Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 04/5/2015
1. Tháng 10 là “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam”.
2. Thủ tướng chỉ thị tăng cường xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản.
3. Người trúng tuyển công chức sẽ được thông báo kết quả bằng văn bản trong 15 ngày.
4. Quy trách nhiệm dự án “đội vốn”.
5. Xây dựng nông thôn cấp cơ sở ở châu Á với thực tiễn Việt Nam.
6. Đồng Tháp: Mô hình “Cổng rào nhân dân tự phòng, tự quản” phát huy hiệu quả.
7. Phú Thọ: Hiệu quả mô hình Dân vận khéo của Hội nông dân huyện Lâm Thao.
9. Chậm tiến độ sắp xếp lại nhà, đất công.
10. Tham nhũng vẫn dai dẳng với “chủ nghĩa vị thân”.
11. Phải xin lỗi bằng văn bản nếu giải quyết thủ tục hành chính quá hạn.
12. Sắp áp dụng cơ chế một cửa về các thủ tục hành chính.
13. TPHCM: Hướng đến nền hành chính hiện đại
14. Đắk Nông đình chỉ công tác một Chủ tịch xã vì để mất rừng.
15. Bình Phước: Kế toán chiếm đoạt trên 5,6 tỉ đồng tiền cứu trợ lũ lụt
16. Quảng Nam: Sẽ kỷ luật lãnh đạo xã “nẫng” nhím của dân.
17. Trung Quốc đặt mục tiêu mới trong chống tham nhũng.
Tháng 10 là “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam”
Thủ tướng vừa ký quyết định lấy tháng 10 hằng năm là “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam”.
Việc lấy tháng 10 hằng năm là “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam” nhằm làm chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các lực lượng xã hội tham gia sự nghiệp chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò người cao tuổi.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc tổ chức “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam” hằng năm phải bảo đảm thiết thực, hiệu quả, phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng hiếu thảo của con cháu với bố mẹ, ông bà và tinh thần kính lão, trọng thọ; thu hút sự quan tâm của tổ chức, cá nhân, các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của người cao tuổi. (Nhân Dân 2/5) Về đầu trang
Thủ tướng chỉ thị tăng cường xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm các quy định của Luật Đầu tư công, bảo đảm không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản sau 31/12/2014. Việc để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản sau ngày 31/12/2014 sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định pháp luật về đầu tư công và các quy định phát luật hiện hành.
Đây là nội dung được nêu trong Chỉ thị hỏa tốc số 07/CT-TTg về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Cũng trong văn bản này, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương kiểm soát chặt chẽ việc lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các dự án đầu tư công. Chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền.
Các ngành, các cấp chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã được phê duyệt; thực hiện nghiêm các quy định về thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; tuyệt đối không được phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư nếu không xác định rõ được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.
Đối với các dự án đã được cấp có thẩm quyền thẩm định nguồn vốn, chỉ được phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư không vượt quá mức vốn đã được thẩm định của từng nguồn vốn.
Về việc kiểm soát việc điều chỉnh dự án đầu tư: Chỉ được điều chỉnh dự án trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 46 của Luật Đầu tư công, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách cấp mình để thực hiện. Thực hiện thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh dự án. Kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, các nhân trong việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, dẫn đến việc tăng tổng mức đầu tư các dự án không thuộc các trường hợp được điều chỉnh tổng mức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư công.
Bố trí vốn kế hoạch tập trung cho các dự án bảo đảm thời gian hoàn thành và tiến độ thực hiện dự án.
Không cho phép doanh nghiệp tự bỏ vốn chuẩn bị đầu tư, thi công dự án khi chưa được bố trí vốn, làm phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.
Chỉ tổ chức lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu đã được bố trí vốn. Thực hiện lập và điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo tiến độ chung của dự án và kế hoạch vốn được giao theo đúng quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ. Thực hiện nghiêm quy định về thời gian bắt đầu tổ chức lựa chọn nhà thầu. Nghiệm thu và thanh quyết toán các gói thầu, dự án đã hoàn thành theo đúng quy định của Luật Đấu thầu và Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, điều chỉnh quyết định đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư công.
Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương trước 30/6/2015, báo cáo chính xác danh mục và số nợ đọng xây dựng cơ bản tính đến hết 31/12/2014 theo từng nguồn vốn. Trong đó, làm rõ số nợ đọng xây dựng cơ bản đã có biên bản nghiệm thu khối lượng thực hiện tính đến hết 31/12/2014 và các khoản nợ khối lượng thực hiện đến thời hạn trên nhưng chưa có biên bản nghiệm thu.
Chỉ đạo các chủ đầu tư trước 31/5/2015 hoàn thành các thủ tục nghiệm thu khối lượng đã thực hiện các dự án tính đến hết 31/12/2014 và báo cáo rõ các giải pháp xử lý.
Dự kiến phương án và lộ trình thanh toán các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản tính đến hết31/12/2014 trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 theo từng nguồn vốn và các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư công. Không sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương để thanh toán các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn cân đối ngân sách địa phương và các dự án không có trong kế hoạch.
Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để thực hiện phương án và lộ trình thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, bảo đảm nguyên tắc ưu tiên bố trí vốn thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản trước khi bố trí vốn cho các dự án khởi công mới.
Cân đối, bố trí ngân sách các cấp, nguồn hợp pháp để xử lý nợ đọng và thu hồi vốn đã ứng.
Khi xử lý ứng vốn cần cân đối chỉ rõ nguồn vốn để thu hồi.
Chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thanh tra, kiểm toán về tính chính xác các thông tin, số liệu về số nợ đọng xây dựng cơ bản và phương án, lộ trình thanh toán các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản của Bộ, ngành và địa phương mình. (Báo Chính Phủ Điện Tử30/4) Về đầu trang
Người trúng tuyển công chức sẽ được thông báo kết quả bằng văn bản trong 15 ngày
Từ ngày 1/5, Thông tư sửa đổi bổ sung Điều 9 Thông tư số 13/2010 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức sẽ có hiệu lực.
Theo đó, Thông tư mới quy định, trong vòng 15 ngày kể từ ngày có quyết định phê duyệt kết quả tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan tuyển dụng công chức phải gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người trúng tuyển phải đến để hoàn thiện hồ sơ dự tuyển trước khi chính thức được ký quyết định tuyển dụng.
Hồ sơ phải bao gồm bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực và phiếu lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp nơi thường trú cấp.
