Bản tin cải cách hành chính ngày 27/11/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. TPHCM: Đến năm 2025, 90% người dân được lập hồ sơ sức khỏe điện tử

2. Thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công

3. Thanh Hóa: Công khai, minh bạch để phòng ngừa tham nhũng

4. Quảng Ninh: Chủ động đảm bảo tiến độ Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Hơn 38% doanh nghiệp chưa hài lòng với kiểm tra, thanh tra về xây dựng

6. Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Văn hóa – Thể thao và Du lịch

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Tái khởi động kiểm soát tài sản, thu nhập

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Công nghệ và “không ai bị bỏ lại phía sau”

TIN THẾ GIỚI

9. Ấn Độ có tỷ lệ hối lộ cao nhất châu Á

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Đến năm 2025, 90% người dân được lập hồ sơ sức khỏe điện tử

Chiều 26-11, Đoàn công tác Bộ Y tế đã có buổi làm việc với Sở Y tế TPHCM về công tác triển khai ứng dụng phần mềm quản lý thông tin tại các trạm y tế (TYT), hoàn tất liên thông với nền tảng quản lý thông tin y tế cơ sở (V20) của Bộ Y tế.

Kiểm tra thực tế tại TYT phường 15, quận Tân Bình, đoàn công tác ghi nhận, trạm hiện quản lý hơn 300 hồ sơ sức khỏe điện tử của người dân và là một trong 110 TYT đầu tiên tại TPHCM ứng dụng phần mềm quản lý thông tin hơn 1 năm qua.

Bác sĩ Châu Quang Khải, Trạm trưởng TYT phường 15 cho biết, từ khi liên thông 1 phần mềm duy nhất, hoạt động của trạm trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Chỉ cần nhập thông tin người bệnh thì toàn bộ thông tin về bệnh nhân sẽ hiện ra, bao gồm cả bệnh sử, các loại thuốc đã sử dụng, tiền sử dị ứng,… không phải mất công lục tìm hồ sơ bệnh án giấy.

Bên cạnh đó, thông qua phần mềm quản lý, việc làm báo cáo của nhân viên y tế cũng nhanh, gọn hơn, cập nhật dữ liệu chính xác, đầy đủ. Nếu trước đây phải cần nhiều người cùng làm báo cáo thì nay đã được giảm lại, tăng hiệu quả kinh tế cho trạm y tế.

Theo PGS-TS Tăng Chí Thượng, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM, trước đây trung bình mỗi TYT trên địa bàn có khoảng 80 cuốn sổ ghi chép các hoạt động của trạm, điều này khiến cho nhân viên y tế các trạm y tế gặp nhiều khó khăn, chưa đạt hiệu quả cao trong công việc do mất quá nhiều thời gian để làm công tác báo cáo và các thủ tục hành chính khác.

Khắc phục tình trạng đó, ngành y tế TP đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm quản lý điện tử tại TYT. Tuy nhiên, do mỗi phần mềm chỉ quản lý được một nội dung nên việc quản lý hoạt động của trạm thông qua quá nhiều phần mềm cũng tồn tại nhiều bất cập. Từ năm 2019, với sự chỉ đạo của Bộ Y tế, Sở Y tế TPHCM đã triển khai thí điểm sử dụng 1 phần mềm tổng hợp chung của Công ty VNPT tại 110 trạm y tế trên địa bàn.

Kể từ khi sử dụng chỉ một phần mềm quản lý, các công việc hành chính của đội ngũ nhân viên y tế đã trở nên dễ dàng hơn nhiều; đồng thời việc quản lý thông tin về sức khỏe của người dân cũng trở nên đồng bộ. Sau hơn 1 năm triển khai thí điểm, dự kiến đến năm 2021 TPHCM sẽ hoàn tất việc triển khai phần mềm quản lý thông tin đồng bộ tại tất cả 319 trạm y tế xã, phường trên địa bàn.

