Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 22/8/2022

Font size : A- A A+

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

1.        Moody's: Việt Nam tăng trưởng 8,5% năm 2022, cao nhất châu Á - Thái Bình Dương

2.        Bloomberg: Việt Nam có thể vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7% nếu...

3.        ILO: Việt Nam là câu chuyện thành công của thế giới về chuyển đổi cơ cấu lao động

4.        Chất lượng lao động chưa phải là "vàng"!

5.        Bộ GTVT yêu cầu xử lý nghiêm việc lợi dụng tăng giá bất hợp lý

6.        5 thành phố trực thuộc Trung ương hút bao nhiêu vốn FDI 7 tháng đầu năm 2022?

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

7.        Phú Yên: Hiệu quả từ mô hình khai hoang đất, chia ruộng cho người nghèo

PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN

8.        Không thể chậm trễ!

QUẢN LÝ

9.        Gần 9.500 viên chức nghỉ việc từ đầu năm 2021, Bộ Y tế đề xuất giải pháp

10.     Thủ tướng: Các bộ, ngành, địa phương phối hợp xử lý những vấn đề cấp bách của ngành y tế

11.     Vì sao chậm giải ngân gói hỗ trợ lãi suất 2%?

12.     Tinh giản biên chế theo kiểu cơ học xảy ra ở nhiều địa phương?

13.     Bình Dương hỗ trợ đặc biệt cho nhân viên y tế, giáo dục

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

14.     Vì sao người dân chưa mặn mà sử dụng dịch vụ công trực tuyến?

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

15.     Nợ công của Việt Nam đang giảm mạnh​, chỉ còn tương đương hơn 43% GDP

16.     Cần Thơ còn hơn 5 nghìn tỷ đồng cần giải ngân

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

17.     Quảng Trị: Một Chủ tịch UBND phường bị cách chức

THẾ GIỚI

18.     Đức tung gói hỗ trợ hàng chục tỷ USD để chống lạm phát

19.     Người dân Mỹ sẽ tự chi trả phí liên quan COVID-19

 

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

Moody's: Việt Nam tăng trưởng 8,5% năm 2022, cao nhất châu Á - Thái Bình Dương

Theo tờ The Business Times (Singapore), mặc dù tăng trưởng xuất khẩu trong tháng 7, Công ty xếp hạng tín nhiệm Moody's Analytics vẫn đánh giá tích cực về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.

Các chuyên gia của Moody’s cho biết: “Kinh tế Việt Nam tái mở cửa có phần hơi chậm chạp từ đầu năm, nhưng hiện đã tăng tốc, đặc biệt ở lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Nền kinh tế còn được hỗ trợ bởi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào”.

Dựa vào số liệu tháng 7, dù xuất khẩu của Việt Nam giảm tốc nhưng các chuyên gia của Moody’s tin rằng nhu cầu sẽ ổn định ở thị trường Mỹ do thị trường lao động của nước này phát triển mạnh.

Moody’s cũng đưa ra cảnh báo về rủi ro liên quan tới việc lạm phát đến bất ngờ do gián đoạn chuỗi cung ứng. Điều này có thể làm giảm nhu cầu của người dân đối với hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả nhà ở.

Moody's nâng dự báo tăng trưởng năm 2022 của Việt Nam lên 8,5%, mức cao nhất trong số các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam cũng là nền kinh tế duy nhất trong khu vực được Moody's điều chỉnh dự phóng tăng. Với mức dự báo này, đây cũng là tổ chức đưa ra mức dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam cao nhất.

Ngoài ra, báo cáo mới công bố của Chứng khoán ACB (ACBS) cũng đưa ra kịch bản để nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,5% trong năm 2022.