Trường hợp có lý do chính đáng, người dự tuyển được gia hạn thêm không quá 15 ngày và phải làm đơn gia hạn. Quá thời hạn này, cơ quan tuyển dụng có thể hủy bỏ kết quả trúng tuyển. (Công An Nhân Dân 2/5) Về đầu trang
Quy trách nhiệm dự án “đội vốn”
Trong chỉ thị hỏa tốc ngày 30/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, dẫn đến việc tăng tổng mức đầu tư các dự án không thuộc các trường hợp được điều chỉnh tổng mức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư công.
Nội dung được nêu trong Chỉ thị hỏa tốc số 07/CT-TTg về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương kiểm soát chặt chẽ việc lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các dự án đầu tư công. Chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền...
Về việc kiểm soát việc điều chỉnh dự án đầu tư: Chỉ được điều chỉnh dự án trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 46 của Luật Đầu tư công, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách cấp mình để thực hiện. Thực hiện thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh dự án. Kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, dẫn đến việc tăng tổng mức đầu tư các dự án không thuộc các trường hợp được điều chỉnh tổng mức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư công...
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản bị “đội vốn” dường như đã là điệp khúc của rất nhiều chủ đầu tư. Khi đệ trình xin tăng vốn, chủ đầu tư viện ra đủ lý do mà hầu hết đều “do khách quan”, đại loại như công trình kéo dài, giá cả nguyên vật liệu tăng, giải phóng mặt bằng gặp khó, cộng chi phí khắc phục thiên tai, hỏa hoạn… Trong khi đó, nguyên nhân chủ quan thường bị lờ đi, ví như do năng lực nhà thầu kém, cố tình kéo dài, thi công ỳ ạch hay quản lý bị thất thoát… Có dự án “đội vốn” thêm một phần, trong khi chuyện tăng gấp vài ba lần cũng không hiếm.
Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng và Chất lượng công trình giao thông (Bộ GTVT) Dương Viết Roãn, nguyên nhân khiến các dự án giao thông bị “đội vốn” chủ yếu do việc chọn quy mô đầu tư dự án hiện nay chưa phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tế. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đó là những nguyên nhân lý giải được trên giấy tờ, hồ sơ. Còn nguyên nhân “chìm” nằm phía sau hồ sơ thì có thể nhiều người biết nhưng không dễ khui lộ một khi không có cái gọi là bằng chứng.
Dự án “đội vốn” dù bất cứ lý do gì đều gây thâm hụt tới hầu bao ngân sách Nhà nước cũng như các khoản tài chính, viện trợ, dù là viện trợ ODA. Điều nguy hiểm hơn, việc liên tục cơi nới vốn làm mất trật tự kỷ cương trong đầu tư xây dựng, tạo tiền lệ cho các dự án sau cứ thấy khó là tăng vốn, thấy dự án này tăng được thì dự án kia cũng tìm cách đề đạt tăng theo.
Rốt cuộc, tiền đổ ra mà Nhà nước không kiểm soát được, đấy cũng là chỗ để tham nhũng, lãng phí có môi trường tồn tại. Không có bất cứ dự án nào nói tăng vốn vì bị thất thoát, tham nhũng nhưng trong thực tế, đường đi của những đồng tiền “đen” trong dự án ra sao, chỉ có người trong cuộc mới biết.
Còn nhớ, tại cuộc họp mới đây về kiểm soát tiến độ, chất lượng các dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng nói rằng, dự án nào chi vượt dự toán, thì chủ đầu tư tự bỏ tiền ra trả. “Tới đây, qua rà soát, dự án nào phát hiện “phình vốn”, chủ đầu tư, nhà thầu sẽ phải chịu trách nhiệm” – ông Thăng quả quyết.
Bộ này cũng ban hành riêng một văn bản yêu cầu các đơn vị trong ngành khi nghiên cứu, đề xuất các dự án khả thi xây dựng cầu đường bộ, nếu công trình cần phá bỏ cầu cũ phải được hội đồng nghiệm thu của Bộ GTVT kiểm tra, cho phép. Trường hợp công trình có cầu cũ vẫn có khả năng sử dụng, thì lựa chọn phương án giữ nguyên cầu cũ, sửa chữa để tiếp tục khai thác. Thậm chí, trong quá trình tư vấn thiết kế, các chủ đầu tư dự án tới đây sẽ không được lạm dụng sử dụng móng cọc khoan nhồi để xử lý móng mố, trụ, làm tăng kinh phí xây dựng... Chủ trương như vậy là kiên quyết, vấn đề là việc thực hiện làm sao cũng nghiêm như nói.
Với sự quyết liệt như Chỉ thị của Thủ tướng vừa ban hành, việc kiểm soát dự án “đội vốn” rõ ràng là yêu cầu cấp bách và đã đến lúc phải làm nghiêm để chấm dứt tiền lệ cứ thi công rùa bò rồi tìm cơ hội xin vốn. (Công An Nhân Dân 2/5) Về đầu trang
Xây dựng nông thôn cấp cơ sở ở châu Á với thực tiễn Việt Nam
Tìm ra cách thức, mô hình có hiệu quả trong phát triển nông thôn nói chung và phát triển nông thôn cấp cơ sở nói riêng luôn là công việc khó khăn do vấn đề về kỹ thuật, huy động nguồn lực và quản lý, văn hóa xã hội. Trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn cần tham khảo và tiếp thu học hỏi từ kinh nghiệm và bài học đã có từ các nước đi trước cũng như thực tiễn tại Việt Nam. Ðến thời điểm hiện nay, số lượng các chương trình, mô hình thử nghiệm trong và ngoài nước, đặc biệt là tại các nước châu Á tương đối nhiều, có thể đưa ra các kinh nghiệm và bài học phong phú cho việc thiết kế chương trình xây dựng nông thôn cấp cơ sở.
Thực tế qua xem xét, phân tích và so sánh các chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở ở một số nước châu Á như Hàn Quốc với phong trào Làng mới Seamaul Undong, mô hình “công nghiệp hưng trấn” tại Trung Quốc, Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc – Tăng thu nhập của nông trại và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn – Chương trình cải cách ruộng đất giai đoạn 2 tại Đài Loan, Chương trình mỗi vùng một sản phẩm, Chương trình một triệu bạt mỗi bản của Thái Lan… dễ nhận thấy sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn cấp cơ sở nếu chọn được một hướng đi đúng, trên cơ sở chọn lọc và phát huy các giá trị cốt lõi đặc trưng riêng.
Bên cạnh những mặt được, kinh nghiệm quốc tế tại các nước châu Á đi trước cũng chỉ ra những góc khuất cần khắc phục và chưa đạt được thực sự của chương trình nông thôn cấp cơ sở các nước.