“TPHCM đưa ra mục tiêu đến năm 2025, 90% người dân được lập hồ sơ sức khỏe điện tử và các TYT là nơi quản lý những hồ sơ sức khỏe điện tử này, do đó, việc triển khai phần mềm quản lý thông tin TYT liên thông với nền tảng quản lý thông tin y tế cơ sở (V20) của Bộ Y tế là điều kiện vô cùng lý tưởng", PGS-TS Tăng Chí Thượng khẳng định. (Sggp.org.vn 26/11, Thành Sơn)Về đầu trang

Thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công

Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Vũ Hồng Bắc vừa ký Quyết định thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Thái Nguyên nhằm thực hiện tốt hơn công tác cải cách hành chính tại địa phương.

Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên đang triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại 208 cơ quan hành chính nhà nước thuộc tỉnh, trong đó 19/20 sở, ban, ngành (không tính Thanh tra tỉnh vì có các thủ tục hành chính đặc thù), 09/09 UBND cấp huyện, 180/180 UBND cấp xã. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức tại các Sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã được phân công tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính là 985 người, trong đó cấp tỉnh 76 công chức, viên chức, cấp huyện 78 công chức, viên chức, cấp xã 831 cán bộ, công chức.

Để nâng cao chất lượng phục vụ, giải quyết thủ tục hành chính, một số đơn vị, địa phương đã chủ động khắc phục khó khăn, đầu tư xây dựng, bố trí phòng làm việc Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, trang thiết bị tối thiểu, ứng dụng công nghệ thông tin vào tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính, đầu tư một cửa điện tử được 09/20 Sở, ban, ngành, 09 đơn vị cấp huyện và 32 đơn vị cấp xã thuộc thành phố Thái Nguyên.

UBND tỉnh Thái Nguyên cũng đã triển khai thí điểm phần mềm một cửa điện tử tại 05 đơn vị cấp xã, cơ quan hành chính tỉnh Thái Nguyên đang thực hiện áp dụng 1.627 thủ tục hành chính trên cả 3 cấp, trong đó: Cấp tỉnh 1.286 thủ tục hành chính, cấp huyện 224 thủ tục hành chính (14 lĩnh vực), cấp xã 117 thủ tục hành chính (13 lĩnh vực), các Sở, ban, ngành còn một số lĩnh vực giải quyết tại các đơn vị trực thuộc như: Sở Y tế; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; còn một số đơn vị giải quyết hồ sơ bị quá hạn như: Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp... (Baoxaydung.com.vn 26/11, Nguyễn Thành)Về đầu trang

Thanh Hóa: Công khai, minh bạch để phòng ngừa tham nhũng

Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị là một trong những giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa tham nhũng. Thực hiện chủ trương của Đảng ta và các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức các hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã ngày càng được thực hiện nền nếp, nghiêm túc, hiệu quả hơn. 

Để đẩy mạnh việc công khai, minh bạch trong hoạt động, thời gian qua, các cơ quan, địa phương, đơn vị cũng đã tích cực cải cách thủ tục hành chính. Cổng dịch vụ công tỉnh (https://dichvucong.thanhhoa.gov.vn) đã chính thức đi vào hoạt động ngày 16-9-2019, được tích hợp với Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh; hệ thống thông tin một cửa điện tử của 27 UBND cấp huyện và 100% UBND cấp xã đã công bố đầy đủ, kịp thời 100% các thủ tục hành chính. Đồng thời, Cổng dịch vụ công của tỉnh được kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia và các hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành; tích hợp hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt của Viễn thông Thanh Hóa (VNPT Pay) để thanh toán phí, lệ phí (nếu có) đối với các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.

Cổng thông tin điện tử tỉnh, 48 trang thông tin điện tử của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện và 559/559 trang thông tin điện tử cấp xã đã đăng tải công khai, minh bạch các thông tin, hoạt động của cơ quan nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp. Các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành tại các sở, ngành tiếp tục được cập nhật, nâng cấp và ứng dụng hiệu quả trong hoạt động quản lý và tác nghiệp. Nhiều thủ tục hành chính được rà soát, cắt giảm từ 30 - 50% thời gian giải quyết, tạo thuận lợi cho giao dịch của công dân và các tổ chức tại cơ quan hành chính Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc công khai, minh bạch trong xác định, phê duyệt tiêu chuẩn, định mức và cân đối, bố trí kinh phí phục vụ mua sắm công trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị ngày càng nền nếp, chặt chẽ, hiệu quả hơn. Công tác công khai, minh bạch, giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng kinh phí được thực hiện qua nhiều cấp, nhiều khâu của quản lý ngân sách từ phê duyệt cấp kinh phí của cấp có thẩm quyền, kiểm soát chi căn cứ theo dự toán, kết quả trúng thầu, hợp đồng, hồ sơ chứng từ mua sắm hợp lệ tại Kho bạc Nhà nước, công tác quyết toán và kiểm tra quyết toán của cơ quan tài chính, đơn vị dự toán cấp trên, do đó đã hạn chế được đến mức thấp nhất việc sử dụng kinh phí được cấp sai mục đích.

