn hóa lâu đời, lịch sử đều có câu chuyện này, chỉ khác là mức độ. Nhưng nếu là quà có mưu đồ thì phải kiên quyết không nhận. Còn thân tình thì có thể thông cảm.

Vậy, với ông việc từ chối nhận quà có khó không?

Nói khó thì không khó, nhưng dễ cũng không dễ. Người tặng mình không được thì tặng theo đường khác, tặng mình không được thì tặng vợ mình, con mình. Đó là điều phức tạp, vì vấn đề lợi ích rất gay gắt. Quan trọng là người lãnh đạo phải gương mẫu, trong sáng, răn đe vợ con mình. Nếu vợ con nghiêm túc thì không có chuyện gì.

Quy định nộp lại quà là đúng, nhưng chúng ta có cơ chế nào để giám sát quà đã được nộp như thế nào, có đầy đủ không, có khách quan không?

Tôi nghĩ người được tặng quà mà nộp lại, tức là đã có báo cáo với cấp trên, với cơ quan thì cơ quan đó có trách nhiệm theo dõi, theo dõi để xem vấn đề có tiếp diễn như thế nào. Nếu quà nhận là tiền thì phải có biên lai nộp tiền rõ ràng. Nếu không có biên lai phải cáo miệng cho lãnh đạo biết việc đó.

Theo ông, việc tặng và nhận quà có được xem là hình thức đưa và nhận hối lộ không?

Như tôi đã nói, phải xác định được quà đó là mục đích gì, vụ lợi hay thân tình. Nếu là anh em, bạn bè với nhau, một người có chức vụ và người kia có kinh tế đến thăm nhau, tặng quà nhau là chuyện bình thường. Còn giữa hai người không thân tình mà tìm đến đưa quà thì rõ đã bộc lộ mưu cầu, lúc đó người cán bộ phải tỉnh táo, phải cảnh giác với những vấn đề chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy khuyết điểm. Thông thường là vậy, nhưng hiện nay có tình trạng doanh nghiệp rất nhiều tiền để chạy dự án, muốn có được các dự án tốt dứt khoát phải chạy. Và những người cán bộ tham lam thì người dân biết hết. Một ngày mà có nhiều xe lạ ra vào nhà riêng của cán bộ thì người dân có thể đặt dấu hỏi và báo cáo với phường.

Ông có đồng ý với suy nghĩ  “trả lại quà tặng ở mức độ nào là do sự trong sáng của người cán bộ”?

Điều đó là đúng, nhưng vấn đề này rất khó; khó vì phải phân biệt được đâu là quà chạy chọt và đâu là tình nghĩa. Quan trọng nhất người thủ trưởng phải trong sáng, còn trong sáng hay không thì cơ quan và người dân sẽ biết, chắc chắn sẽ biết. Việc nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ có nhiều cách, như học tập, phổ biến các chủ trương, nghị quyết, quy định để mọi người biết, phát động tinh thần dân chủ trong cơ quan để cán bộ giám sát, công đoàn phải giám sát; người dân ở nơi cư trú giám sát. Tất cả điều đó để làm vấn đề minh bạch hơn.

Có cách nào chống “tham nhũng” giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các quan hệ xã hội với nhau, thưa ông?

Trước hết người cán bộ, người thủ trưởng phải gương mẫu. Còn về pháp lý, chúng ta có Luật Công chức, viên chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Chính quyền địa phương; Luật Hành chính công. Các luật đó đã đưa ra các giải pháp cụ thể chống tham nhũng. Vấn đề là chúng ta phải làm nghiêm túc theo luật, còn lách luật thì tôi không nói.

Quy định thì nhiều, còn thực hiện ra sao thì quan trọng nhất bản thân cán bộ phải gương mẫu; các tổ chức có liên quan phải giám sát; đồng thời phát động nhân dân nơi cư trú có thêm ý kiến. Tôi vẫn nói việc tham nhũng và chống tham nhũng là vấn đề phổ biến trên thế giới.

Vậy kinh nghiệm từ các nước có thể áp dụng với Việt Nam trong công tác phòng chống  tham nhũng như thế nào, thưa ông?