Ví dụ như phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào điển hình thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở. Việc thực hiện phong trào được đánh giá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong những năm 1960 trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm 1990 trở lại đây. Tuy nhiên, phát triển nông thôn tại Hàn Quốc, sau quá trình thực hiện phong trào Làng mới thực hiện thành công đến đầu những năm 1990, khu vực nông nghiệp, nông thôn có dấu hiệu phát triển chững lại. Trong khi đó khu vực thành thị và các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ có sự phát triển vượt bậc tạo ra nguồn thu lớn có thể hỗ trợ trở lại cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Để duy trì và hỗ trợ khu vực nông thôn, Chính phủ đã xây dựng mô hình phát triển nông thôn toàn diện tại 112 điểm trên phạm vi toàn quốc. Chính phủ thực hiện đầu tư toàn bộ công trình cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội đồng bộ và đạt tiêu chuẩn hiện đại tại từng điểm.
Tuy nhiên vì không duy trì được sự phát triển có tính bền vững của mô hình thí điểm nên chương trình đã không được triển khai nhân rộng bắt nguồn từ các nguyên nhân do công việc vất vả thu nhập thấp, còn do các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa không thể tốt và thuận lợi bằng như ở khu vực đô thị. Đây là bài học Việt Nam cần tính đến trong lộ trình thực hiện sau quá trình xây dựng nông thôn cấp cơ sở (nông thôn mới) của mình, có phải xây các công trình có chất lượng quá tốt tại khu vực nông thôn không?
Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đẹp tráng lệ. Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra hoàn toàn.
Theo các đánh giá khách quan mô hình nông thôn mới của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra, làn song người dân rời bỏ khu vực nông nghiệp, nông thôn diễn ra ngày càng mạnh.
Vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra ở đại đa số các vùng nông thôn có sản xuất làng nghề. Những tồn tại trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc hiện nay cũng là câu chuyện cũng tương tự với những quốc gia khác như Thái Lan, Đài Loan mà Việt Nam cần nhận rõ trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới.
Phát triển nông thôn Làng mới tại Hàn Quốc, đến đầu những năm 1990 có dấu hiệu chững lại và đi xuống. Nguyên nhân do công việc vất vả thu nhập thấp, còn do các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa không thuận lợi bằng như ở khu vực đô thị. Đây là điều Việt Nam có thể học học khi tính đến điều gì cần thực hiện sau quá trình xây dựng nông thôn mới của mình, có phải xây các công trình có chất lượng quá tốt tại khu vực nông thôn không? Một chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở thành công có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc về cả kinh tế, xã hội và môi trường, thúc đẩy sự phát triển nói chung của cả mỗi vùng, mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, có thể tóm tắt 3 nguyên tắc chính từ các nước đi trước có thể áp dụng vào xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam là phát huy vai trò và sự tham gia cộng đồng, xác định mục tiêu và nội dung, phát huy vai trò hỗ trợ.
Phát triển nông thôn cấp cơ sở là một phần quan trọng trong phát triển nông thôn, nhưng vẫn có gắn bó hữu cơ, không thể tách rời các phần khác trong phát triển nông thôn như phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng thể chế, chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng quy mô lớn, phát triển y tế, giáo dục…. Các nội dung khác nhau của phát triển nông thôn cấp cơ sở được tổ chức triển khai ngay tại địa bàn nông thôn cụ thể, tác động qua lại đến từng hộ dân, từng cộng đồng dân cư.
Một chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở thành công có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc về cả kinh tế, xã hội và môi trường, thúc đẩy sự phát triển nói chung của cả mỗi vùng, mỗi quốc gia. Tuy nhiên, có thể tóm tắt một số bài học chính từ các nước đi trước có thể áp dụng vào chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
Phát huy vai trò và sự tham gia của cộng đồng, sự tham gia của cộng đồng có vai trò quan trọng, huy động được sự tham gia tự nguyện của cộng đồng vào việc thực hiện các nội dung khác nhau quyết định đến việc thực hiện thành công, đến khả năng triển khai trên diện rộng của chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở. Ngược lại để có thể triển khai trên diện rộng, cần thực hiện phân cấp và phải giao được quyền làm chủ cho cộng đồng.
Thông qua thực hiện quyền làm chủ để nâng cao năng lực của cộng đồng, cộng đồng chủ động không chỉ tham gia đóng góp nguồn lực cho đầu tư xây dựng mà còn tham gia mạnh mẽ từ khâu xây dựng định hướng thực hiện, quy hoạch nông thôn mới và quan trọng nữa là tham gia giám sát quá trình thực hiện tại cơ sở.
Hỗ trợ vật chất của bên ngoài, của Nhà nước cho các cộng đồng thông qua hình thành Quỹ phát triển (địa phương, hay thôn ấp, xã tùy theo cách gọi) để cộng đồng chủ động quản lý sử dụng, trong đó cộng đồng sẽ quyết định việc sử dụng cho hoạt động ưu tiên gì, cách thức như thế nào… đang chứng tỏ có nhiều triển vọng thành công.
Xác định rõ mục tiêu và nội dung, điều kiện xem xét, yêu cầu phát triển nông thôn cấp cơ sở bao gồm nhiều nội dung khác nhau như về phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, môi trường,… đi kèm theo điều kiện phải được triển khai trên diện rộng trong những điều kiện về tổ chức, nguồn lực cao nhất có thể đã chỉ ra các khung yêu cầu chung cho một chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở.
Xây dựng tính đồng nhất về đặc trưng cơ bản dựa trên đó làm căn cứ để triển khai chương trình. Ở đây là khu vực nông thôn so với khu vực đô thị, tham vọng chương trình tổng hợp đa dạng cùng tập trung đáp ứng các loại hình khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội là không khả thi.
Phát triển kinh tế, phát triển kinh tế thành công quyết định thành công của phát triển nông thôn cấp cơ sở, bất kỳ chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở nào thành công đều là nhờ việc phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập từ đó dẫn đến cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn. Các chính sách về đất đai, liên kết sản xuất và tiêu thụ, chế biến nâng cao giá trị gia tăng, tín dụng, bảo hiểm, đào tạo nghề, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp,… có vai trò quan trọng.
Chỉ có sự đột phá về ý tưởng với cách làm mới, cơ chế mới, khác với cách làm thông thường mới có thể xây dựng một chương trình nông thôn mới thật sự có hiệu quả, làm đòn bẩy cho phát triển nông thôn cấp cơ sở; các cách làm thông thường vẫn có thể hỗ trợ cho việc thực hiện, nhưng sẽ khó có thể tạo ra một chương trình nông thôn mới thực sự thành công vì chỉ có tốc độ phát triển bình thường.