Nội dung công khai, minh bạch trong đấu thầu mua sắm công đã được luật hóa, việc cung cấp, đăng tải thông tin trong đấu thầu cũng đã được quy định cụ thể, thực hiện ngày càng nghiêm túc, hiệu quả hơn. UBND tỉnh đã yêu cầu đối với các gói thầu mua sắm công phải được đăng tải công khai trên trang thông tin về đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cổng thông tin điện tử UBND tỉnh, Báo Thanh Hóa nhằm bảo đảm thông tin được đăng tải tập trung và tạo thuận lợi cho nhà thầu và các bên liên quan tìm kiếm thông tin.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, từ năm 2013 đến nay, các cơ quan, đơn vị đã tiến hành 930 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với các địa phương, đơn vị về thực hiện các quy định về công khai, minh bạch. Qua kiểm tra, phát hiện 57 đơn vị vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động, đã chấn chỉnh và khắc phục kịp thời theo quy định. (Baothanhhoa.vn 27/11)Về đầu trang

Quảng Ninh: Chủ động đảm bảo tiến độ Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Triển khai Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) bước vào giai đoạn nước rút, Công an tỉnh Quảng Ninh đã và đang huy động tối đa lực lượng, đặc biệt là tuyến cơ sở, tăng cường rà soát, cập nhật, bổ sung, chỉnh sửa thông tin dân cư, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ theo yêu cầu của Bộ Công an.

Tính đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh Quảng Ninh có trên 388.000 hộ, trên 1,3 triệu nhân khẩu đang cư trú trên địa bàn. Công an tỉnh Quảng Ninh đã thu thập được 1.309.406/1.309.406 phiếu thu thập thông tin dân cư, đạt tỉ lệ 100% đối với nhân khẩu đăng ký thường trú trên địa bàn. Số phiếu này đều đã được scan lên hệ thống phần mềm, có 99,05% phiếu đạt yêu cầu…

Trước đó, từ tháng 3/2020 đến nay, để đảm bảo tiến độ công việc, Công an TP Hạ Long đã huy động hàng trăm cán bộ, chiến sĩ tập trung kiểm tra, rà soát các thủ tục hành chính, các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư tại các phường, xã trên địa bàn. Tập trung phúc tra toàn bộ phiếu thu thập thông tin dân cư đang lưu trữ tại tàng thư hồ sơ căn cước công dân và hộ khẩu của đơn vị, nhằm đảm bảo tiến độ và tính chính xác.

Kết quả đến nay, Công an TP Hạ Long đã thu thập được 324.879 phiếu, đạt tỷ lệ 100% trên tổng số nhân khẩu. Công an các phường, xã đã tổ chức kiểm tra tất cả 100% các phiếu thông tin này đảm bảo hoàn thành theo đúng tiến độ. Hiện, Công an TP Hạ Long đang tổ chức kiểm tra phúc tra xác suất đối với Công an các phường.

Trung tá Dương Thị Thanh Hà, Đội trưởng Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an TP Hạ Long cho biết, để đảm bảo tiến độ và tính chính xác, Công an TP Hạ Long yêu cầu Công an các phường, xã báo cáo kết quả thu thập phiếu bổ sung, phúc tra hằng ngày của từng đơn vị; kiểm tra chất lượng phiếu thông tin được thu thập và xử lý nghiêm đối với những cá nhân không thực hiện nghiêm túc, chất lượng thông tin về dân cư không đảm bảo. Đối với các phiếu sai thông tin, đã được bổ sung thông tin công dân, đảm bảo chính xác, đúng quy định…

Cùng với Hạ Long, Công an các địa phương khác trong tỉnh cũng đang khẩn trương tiến hành kiểm tra dữ liệu thông tin dân cư. Điển hình như xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên là xã có 17 thôn, địa bàn rộng, địa hình vùng núi đi lại khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đến hơn 90%.