Ở Việt Nam, giao dịch vẫn dùng tiền mặt là chính, tài khoản chỉ ở cơ quan giao dịch vì lợi ích công. Muốn phòng chống tham nhũng thì phải kiểm soát chi tiêu qua tài khoản, từ đó mới có thể theo dõi được biến động của dòng tiền, những bất thường trong tài khoản của từng người, từ đó có thể phát hiện được dấu hiệu tham nhũng. Đó là biện pháp cơ bản chống tham nhũng, bởi bản chất tham nhũng là tiền bạc, thông qua ngân khố, tài khoản.

Trở lại câu chuyện nộp lại quà theo quy định, theo ông, nên ứng xử như thế nào về quà nộp để người nhận và người tặng cảm thấy nhẹ nhàng?

Quan điểm của tôi nên trả lại quà cho người tặng để khỏi bẽ mặt với người đưa quà, đó là cách tế nhị và văn minh. Còn việc vẫn nhận quà và trả lại quà cho cơ quan, đó là “cực chẳng đã”, là hãn hữu. Nhưng nộp bất kỳ quà gì giá trị thì phải có xác nhận và có hóa đơn. Còn việc bắt người nhận quà phải khai ra quan hệ với người tặng quà thì cũng phức tạp, không hay ho gì. Khi đã nộp lại quà thì trách nhiệm việc đó là cơ quan làm.

Xin cảm ơn ông! (Sài Gòn Giải Phóng 5/8, Đỗ Trung) Về đầu trang

Cán bộ “ngồi” nhầm chỗ: Không hiếm trường hợp “tưởng sai” nhưng lại làm rất tốt!

"Người ta vẫn hay dùng cụm từ “ngồi nhầm chỗ” để nói về những người được tuyển dụng, được bổ nhiệm vào vị trí nhưng không có năng lực, phẩm chất thực hiện, đảm nhiệm vị trí đó, chứ không phải để chỉ việc phân công cán bộ không đúng ngành, nghề được đào tạo mà vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ"... Đây là chia sẻ của GS Nguyễn Minh Thuyết xung quanh câu chuyện cán bộ "ngồi nhầm chỗ".

Theo GS Nguyễn Minh Thuyết, hiện có rất nhiều trường hợp cán bộ bổ nhiệm, tuyển dụng không hợp lý. Nguyên nhân do người giữ vai trò tuyển dụng không hiểu, không đánh giá đúng người được bổ nhiệm, tuyển dụng. Trong đó, không loại trừ những trường hợp tuyển dụng, bổ nhiệm không đúng là do tiêu cực.

“Những chuyện này ai cũng biết. Bởi nếu như mình tuyển dụng đúng, tất cả mọi người ở các vị trí đều phát huy được tối đa năng lực, làm hết sức mình thì có lẽ đất nước mình đã phát triển hơn nhiều”, GS Nguyễn Minh Thuyết nói.

Ông cũng nhấn mạnh rằng, người ta vẫn hay dùng cụm từ “ngồi nhầm chỗ” để nói về những người được tuyển dụng, được bổ nhiệm vào vị trí nhưng không có năng lực, phẩm chất thực hiện, đảm nhiệm vị trí đó chứ không phải để chỉ việc phân công cán bộ không đúng ngành, nghề được đào tạo mà vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Bởi vì theo GS Thuyết, tùy từng trường hợp cụ thể. Có người được bổ nhiệm đúng ngành nghề đào tạo nhưng nếu bố trí vào vị trí quản lý chưa chắc họ đã làm được quản lý. Vì năng lực của họ làm chuyên môn tốt hơn. Do đó, mới xảy ra tình huống bổ nhiệm người có năng lực chuyên môn nhưng “hạn chế” năng lực quản lý thì dù có đúng nghề cũng không phù hợp.

Ngược lại có những người vốn được đào tạo chuyên môn khác nhưng qua quá trình công tác, họ tích lũy được kinh nghiệm, họ nhiệt huyết, sáng tạo, có đầu óc phù hợp với quản lý thì khi sắp xếp họ vào vị trí “tưởng như nhầm” song thực tế họ lại làm rất tốt.