Phát huy vai trò của tổ chức hỗ trợ, Nhà nước có vai trò quan trọng trong hình thành, tổ chức và hỗ trợ thực hiện các chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở. Do đặc điểm của mình, phát triển nông thôn cấp cơ sở cần đến sự hỗ trợ tối đa từ Nhà nước về cơ chế chính sách, về kinh phí và kỹ thuật.
Tùy theo trình độ phát triển của khu vực nông thôn, hình thức và mức độ hỗ trợ sẽ khác nhau. Trình độ phát triển thấp, mức độ đói nghèo cao đòi hỏi sự giúp đỡ to lớn hơn của Nhà nước, các hỗ trợ dưới hình thức trực tiếp, xây dựng và cung cấp các điều kiện sống cơ bản cho cộng đồng dân cư như phát triển sản xuất, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu, xây dựng nhà ở xóa bỏ tình trạng nhà tranh tre dột nát…
Trình độ phát triển cao hơn, sự giúp đỡ của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ chế chính sách là chính để tháo bỏ các rào cản, giải phóng sức sản xuất, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế có hiệu quả, trên cơ sở đó quay lại hỗ trợ cho các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, môi trường phát triển theo.
Nghiên cứu xây dựng chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở là công việc lâu dài và nhiều thách thức. Để tìm ra cách thức, mô hình có hiệu quả trong phát triển nông thôn nói chung và phát triển nông thôn cấp cơ sở nói riêng luôn là công việc khó khăn do vừa là vấn đề kỹ thuật vừa là vấn đề quản lý, xã hội. Việc xây dựng mô hình thử nghiệm cần có sự tiếp thu và học hỏi từ các kinh nghiệm và bài học đã có trước đây.(Xây Dựng 2/5) Về đầu trang
Đồng Tháp: Mô hình “Cổng rào nhân dân tự phòng, tự quản” phát huy hiệu quả
“Cổng rào an ninh trật tự” là mô hình do Hội Nông dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò xây dựng và thực hiện từ kinh nghiệm học được ở một số tỉnh lân cận. Đây là mô hình tự quản về an ninh trật tự do nhân dân ở các ấp, khu dân cư tự đóng góp kinh phí xây dựng và hoạt động.
Ông Lê Tấn Phong – Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Thạnh cho biết, xã Vĩnh Thạnh có địa bàn rộng, giáp ranh với nhiều xã khác, đường giao thông liên ấp, liên xã được láng nhựa, bê tông hóa do đó các đối tượng dễ dàng trốn thoát. Mỗi khi xuất hiện các vụ trộm cướp, công an địa phương rất vất vả trong việc đuổi bắt. Từ thực tế trên, Hội Nông dân xã tiến hành xây dựng cổng rào phòng chống tội phạm tại các điểm xung yếu, giáp ranh với các địa bàn khác.
Bước đầu xã thí điểm mô hình trên tại ấp Nhơn Quới nơi giáp ranh giữa xã Long Hưng A với xã Tân Mỹ, Mỹ An Hưng B. Cổng được làm bằng cột bê tông cố định, còn cửa rào làm bằng lưới B40. Theo đó, trên cổng rào sẽ ghi số điện thoại của người tình nguyện trực đóng cổng, khi phát hiện tội phạm, người dân gọi điện cho người trực cổng. Người đó có trách nhiệm đóng cổng lại, báo cho người dân xung quanh hay tin để cùng lực lượng chức năng truy bắt tội phạm. “Từ ngày xây dựng cổng đến nay, tình trạng trộm cắp đã giảm hẳn. Các đối tượng phạm tội cũng ngán ngại, không dám manh động khi nhìn thấy các “Cổng rào an ninh trật tự”. Bên cạnh đó, người dân địa phương cũng hợp lực, đoàn kết hơn, chung tay bảo vệ bình yên xóm làng” - ông Phong cho hay. (Baodongthap.com.vn 2/5) Về đầu trang
Phú Thọ: Hiệu quả mô hình Dân vận khéo của Hội nông dân huyện Lâm Thao
Thời gian qua, Hội nông dân huyện Lâm Thao đã triển khai các mô hình Dân vận khéo gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như: Tiếng kẻng vệ sinh môi trường; Bể nước môi trường và Ánh sáng quê tôi. Các mô hình này được Hội nông dân huyện triển khai đến 100% hội nông dân các xã, thị trấn, nhân rộng trong các chi, tổ hội, được nhân dân hưởng ứng tham gia.
Với mô hình “Ánh sáng quê tôi”, các cấp hội vận động hội viên, nhà tài trợ ủng hộ được trên 2,2 tỷ đồng làm đường điện. Đến nay, đường làng, ngõ xóm 14/14 xã, thị trấn của huyện đều có điện chiếu sáng. Điện được thắp sáng từ 18h hôm trước đến 6h sáng hôm sau. Để duy trì điện đường luôn sáng, hàng tháng mỗi hộ dân đóng góp từ 1 nghìn đồng đến 5 nghìn đồng để chi phí cho việc sửa chữa và trả tiền điện.
Trước thực trạng môi trường nông thôn bị ô nhiễm do người dân nông thôn vẫn có thói quen đổ trực tiếp nước thải từ chăn nuôi, nước thải sinh hoạt ra cống rãnh, đường làng, ngõ xóm gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan. Để giải quyết tình trạng này, Hội nông dân phối hợp với Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên xây dựng mô hình “Bể nước môi trường”. Ban đầu có 6 hội viên nông dân của xã Hợp Hải xung phong làm điểm. Sau một thời gian ngắn, nhiều hộ dân thấy rõ giữ gìn vệ sinh chung là việc cần làm. Đến nay, toàn huyện đã xây dựng được 367 bể, mỗi bể được Nhà nước hỗ trợ một phần xi măng, còn lại gia đình đóng góp. Hội nông dân các xã, thị trấn còn vận động hội viên đóng góp 660 triệu đồng xây trên 10 nghìn m2 nắp đậy cống và rãnh thoát nước thải trên địa bàn khu dân cư. Việc làm này đã góp phần đưa môi trường nông thôn ngày càng sạch đẹp.