Nhiều người dân không biết nói tiếng Kinh, trước đây không đi đăng kí giấy khai sinh, làm mất giấy khai sinh, thông tin khai trong giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân không trùng khớp… đã gây rất nhiều khó khăn cho lực lượng Công an trong việc thu thập thông tin. Với quyết tâm cao, trong vòng hơn 4 tháng, 4 cán bộ Công an xã Phong dụ đã đến từng thôn thu thập hơn 4.000 phiếu DC01, đạt tỷ lệ 100% nhân khẩu trên địa bàn xã và đã tiến hành quét.

Theo Trung úy Trần Văn Khang, Phó trưởng Công an xã Phong Dụ, thời gian qua lực lượng Công an xã đã tăng cường thời gian làm việc, không kể ngày nghỉ, cuối tuần, ngày hay đêm, khẩn trương kiểm tra, đối chiếu dữ liệu. Đến nay, Công an xã Phong Dụ đã kiểm tra, đối chiếu xong đối với toàn bộ hơn 4.000 phiếu DC01

Ở một số địa phương khác, nhất là các khu vực phát triển, việc di chuyển của công dân là điều khó tránh. Tình trạng thông tin trong sổ hộ khẩu gia đình chưa đầy đủ; người cao tuổi không nhớ được ngày sinh; ý thức của một số công dân tham gia cung cấp thông tin, kê khai phiếu còn hạn chế; sự biến động của công dân, nhưng không có thông tin khai báo... khiến cho việc triển khai dự án gặp nhiều khó khăn, thiếu tính chính xác.

Đại diện lãnh đạo Công an tỉnh Quảng Ninh cho biết thêm, khắc phục những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch COVID-19, Công an tỉnh Quảng Ninh đã triển khai một cách quyết liệt, đồng loạt tại các địa phương để hoàn thành đúng tiến độ dự án, phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng CSDLQG về dân cư và cấp số định danh cho công dân trước ngày 1/12/2020, hoàn thành toàn bộ dự án trước ngày 30/4/2021. (Cand.com.vn 27/11)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Hơn 38% doanh nghiệp chưa hài lòng với kiểm tra, thanh tra về xây dựng

Theo Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Đậu Anh Tuấn cho biết, để xin được giấy phép xây dựng, trung bình, chủ công trình phải gặp cơ quan chức năng 3 lần; không ít trường hợp phải đi nhiều lần hơn.

Ngoài ra, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và dân doanh thường gặp khó khăn hơn so với doanh nghiệp nhà nước hoặc đầu tư nước ngoài trong xin giấy phép xây dựng. Hơn 38% doanh nghiệp chưa hài lòng đối với công tác kiểm tra, thanh tra về xây dựng; chi phí không chính thức chưa được triệt tiêu; 32,5%-58,4% doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện các thủ tục liên quan đến xây dựng, trừ thủ tục về cấp điện, cấp nước.

Được biết, kết quả khảo sát ý kiến doanh nghiệp của VCCI cho thấy, cải cách hành chính nếu xét riêng trên từng lĩnh vực thì cơ bản đã có những thay đổi tích cực. Tuy nhiên, những phản ánh của doanh nghiệp vẫn cho thấy, hiện nay, vướng mắc của doanh nghiệp khi triển khai dự án liên quan tới thủ tục hành chính là rất lớn. Với nhiều dự án, nhà đầu tư, doanh nghiệp phải tiến hành các thủ tục hành chính ở nhiều cơ quan quản lý nhà nước khác nhau, ở nhiều cấp khác nhau, liên quan tới nhiều công đoạn, từ phê duyệt chủ trương đầu tư, giải phóng mặt bằng, khởi công...