“Thực tế có rất nhiều trường hợp như thế. Có rất nhiều người học một ngành, sau làm quản lý ở ngành khác mà vẫn thành công, có nhiều thành tựu. Đó là chuyện bình thường. Như thế chúng ta không thể gọi đó là 'ngồi nhầm chỗ được'”, GS Thuyết phân tích.

GS Thuyết viện dẫn: “Kể cả có những người quan chức cao, dù không được học đúng chuyên môn nhưng am hiểu từ thực tế cộng với đầu óc thông minh, lanh lợi, có nhiều sáng kiến hay và đúng thực tế, vì cái chung họ vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại cũ (nay là Bộ Công Thương) Trương Đình Tuyển, là thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ là ví dụ điển hình. Ông vốn là kỹ sư cơ khí, sau đó ông chuyển sang lĩnh vực thương nghiệp và dấu ấn lớn nhất trong sự nghiệp làm thương mại là việc ông góp công lớn trong quá trình đàm phán đưa Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ông có thời gian 11 năm "đồng hành" trên 200 cuộc đàm phán và 28 đối tác đàm phán song phương của Việt Nam.

Vì thế, theo GS Thuyết, một người dù được phân công, bổ nhiệm vị trí trái ngành, trái nghề nhưng vẫn làm việc có hiệu quả, điều đầu tiên nhất đòi hỏi người cán bộ ấy “phải có đức”.

“Đức ở đây đòi hỏi người cán bộ phải vì cái chung, vì tập thể, vì cộng đồng, vì nhân dân, vì đất nước. Khi anh xuất phát từ mục đích chung thì anh mới phát huy được năng lực, tìm tòi học hỏi để mang lại kết quả tốt nhất. Trên thực tế có những ông giỏi, nhưng ông chỉ lo vun vén cho cá nhân, chỉ lo cài con, cắm cháu vào chỗ nọ chỗ kia, tích lũy cho cá nhân thật nhiều. Những ông đó, người dân đâu có thích, rõ ràng ông làm không được việc.

Ngược lại có những người tài năng chỉ ở mức độ đáp ứng được yêu cầu thôi nhưng người ta có tấm lòng, có sự rèn luyện thì người ta sẽ đáp ứng và làm tốt nhiệm vụ được giao. Do đó, theo tôi cái gốc phải là đức, cái đức ấy phải vì cái chung”, GS Thuyết nhận định.

Thứ nữa, theo GS Thuyết người cán bộ phải xây dựng cho mình kế hoạch, thực hiện kế hoạch rèn luyện bản thân để đáp ứng với yêu cầu công việc. Cũng có thể có người học qua lớp quản lý này, quản lý khác nhưng khi bắt tay vào làm một công viêc sẽ đầy những khó khăn, thách thức. Nếu anh có kế hoạch rèn luyện, kết hợp với tinh thần học hỏi những người xung quanh thì anh sẽ hoàn thành công việc.

“Tiêu chuẩn để cán bộ làm được việc tốt rất đơn giản, nhưng đòi hỏi anh phải làm, phải sáng tạo. Sinh ra ai cũng có hai tay, hai chân, bộ não. Một ông hàng ngày tập tạ, rõ ràng tay khỏe hơn. Một ông hàng ngày đá bóng và chạy, rõ ràng chân ông khỏe hơn. Ông kia hàng ngày suy nghĩ, tìm hiểu, vận dụng thì trí óc sẽ phát triển hơn... Cho nên, trí thông minh trời cho chỉ là yếu tố ban đầu, ở đây muốn làm được việc thì anh phải say mê với công việc vì mục đích chung, có kế hoạch rèn luyện… Chứ đừng nghĩ rằng, anh có cái bằng giỏi là "đã giỏi”, không ai chủ quan được, nhất là làm việc thực tế. Sự thành công không giành cho những người chủ quan, có suy nghĩ như vậy”, GS Thuyết nhấn mạnh. (Infonet.vn 5/8, N. Huyền) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.039.901 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này