Thấy rõ lợi ích từ mô hình “Bể nước môi trường” đem lại, Hội nông dân tiếp tục phối hợp với các hội đoàn thể triển khai mô hình “Tiếng kẻng môi trường”. Cứ vào ngày 15 và 30 hàng tháng, tiếng kẻng môi trường lại vang lên trên khắp đường làng, ngõ xóm thúc giục bà con nhanh tay vệ sinh khu vực quanh nhà mình ở và trên các con đường trong khu dân cư. Ở thị trấn Lâm Thao, “Tiếng kẻng môi trường” có sự phối hợp của Hội nông dân và Mặt trận Tổ quốc, làm điểm ở chi hội Thùy Nhật với sự tham gia của 350 hội viên, sau đó nhân rộng ra 11/11 chi hội, mỗi chi hội đều bố trí hợp lý 2 ngày trong tháng để quét dọn vệ sinh môi trường chung. (Baophutho.vn 2/5) Về đầu trang
Có thể nói, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã nhận được quan tâm đặc biệt của dư luận cả nước.
Trước đó, hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa XI tại Hà Nội vào tháng 1, cũng đưa ra bàn bạc và thảo luận nhiều nội dung quan trọng, trong đó có vấn đề tinh giản biến chế của bộ máy hành chính công.
Trong tháng 11 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định về chính sách tinh giản biên chế, bước đi đầu tiên để thực hiện lộ trình chiến lược cải cách hành chính của Chính phủ đến năm 2020. Theo đó, đến hết năm 2020, sẽ có khoảng 100.000 cán bộ, công chức, viên chức bị loại khỏi biên chế và Chính phủ dự kiến chi khoảng 8.000 tỉ đồng để giải quyết chế độ. Những diễn biến dồn dập nêu trên cho thấy tính cấp thiết của việc tinh giản biên chế của hệ thống chính trị nước nhà hiện nay.
Được biết, trong vòng 10 năm lại đây, Chính phủ đã 4 lần thực hiện tinh giản biên chế bộ máy hành chính nhưng có một thực tế đáng buồn là càng tinh giản biên chế thì bộ máy hành chính nhà nước càng phình to. Hiện tại, cả nước có đến 2,8 triệu cán bộ, công chức, viên chức. Nếu cộng với đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, con số này lên tới con số 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước, cao hơn nhiều so với số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước của Trung Quốc, chỉ chiếm 2,8%.
Trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội kỳ họp thứ 8 khóa XIII mới đây, ông Nguyễn Thái Bình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nêu số lượng cấp phó ở cấp bộ, ngang bộ đã mọc ra quá nhiều. Hằng năm, kế hoạch biên chế công chức của các bộ, ngành, địa phương gửi về Bộ Nội vụ luôn đề nghị tăng từ 9-11% so với biên chế công chức giao của năm trước. “Bộ máy hành chính nhà nước của ta công kềnh là vì ở ta chưa có cơ chế chịu trách nhiệm về chất lượng nhân sự một cách rõ ràng” – ông Bình nhận xét.
Lâu nay, công tác đánh giá, nhận xét cán bộ, công chức, viên chức ở nhiều cơ quan, đơn vị thiếu trung thực, khách quan, không phản ánh đúng tình hình. Theo báo cáo, tổng hợp của Bộ Nội vụ, năm 2013 chỉ có 0,46% công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ. Trong thực tế, số công chức, viên chức không được việc, sớm cắp ô đi, chiều cắp ô về…còn nhiều hơn thế; có số liệu báo cáo là 30%.
Rõ ràng, bộ máy hành chính công của chúng ta quá cồng kềnh, nặng nề và hiệu quả thấp nên cần có kế hoạch, giải pháp tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, lấy chất lượng, hiệu quả làm đầu. Tuy nhiên, việc tinh giản biên chế bộ máy hành chính nhà nước trong tình hình hiện nay sẽ không đơn giản và không dễ dàng thực hiện được đúng lộ trình, bởi còn quá nhiều rào cản hữu hình và vô hình trong bộ máy, trong văn hóa, trong con người Việt.
Do vậy, theo chúng tôi, đã đến lúc Chính phủ và các cơ quan từ trung ương tới địa phương cần quyết liệt thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thanh lọc tổ chức bộ máy hành chính; từng bước nghiên cứu và ban hành cơ chế người đứng đầu chịu trách nhiệm về nhân sự để bịt các “lỗ hổng”, nhất là trong tuyển đầu vào, trong đánh giá cán bộ, công chức, viên chức bằng hình thức thi tuyển chặt chẽ và tổ chức sát hạch chất lượng công việc của các nhân sự công bằng, khách quan. Làm đồng bộ, thường xuyên, đến nơi đến chốn từ trung ương tới địa phương, mọi lĩnh vực, ngành nghề. Nơi nào, địa phương nào không làm hoặc làm đối phó, hình thức thì có hình thức xử lý, kỷ luật thật nặng, thật nghiêm.
Nói đi đôi với làm. Cái duy tình, dễ dãi, xuề xòa, các mối “ quan hệ” khác, trong tuyển chọn và đánh giá nhân sự, công chức, viên chức cần đẩy lùi triệt để, xây dựng quy trình tuyển dụng và giám sát, kiểm tra một cách chặt chẽ, minh bạch, thống nhất. Tiến đến, cơ quan, đơn vị nhà nước, năm nào cũng có tuyển mới (để chọn những người có năng lực, phẩm chất tốt) và sẵn sàng sa thải, loại dần những cán bộ, công chức, viên chức không làm được việc, dựa trên các tiêu chí, phân loại cán bộ cụ thể, công khai, giao toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị ấy.
Chỉ có vậy, mới xây dựng được một bộ máy hành chính, chính trị gọn nhẹ, làm việc minh bạch, năng động, hiệu quả, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Chỉ có vậy, lương bổng, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức mới khấm khá lên. (Người Lao Động 28/4) Về đầu trang
Chậm tiến độ sắp xếp lại nhà, đất công
Cho biết về tiến độ kiểm tra sắp xếp lại nhà, đất trong thời gian qua trên địa bàn TP Hà Nội và TP HCM, bà Tạ Thanh Tú, Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) cho biết, qua hơn 8 năm triển khai thực hiện sắp xếp lại nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, tính đến nay, các cấp có thẩm quyền đã phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý đối với 121.677 cơ sở nhà, đất trên tổng số 153.573 cơ sở nhà, đất phải sắp xếp lại, xử lý của các bộ, ngành và địa phương (đạt tỷ lệ 79%).
Tổng số tiền thu được từ bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất của các bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các địa phương trên phạm vi cả nước là 28.340 tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo bà Tú, mặc dù công tác sắp xếp lại nhà, đất đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng tiến độ triển khai công tác này vẫn còn chậm mà nguyên nhân là một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác này. Bên cạnh đó là nguồn gốc nhà, đất được hình thành qua nhiều giai đoạn, việc lưu giữ hồ sơ không đầy đủ, bị thất lạc, ảnh hưởng đến tiến độ sắp xếp.