Thực tế cũng cho thấy, những chồng lấn, xung đột trong pháp luật về quy trình thủ tục, hồ sơ, thẩm quyền... đã gây ra sự tốn kém về thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. Bản thân các cơ quan chính quyền cũng có lúc lúng túng trong áp dụng pháp luật và phải đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý trong thời gian gần đây. (Cand.com.vn 26/11, Hải Châu)Về đầu trang

Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Văn hóa – Thể thao và Du lịch

Sáng 26/11, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã tổ chức Hội nghị Xây dựng Chương trình chuyển đổi số của ngành VHTTDL. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương chủ trì hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương cho biết, Bộ xác định nhiệm vụ chuyển đổi số ngành VHTTDL là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong thời gian tới.

Chuyển đổi số không chỉ hướng tới các mục tiêu nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao hiệu quả ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước thuộc Bộ hay chỉ dừng lại ở mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử tại Bộ. Chuyển đổi số còn hướng tới mục tiêu cao hơn là phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu.

“Chuyển đổi số trong ngành VHTTDL và gia đình cần phải được tập trung, nghiên cứu, xây dựng và đưa ra các chỉ số cơ bản cụ thể để thực hiện trong giai đoạn tới” - Thứ trưởng nhấn mạnh.

Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương cũng cho biết, xác định nhiệm vụ chuyển đổi số sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là chuyển đổi số trong ngành VHTTDL với rất nhiều đặc thù và đa dạng các lĩnh vực, chuyên môn, nghiệp vụ.

Từ đó, Thứ trưởng yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ phải xác định nhiệm vụ chuyển đổi số tại lĩnh vực mình quản lý là một quá trình chuyển biến trong hoạt động của đơn vị, không thể làm trong thời gian ngắn 1 đến 2 tháng, hay 1 đến 2 năm mà chuyển đổi số phải được xây dựng riêng hoặc lồng ghép nội dung chuyển đổi số trong chương trình, kế hoạch, đề án do đơn vị xây dựng suốt cả quá trình tham mưu và quản lý nhà nước.

Đồng thời, Bộ VHTTDL cũng giao Trung tâm Công nghệ thông tin chịu trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị thuộc Bộ trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra tại Quyết định số 749 về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

Báo cáo do bà Nguyễn Thị Hoàng Lan - Điều hành hoạt động Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ VHTTDL nêu rõ, hiện nay, Bộ VHTTDL đã cung cấp 63 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên tổng số 95 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ chiếm 66,3%. Trong đó, đã cung cấp 11 dịch vụ công mức độ 3 và 52 dịch vụ công mức độ 4. Tính đến cuối tháng 10 năm 2020, có 4432 hồ sơ được giải quyết qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến (trong đó mức độ 3 có 3891 và mức độ 4 có 541 hồ sơ). Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến đạt 50,6%.

Bộ cũng đã hoàn thành kết nối liên thông và tích hợp cung cấp 32 dịch vụ công trên Cổng dịch vụ công Quốc gia đạt tỷ lệ 33,6%, hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao tích hợp 30% dịch vụ công với Cổng Dịch vụ công quốc gia. (Toquoc.vn 26/11, Thế Công)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tái khởi động kiểm soát tài sản, thu nhập

Sau một năm gián đoạn, tháng 11 và 12-2020, các cơ quan nhà nước, đơn vị công lập bắt đầu kê khai tài sản, thu nhập với yêu cầu khắt khe hơn.

Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) 2018 thay thế hoàn toàn đạo luật cùng tên ban hành 15 năm trước với những sửa đổi, bổ sung nhiều nhất, có bước tiến rõ nhất ở nhóm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, người có chức vụ, quyền hạn.

Đầu tiên là chế độ “kê khai lần đầu”, luật quy định là nghĩa vụ của tất cả cán bộ, công chức, sĩ quan công an, quân đội, quân nhân chuyên nghiệp; người được bổ nhiệm vào chức vụ từ phó phòng trở lên ở các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Tiếp theo là chế độ “kê khai bổ sung”, áp dụng với các đối tượng trên nhưng chỉ khi có biến động về tài sản, thu nhập mà tích lũy từ 300 triệu đồng trở lên so với lần kê khai trước đó. Trong trách nhiệm kê khai bổ sung này sẽ có phần nghĩa vụ giải trình cho lý do tăng, giảm tài sản.