Tỷ lệ phần trăm chưa đạt được chủ yếu nằm ở các phương án như đơn vị được giữ lại cơ sở nhà, đất nhưng lại chưa làm thủ tục để được giữ lại; hoặc một số cơ sở nhà, đất chưa di dời được dân đi (chiếm khoảng 20%).
Đặc biệt nhiều bộ, ngành trước đây đã bố trí cho các cá nhân làm nhà ở trong khuôn viên cơ quannhưng nay không có chủ trương bán mà chỉ di dời như tòa án, viện kiểm soát nên không có nguồn kinh phí để hỗ trợ các hộ dân nên còn bị chậm.
Dự kiến trong tháng 5 này, Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan và UBND TP Hà Nội tiến hành kiểm tra phương án sắp xếp, xử lý nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt của các bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty trên địa bàn.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra tại 2 thành phố lớn này, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp các vướng mắc để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý với những vướng mắc vượt thẩm quyền. Đồng thời, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sáchgiúp cho các bộ, ngành, địa phương thuận lợi trong quá trình thực hiện để việc sắp xếp lại nhà, đất hoàn thành vào năm 2018 như kế hoạch đã đề ra. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 2/5) Về đầu trang
Tham nhũng vẫn dai dẳng với “chủ nghĩa vị thân”
Mặc dù có những chỉ đạo từ cấp cao nhất nhưng kết quả khảo sát năm 2014 cho thấy, tham nhũng dù nhỏ vẫn còn tồn tại dai dẳng. Tình hình tham nhũng và hối lộ trong khu vực công vẫn còn là vấn đề thường trực và có xu hướng gia tăng ở nhiều ngành, lĩnh vực.
Những số liệu về chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam 2014 (PAPI 2014) vừa được công bố tiếp tục cho thấy phòng, chống tham nhũng vẫn phải là ưu tiên hàng đầu trong những nỗ lực phát triển.
Biểu hiện đáng lo ngại là công bằng trong tuyển dụng nhân lực vào khu vực công vẫn còn là mục tiêu khó đạt dù dã tiến hành cải cách khu vực này. Năm 2014, theo đánh giá của người dân về tầm quan trọng của việc thân/quen người có chức, có quyền khi xin việc vào 5 vị trí cấp xã/phường (công chức địa chính, tư pháp, công an, giáo viên tiểu học công lập và nhân viên văn phòng UBND), “chủ nghĩa vị thân” còn rất phổ biến ở tất cả các tỉnh/thành phố và dường như đã thành vấn đề phổ biến trong hệ thống nhà nước, thậm chí ở cấp chính quyền thấp nhất, là một phần rất quan trọng đối với những người mong muốn theo đuổi sự nghiệp trong khu vực này.
Trong 5 thành phốtrực thuộc trung ương, tuyển dụng công chức, viên chức ở TP.HCM và Đà Nẵng có xu hướng minh bạch hơn so với Hà Nội, Hải Phòng và Cần Thơ – 3 thành phố thuộc về nhóm 15 tỉnh đạt điểm thấp nhất ở các tiêu chí này. Ở Thái Nguyên chỉ có 12% số người được hỏi thừa nhận không cần phải đưa “lót tay” mới xin được việc làm trong khu vực công. Nhưng ở Hà Giang thì không có vị trí nào trong 5 vị trí trong chính quyền và dịch vụ công ở cơ sở là không cần đến quan hệ cá nhân.
So với kết quả khảo sát năm 2013, số người dân đồng ý với nhận định “cán bộ chính quyền không dùng tiền công quỹ vào mục đích riêng”, “không phải chi thêm tiền để được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, “không chi thêm tiền để nhận được giấy phép xây dựng” có xu hướng giảm đi. Các tỉnh, thành phía Nam và miền Trung vẫn là những nơi được người dân cho là các hiện tượng tham nhũng nêu trên ít xảy ra hơn.
Song phổ biến là hiện tượng người dân phải chi thêm ngoài qui định khi sử dụng dịch vụ giáo dục công lập, dịch vụ bệnh viện tuyến huyện. Giải quyết vấn đề hối lộ ở các trường tiểu học vẫn còn là thách thức lớn đối với các tỉnh, thành. Ở khoảng 30 tỉnh, thành phố, tỷ lệ người trả lời cho biết không có hiện tượng “bồi dưỡng” ngoài qui định cho giáo viên trường tiểu học công lập để con em được quan tâm hơn, dao động từ 12,38 - 36,5%.
Tỷ lệ người được hỏi đánh giá chính quyền cấp tỉnh nghiêm túc trong xử lý các vụ việc tham nhũng được phát hiện ở địa phương là 38,7%, tăng so với năm 2011 (34%), tương đương năm 2013. Tuy nhiên vẫn còn 1/4 người được hỏi cho rằng chính quyền chưa nghiêm túc trong việc này và 2/3 người được hỏi không biết có nghiêm túc haykhông.
Vì thế, vẫn có đến 56% người được hỏi không tố cáo tham nhũng vì cho rằng tố cáo cũng không mang lại lợi ích gì. Kể từ năm 2011, chính quyền cấp tỉnh miền Trung và phía Nam được người dân đánh giá về hiệu quả kiểm soát tham nhũng cao hơn so với các tỉnh phía Bắc. Nỗ lực kiểm soát tham nhũng ở cấp tỉnh năm 2014 chưa đem lại hiệu quả, thậm chí có phần hạn chế hơn so với 3 năm trước.
Vì vậy, tại buổi họp báo về công tác thanh tra quý I/2015, Phó Tổng Thanh tra Trần Đức Lượng đánh giá, nhận định của PAPI 2014 rằng “tình hình tham nhũng còn nghiêm trọng”là phù hợp với đánh giá nhận định các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Do đó, trong năm 2015, Thanh tra Chính phủ sẽ tiếp tục quan tâm hoàn thiện thể chế, đặc biệt là thể chế pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Hiến pháp mới và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đặc biệt, tronglần tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng chống tham những tới đây, các cơ quan chức năng sẽ rà soát lại hệ thống các biện pháp phòng ngừa, các thiết chế phát hiện, các chế tài xử lý tham nhũng. “Bắt đầu từ việc sửa đổi Bộ luật Hình sự, Thanh tra Chính phủ đang tích cực phối hợp với Ban soạn thảo bổ sung các chế định mới làm nền tảng cho việc hình thành Luật Phòng, chống tham nhũng sau này” – ông Lượng cho biết. (Pháp Luật Việt Nam 1/5) Về đầu trang
Phải xin lỗi bằng văn bản nếu giải quyết thủ tục hành chính quá hạn
Theo quyết định b an hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương do Thủ tướng ban hành chính thức có hiệu lực từ 1/5 này, cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ sẽ phải xin lỗi nếu giải quyết chậm.