Cuối cùng là “kê khai hằng năm”, áp dụng với cán bộ, công chức cỡ từ giám đốc sở và tương đương trở lên, bất kể tài sản có tăng, giảm so với lần kê khai trước và cũng kèm theo nghĩa vụ giải trình.

Về cơ chế xác minh tính trung thực của việc kê khai, ngoài căn cứ từ tố cáo, nghi ngờ có cơ sở…, lần này luật 2018 mở ra cơ chế xác minh định kỳ, ngẫu nhiên để thúc đẩy việc kê khai nghiêm túc, ngay ngắn, thực chất hơn. Việc xác minh hằng năm, mang tính chất ngẫu nhiên này chỉ áp dụng với nhóm hẹp quan chức có nghĩa vụ “kê khai hằng năm”.

Với những sửa đổi, bổ sung trên, Luật PCTN 2018 áp đặt chế độ kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng nắm thông tin diện rộng về tài sản, thu nhập của toàn bộ người làm trong khu vực công (khác với trước đây chỉ từ cấp phó phòng cấp huyện trở lên) nhưng tới kiểm soát thì chỉ tập trung diện hẹp quan chức cấp cao, ít nhất là cỡ giám đốc sở và tương đương.

Quan trọng vì diện kê khai lần này, như phân tích ở trên, là rất rộng, bao trùm gần như toàn bộ người làm việc trong khu vực công. Ngoài ra còn do tính chất “lần đầu” của nó. Bởi luật, nghị định và mẫu bản kê khai lần đầu không buộc người kê khai phải giải trình nguồn gốc tài sản được kê khai.

Với tính chất pháp lý ấy, nhìn chung người kê khai lần đầu, nhất là số cán bộ, công chức, viên chức chưa bao giờ phải kê khai tài sản, thu nhập theo Luật PCTN 2005 thì nay có thể tương đối yên tâm kê khai tất cả tài sản mà bản chất thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình, bất kể nguồn gốc hình thành. Bởi lúc đó, nghĩa vụ chứng minh một tài sản là bất hợp pháp hoàn toàn thuộc về cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, với những người trước đây đã kê khai tài sản theo luật cũ mà nay kê khai lần đầu theo luật mới thì dù không có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc, họ vẫn phải cân nhắc. Bởi nếu khai thêm những tài sản khác, thuộc loại “khó giải trình” thì phần biến động giữa các bản khai cũ và mới ấy có thể dẫn tới nguy cơ bị tố cáo. Tố cáo là một căn cứ để xem xét khởi động quy trình pháp lý xác minh tài sản, thu nhập. Trong quy trình ấy, nghĩa vụ giải trình của người kê khai tài sản được xác lập song song với trách nhiệm chứng minh của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.

Nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn được xác lập đầu tiên bởi Pháp lệnh PCTN 1998. Đến khi pháp lệnh được nâng lên thành luật vào năm 2005 thì công tác kê khai tài sản, thu nhập này được làm lại từ đầu.

Thời điểm ấy, người phải kê khai không có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản, cũng như tài sản tăng thêm qua các năm. Phải đến lần sửa đổi, bổ sung Luật PCTN năm 2012, nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm mới đặt ra và mô tả rõ trong mẫu kê khai tài sản, thu nhập.

Nay với Luật PCTN 2018 và Nghị định 130 triển khai công tác thi hành, có thể hiểu một lần nữa công tác kê khai tài sản, thu nhập được làm lại từ đầu với các yêu cầu mới. Nền tảng của nó là cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập, đang được Thanh tra Chính phủ nghiên cứu những bước đầu tiên để tiến tới lập đề án.

Ngoài ra, cũng với mục đích ấy, Ban Tổ chức Trung ương đang ở những bước đầu chủ trì để xây dựng một quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập thuộc phía Đảng, phía các tổ chức chính trị - xã hội, phía Nhà nước để phân luồng quản lý người có nghĩa vụ kê khai, phù hợp với phân cấp quản lý cán bộ của Đảng.

Như thế, công tác kê khai tài sản, thu nhập được triển khai những ngày tới mới chỉ là bước đầu đưa công tác kiểm soát tài sản, thu nhập theo Luật PCTN 2018 vào vạch xuất phát của nó. (Plo.vn 27/11, Nghĩa Nhân)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Công nghệ và “không ai bị bỏ lại phía sau”

 “Cắt điện của người dân là sai” - khẳng định của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân khi trả lời ý kiến cử tri quận Cái Răng, Cần Thơ về việc điện lực địa phương triển khai thu tiền điện qua tài khoản gây khó khăn cho nông dân vì không phải nông dân nào cũng có tài khoản ngân hàng.

Nhìn rộng hơn, khẳng định của người đứng đầu Quốc hội là lời nhắc nhở với các cơ quan làm chính sách và thực thi chính sách về việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công nhưng vẫn cần bảo đảm mọi người dân Việt Nam, trong đó có những nhóm người yếu thế, người già, người nghèo, đồng bào vùng cao… không bị loại trừ khỏi các dịch vụ công thiết yếu vì lý do công nghệ.

Sử dụng công nghệ trong tất cả lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có việc các cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ hành chính công thông qua con đường trực tuyến, là xu thế tất yếu. Việc thanh toán các chi phí phát sinh khi sử dụng dịch vụ công, dù là thủ tục hành chính trực tuyến hay các dịch vụ công thiết yếu khác (điện, nước, vệ sinh…) thông qua thanh toán điện tử (qua ngân hàng,  dịch vụ tài chính như ví điện tử) cũng là bước đi hợp lý.

Tuy nhiên, trong tiến trình đó cần lường trước và tính toán đến khả năng thực hiện các dịch vụ trực tuyến của các nhóm người dân khác nhau. Chắc chắn sẽ có những nhóm do đặc thù, khó khăn riêng sẽ khó tiếp cận dịch vụ, chi trả dịch vụ trực tuyến bình đẳng như phần lớn nhóm người dân khác. Câu chuyện cử tri ở Cần Thơ phản ánh với Chủ tịch Quốc hội là ví dụ sinh động: Có những hộ dân ở vùng nông thôn chưa kịp làm quen với tài khoản ngân hàng, với thanh toán điện tử nên chưa thể thanh toán cho tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua ngân hàng được. Và chắc chắn, những câu chuyện tương tự sẽ còn diễn ra ở phạm vi rộng hơn trên toàn quốc, khi ngày càng nhiều địa phương, nhiều cơ quan cung cấp dịch vụ sử dụng công nghệ vào các công đoạn cung cấp dịch vụ công, bao gồm công đoạn thanh toán.

Ví dụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đang đang triển khai thí điểm trước khi tiến tới nhân rộng việc chi trả các khoản an sinh xã hội bằng phương thức điện tử. Và những trục trặc đã xảy ra khi các đối tượng nhận chi trả hầu hết là các đối tượng yếu thế hơn (người già; người nghèo; thương bệnh binh), khó sử dụng tài khoản ngân hàng; hoặc là vùng núi, vùng sâu, vùng xa như các huyện thí điểm ở Quảng Uyên, Thạch An (Cao Bằng) không có cây ATM để tiện sử dụng. Trong khi đó, đây là nhóm đối tượng có quy mô không nhỏ nếu tính về diện người cần hỗ trợ.

Báo cáo của Bộ này cho biết, 30% dân số là đối tượng cần sự trợ giúp. Trong đó có hơn 1,4 triệu người cao tuổi; khoảng 1,4 triệu người hưởng trợ cấp, người có công với cách mạng; 6,2 triệu người khuyết tật; trên 9 triệu người có vấn đề về sức khỏe tâm thần; 2 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có khoảng 3,75% hộ nghèo, 4,55% hộ cận nghèo; hơn 3,1 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; khoảng 2 triệu lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm. Ngoài ra còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị mua bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố.