Quyết định này đã gia tăng ràng buộc trách nhiệm đối với cán bộ, công chức hành chính Nhà nước từ cấp xã.
Cụ thể, quy chế nêu rõ:Nếu thẩm định cho thấy hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết, công chức phải báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ và thông báo bằng văn bản lý do không giải quyết. Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định.
Các hồ sơ quá hạn giải quyết, cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và có văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn và thời hạn mới để trả kết quả. (Công An Nhân Dân 2/5) Về đầu trang
Sắp áp dụng cơ chế một cửa về các thủ tục hành chính
Các cá nhân và tổ chức sắp tới đây có thể sẽ được giảm bớt rất nhiều thời gian và phiền hà trong khâu làm các thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực: đầu tư, đất đai; đăng ký kinh doanh; giấy phép xây dựng; tư pháp và các lĩnh vực khác thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước.
Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg Thủ tướng đã ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đã quy định về một đầu mối tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính nói trên cho các tổ chức và cá nhân sắp tới. Quyết định này sẽ thay thế Quyết định 93/2007/QĐ-TTg và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành vào trung tuần tháng này (tức ngày 15-5 tới).
Cơ chế một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước.
Theo đó, thủ tục tiếp nhận hồ sơ đối với quy trình một cửa theo quy định mới thực hiện như sau: Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến. Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết…
Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức.
Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức.
Theo cơ chế mới tại quyết định 09, người làm việc tại bộ phận một cửa phải là công chức (theo quy định hiện hành quy định chung là cán bộ, công chức). Công chức tại bộ phận một cửa phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hành chính; hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần.
Điều này theo giới chuyên môn sẽ giúp cho người dân và doanh nghiệp rất nhiều trong khâu làm các thủ tục với các cơ quan hành chính nhà nước so với cách làm hiện nay vốn rất phiền hà.
Các cơ quan áp dụng gồm cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; UBND xã, phương, thị trấn; cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương. Quyết định 09 cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan trung ương, địa phương trong việc phối hợp thực hiện quy chế một cửa, một cửa liên thông. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn1/5) Về đầu trang
TPHCM: Hướng đến nền hành chính hiện đại
Trong những năm qua, TPHCM thực hiện cải cách hành chính một cách đồng bộ trên các lĩnh vực thể chế và thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, cải cách hành chính công và hiện đại hóa nền hành chính... Những kết quả đạt được của TPHCM về cải cách hành chính đã góp phần phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Theo kế hoạch thực hiện cải cách hành chính, Sở TT&TT TPHCM được giao nhiệm vụ nghiên cứu, thực hiện đồng bộ hệ thống dữ liệu phục vụ tốt nhu cầu quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, đặc biệt là sự kết nối giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục hành chính theo mô hình chính quyền điện tử, đảm bảo an toàn thông tin và bí mật thông tin.
“Chương trình phát triển Công nghệ Thông tin - Truyền thông giai đoạn 2011-2015” và “Chương trình phát triển ứng dụng thông tin trên công nghệ nguồn mở giai đoạn 2012-2015” về việc thực hiện có hiệu quả việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước là hai trong số các chương trình chủ đạo về cải cách thủ tục hành chính do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt.
Bà Võ Thị Trung Trinh, Phó Giám đốc Sở TT&TT cho biết: “Cải cách hành chính tại Sở Thông tin và Truyền thông bắt đầu từ những việc rất nhỏ. Lấy ví dụ, trước đây để xin phép một vấn đề có liên quan đến người nước ngoài thì phải lấy ý kiến nhiều sở, ngành trên thành phố bằng văn bản. Nay Sở tự xây dựng hệ thống liên lạc với các sở, ngành đó qua internet để rút ngắn thời gian gửi văn bản, tạo điều kiện cho cá nhân và doanh nghiệp được giải quyết nhanh nhu cầu của mình.
Sở cũng đẩy mạnh việc nộp bảng mô tả công việc của các cán bộ trong sở để phối hợp với các phòng đào tạo kỹ năng cho phù hợp từng vị trí, nếu không phù hợp sẽ bố trí việc khác cho hợp lý. Sở chú trọng đào tạo cán bộ, nhân viên các kỹ năng riêng về giao tiếp hay các lớp ngắn hạn với các chuyên gia trong từng lĩnh vực như ngoại giao, luật, truyền thông... để tạo ra sự thoải mái đối với những người dân, đại diện doanh nghiệp đến làm việc”.
Tính đến hết năm 2014, các phường, thị trấn tại Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng chỉ số ISO vào lĩnh vực hành chính công ở mức 60% và hướng đến triển khai 100% chỉ số này trên toàn địa bàn thành phố. Đây là cơ sở để đánh giá việc cải cách hành chính và đánh giá hiệu quả quản lý các thủ tục cải cách hành chính của cán bộ, viên chức nhà nước.
Điểm mới của công tác cải cách thủ tục hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh là việc đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực như y tế, giáo dục-đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao, cơ sở hạ tầng đô thị... mà không nhất thiết phải sử dụng ngân sách thành phố.
Theo đó, UBND TPHCM chủ trương nghiên cứu và đưa ra các chính sách, giải pháp để các thành phần kinh tế ngoài nhà nước có thể thuận tiện tham gia đầu tư vào các lĩnh vực nói trên để tăng tính cạnh tranh, đặc biệt là tính cạnh tranh của dịch vụ hành chính công.
UBND TPHCM đã giao Sở Tư pháp thành phố hoàn thiện các giải pháp chấn chỉnh và tăng cường hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính cho các cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố và sửa đổi, bổ sung các quy định thủ tục hành chính không còn phù hợp, thiếu đồng bộ và hạn chế tối đa các tiêu cực nảy sinh, gây phiền hà cho người dân để đáp ứng yêu cầu phát triển.
Sở Nội vụ sẽ xây dựng kế hoạch và theo dõi công tác cải cách hành chính đối với tất cả các đơn vị nhà nước trên địa bàn thành phố và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đồng thời thanh tra, xử lý các cán bộ, viên chức, tập thể thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ. (TTXVN 1/5) Về đầu trang
Đắk Nông đình chỉ công tác một Chủ tịch xã vì để mất rừng
Ngày 1/5, ông Ngô Văn Linh, Chủ tịch UBND thị xã Gia Nghĩa - Đắk Nông, cho biết vừa ký quyết định đình chỉ công tác ông Phạm Công Chiến (Chủ tịch UBND xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa) để làm rõ trách nhiệm trong việc buông lỏng quản lý, làm rừng bị phá với diện tích lớn tại địa bàn xã mà không có biện pháp ngăn chặn và báo cáo cấp trên kịp thời.