Câu trả lời, như Chủ tịch Quốc hội gợi ý, chính là ở việc thiết kế lộ trình phù hợp và có biện pháp hỗ trợ sát hơn ở cấp độ địa phương. Rõ ràng lộ trình thực hiện cần có kế hoạch riêng cho các nhóm khó khăn theo hướng triển khai chậm hơn, có sự tuyên truyền, hướng dẫn và đồng thời trợ giúp trực tiếp cho từng nhóm.

Công nghệ rốt cuộc cũng chỉ là phương thức phục vụ con người tốt hơn. Do đó không thể viện dẫn bất kỳ lý do gì để loại trừ người dân khỏi việc tiếp cận dịch vụ công thiết yếu, ví dụ vì công nghệ mà “cắt điện”. Việc này vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân, là “sai” như Chủ tịch Quốc hội khẳng định. Sự giám sát của chính quyền ở cấp độ địa phương đặc biệt cần thiết để đảm bảo quyền sử dụng dịch vụ công thiết yếu của người dân, để không công dân nào bị bỏ lại đằng sau trong tiến trình phát triển. (Đại biểu nhân dân 27/11, Hà Lan)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Ấn Độ có tỷ lệ hối lộ cao nhất châu Á

Ấn Độ có tỷ lệ hối lộ cao nhất khu vực châu Á và số người sử dụng kết nối cá nhân để tiếp cận các dịch vụ công nhiều nhất, theo số liệu từ báo cáo mới của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI).

Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu (GCB) - Khu vực châu Á vừa được TI công bố cho thấy, gần 50% số người đưa hối lộ là do bị yêu cầu, trong khi 32% trong số những người sử dụng kết nối cá nhân cho biết họ sẽ không nhận được dịch vụ nếu không làm điều này.

Những kết quả mà TI thu thập được dựa trên cuộc khảo sát thực hiện từ ngày 17/6 đến ngày 17/7 năm nay đối với 2.000 công dân Ấn Độ.

Báo cáo cho biết: “Với tỷ lệ hối lộ cao nhất (39%) trong khu vực, Ấn Độ cũng có tỷ lệ người sử dụng kết nối cá nhân để tiếp cận các dịch vụ công cao nhất (46%).

Hối lộ trong các dịch vụ công tiếp tục là một vấn đề lớn ở Ấn Độ. Báo cáo cho biết, quy trình quan liêu, chậm chạp, thủ tục hành chính phức tạp không cần thiết và khuôn khổ quy định không rõ ràng buộc người dân phải tìm kiếm những giải pháp thay thế để tiếp cận các dịch vụ cơ bản thông qua mạng lưới thân quen và tham nhũng vặt.

“Cả chính quyền cấp quốc gia và cấp bang cần hợp lý hóa các quy trình hành chính đối với dịch vụ công, thực hiện những biện pháp phòng ngừa để chống hối lộ và gia đình trị, đồng thời đầu tư vào các nền tảng trực tuyến thân thiện với người dùng để cung cấp các dịch vụ công thiết yếu một cách nhanh chóng và hiệu quả", theo TI.

Tại Ấn Độ, 89% cho rằng tham nhũng trong Chính phủ là một vấn đề lớn, 18% đưa hối lộ để đổi lấy phiếu bầu và 11% có trải nghiệm về bóc lột tình dục hoặc biết ai đó bị bóc lột tình dục.

Mặc dù việc tố giác tham nhũng là rất quan trọng để hạn chế sự lan rộng, nhưng đa số công dân ở Ấn Độ (63%) lại nghĩ rằng, nếu báo cáo tham nhũng, họ sẽ bị trả thù.

Tuy nhiên, khoảng 63% người được khảo sát vẫn cho rằng, Chính phủ đang làm tốt việc giải quyết tham nhũng, trong khi 73% nhận định cơ quan chống tham nhũng của họ đang làm tốt trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Sau Ấn Độ, Campuchia có tỷ lệ hối lộ cao thứ hai với 37%, tiếp theo là Indonesia (30%) trong khi Maldives và Nhật Bản duy trì tỷ lệ hối lộ nói chung thấp nhất (2%), tiếp theo là Hàn Quốc (10%) và Nepal (12%). (Thanhtra.com.vn 27/11, Đức Anh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.021.430 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này