Trong những năm qua, nhiều diện tích rừng tự nhiên ở xã Quảng Thành do Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (trực thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa) quản lý bị tàn phá nặng nề. Tính riêng trong 3 tháng đầu năm nay, tại đây đã xảy ra 51 vụ phá rừng, làm thiệt hại 108.825ha rừng tự nhiên, trong đó đơn vị quản lý rừng chỉ phát hiện được 24 vụ với 38.655ha rừng bị phá.
Trong khi đó, việc giao khoán bảo vệ rừng của Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín cũng có nhiều sai phạm. Chỉ tính trong hai năm 2013 và 2014, xí nghiệp này đã giao khoán cho 21 hộ với 6.895ha đất trống để thực hiện trồng rừng, nhưng qua kiểm tra, toàn bộ diện tích đất giao khoán trên đều có nguồn gốc từ phá rừng. Ngoài ra, có 13 hộ nhận rừng giao khoán với 7.455ha và một số diện tích rừng đã bị phá, nhưng đơn vị chưa phát hiện hoặc không báo cáo. (Nhân Dân 1/5) Về đầu trang
Bình Phước: Kế toán chiếm đoạt trên 5,6 tỉ đồng tiền cứu trợ lũ lụt
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước cho biết, đã hoàn tất kết luận điều tra vụ án “tham ô tài sản” xảy ra từ năm 2009 đến 2013 tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Phước do Huỳnh Nguyễn Quế Trâm (SN 1981, thường trú tỉnh Bình Dương), đã bị bắt giam tháng 5/2013. Hồ sơ vụ án đã được chuyển đến VKSND cùng cấp đề nghị truy tố trước pháp luật.
Từ năm 2009-2013, Trâm đã dùng các thủ đoạn nhiều lần làm khống các quyết định của Mặt trận Tổ quốc Bình Phước, các thông báo, công văn của Tỉnh ủy Bình Phước về việc thuận chủ trương chi tiền từ nguồn cứu trợ lũ lụt để ủng hộ các tỉnh bị thiên tai bão lũ gây ra. Tiếp đó, Trâm làm giả các chứng từ rút tiền rồi ký giả mạo chữ ký của ông Trần Văn Gôm, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Bình Phước là chủ tài khoản trên các chứng từ này và đến Kho bạc Bình Phước và Ngân hàng BIDV rút tiền từ tài khoản ủng hộ khắc phục hậu quả thiên tai, tài khoản ngân sách, tài khoản tiền gửi để chiếm đoạt.
Tổng cộng số tiền Trâm chiếm đoạt tại ngân hàng và kho bạc trên 7,2 tỉ đồng. Quá trình điều tra Công an đã thu hồi được trên 1,5 tỉ đồng tiền Trâm nộp vào các tài khoản để khắc phục hậu quả. Như vậy số tiền còn lại mà Trâm đã chiếm đoạt là trên 5,6 tỉ đồng.
Cũng theo kết luận điều tra, ông Trần Văn Gôm, với vai trò là chủ tài khoản các nguồn cứu trợ lũ lụt, nguồn ngân sách và tiền gửi khác nhưng đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý các nguồn tài chính của đơn vị, để cấp dưới tham ô tài sản suốt một thời gian dài.
Công an tỉnh Bình Phước cũng đã có công văn đề nghị Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xem xét xử lý kỷ luật về mặt Đảng đối với ông Gôm theo quy định. (Công An Nhân Dân 28/4) Về đầu trang
Quảng Nam: Sẽ kỷ luật lãnh đạo xã “nẫng” nhím của dân
Ông Lê Tấn Trung - Chủ tịch UBND huyện Quế Sơn ngày 26/4 cho biết: “UBND huyện Quế Sơn đã có kết luận thanh tra về việc nhím của chương trình nông thôn mới hỗ trợ người dân phát triển kinh tế “chạy” vào nhà cán bộ xã Quế Long khiến dư luận bức xúc”.
Theo kết luận thanh tra, tháng 6/2011 UBND huyện Quế Sơn đã phân bổ về cho xã Quế Long 325 triệu đồng để thực hiện chương trình nông thôn mới hỗ trợ người dân sản xuất. Sau đó UBND xã Quế Long lập đề án nuôi nhím thương phẩm nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Nhưng khi triển khai thực hiện, UBND xã Quế Long và Ban Quản lý đề án đã không thông báo công khai cho dân biết. Các ông Trần Hữu Sáu (Phó Bí thư xã), Đỗ Đình Hùng (Phó Chủ tịch UBND xã) và Đỗ Văn Kiên (Chủ nhiệm Hợp tác xã) đã tự nhận nhím để nuôi một cách không minh bạch, gây dư luận không tốt.
Ông Lê Tấn Trung, Chủ tịch UBND huyện Quế Sơn, yêu cầu các ngành chức năng của huyện nhanh chóng thành lập hội đồng kỷ luật để tiến hành kiểm điểm, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân sai phạm. (Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh 27/4) Về đầu trang
Trung Quốc đặt mục tiêu mới trong chống tham nhũng
Trung Quốc đang rung lên hồi chuông báo động về các lễ trao giải văn hóa, một trong những hình thức tiêu tốn tiền nhà nước và tham nhũng kín đáo. Theo các nhà điều tra, nhiều quan chức chính phủ lợi dụng các sự kiện này để tăng cường sức ảnh hưởng, quyền lực của mình thông qua những bữa tiệc tốn kém và những món quà xa xỉ.
Theo Tân Hoa xã, tại một cuộc họp tuần qua, giới chức Bộ Văn hóa Trung Quốc ra tuyên bố “nghiêm cấm việc nhận những khoản tiền hay quà bất hợp pháp nhân danh nghệ thuật”. Ngoài ra, Bộ Văn hóa sẽ xem xét lại việc tổ chức các lễ trao giải văn học và nghệ thuật, đồng thời hủy bỏ hoặc hợp lý hóa một số giải thưởng.
Các chương trình trao giải văn học và nghệ thuật trong các dịp lễ cũng sẽ bị hủy, coi đây là mục tiêu mới trong chiến dịch chống tham nhũng quốc gia. (Tin Tức 2/5) Về đầu trang./.
SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
- Bản tin ngày 27/4/2015 (05/05/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 27/4/2015 (05/05/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 25/4/2015 (27/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 24/4/2015 (25/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 23/4/2015 (24/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 22/4/2015 (23/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 21/4/2015 (22/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 20/4/2015 (20/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 17/4/2015 (17/04/2015)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 16/4/2015 (17/04/2015)