Ở kịch bản lạc quan, ASBC cho rằng, GDP Việt Nam có thể tăng trưởng tới 8,5%. Kịch bản này giả định kinh tế vẫn tăng trưởng mạnh, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng tốc trong quý III và IV, hoạt động công nghiệp tiếp tục tăng tốc, lĩnh vực dịch vụ phục hồi hoàn toàn trong hai quý cuối năm. Lạm phát đạt đỉnh và duy trì ở mức này cho đến hết nửa cuối năm 2022.

Về mặt chính sách, giả định gói hỗ trợ tài khóa, tiền tệ ước tính khoảng 337.000 tỷ đồng, đặc biệt là gói phát triển cơ sở hạ tầng (113.850 tỷ đồng) sẽ sớm được giải ngân trong quý III và IV. NHNN sẽ cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng mới trong quý III.

Chính sách tiền tệ có xu hướng tiếp tục được mở rộng để hỗ trợ sự phục hồi kinh tế. NHNN có thể sẽ điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản từ đây cho đến hết năm 2022 tối đa 50 điểm phần trăm (tăng 0,5%). Ngoài ra, giả định COVID-19 không bùng phát.

Bên cạnh đó, tại phiên họp Chính phủ ngày 4/7, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết trên cơ sở phục hồi kinh tế 6 tháng đầu năm, tăng trưởng GDP cả năm nay có thể đạt 7%, vượt mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đã đề ra là 6 - 6,5%.

Theo kịch bản tăng trưởng hai quý cuối năm do Bộ này xây dựng, với mục tiêu tăng trưởng 6,5% cả năm, quý III cần tăng 7,9%. Ở kịch bản thứ hai, quý III phải tăng trưởng 9% để cả năm đạt mức tăng 7%. (Toquoc.vn 21/8, Anh Ngọc)Về đầu trang

Bloomberg: Việt Nam có thể vượt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7% nếu...

Việt Nam cần đẩy nhanh hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông để phát huy tối đa tiềm năng của mình. Từ vị thế địa chính trị cho tới nguồn lực lao động, Việt Nam hội tụ nhiều lợi thế để có thể bứt phá trong thời gian tới.

Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ. Nhiều doanh nghiệp toàn cầu từ Samsung Electronics cho tới Lego Group đang xây dựng các siêu nhà máy tại đây. Apple cũng đang trong quá trình đàm phán để lần đầu tiên đưa dây chuyền sản xuất Apple Watch và MacBook tới quốc gia Đông Nam Á này. Cuộc chạy đua tuyển dụng người lao động trong nước cũng đang diễn ra vô cùng "khốc liệt".

Dù nỗ lực không ngừng trong công tác xây dựng các chuỗi cung ứng toàn cầu, quá trình đưa các sản phẩm công nghệ vào về sản xuất tại Việt Nam diễn ra tương đối chậm.

Nút thắt chính là cơ sở hạ tầng. Quốc gia hình chữ S vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống đường xá được xây dựng từ nhiều năm trước, vốn thường xuyên rơi vào cảnh xuống cấp, tắc nghẽn. Theo thống kê, 3/4 tổng lượng hàng hóa và 90% nhu cầu đi lại của người dân gắn liền với đường bộ. Bên cạnh đó, không phải tất cả các cảng biển tại quốc gia này có thể tiếp nhận tàu vận tải trọng tải lớn.

Hiện đại hóa hệ thống đường bộ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam trong vài năm trở lại đây và minh chứng rõ ràng nhất là dự án đường cao tốc Bắc Nam đang được gấp rút thi công. Tuy nhiên, quá trình xây dựng gặp không ít khó khăn do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có diễn biến tăng giá chi phí nguyên vật liệu, gây đội vốn đầu tư.

Nhiều dự án giao thông trọng điểm khác cũng rơi vào tình trạng trì trệ. Tại TPHCM, hệ thống đường sắt đô thị đầu tiên (metro Bến Thành- Suối Tiên), bắt đầu khởi công từ năm 2012 và dự kiến đưa vào khai thác trong năm 2018, phải lùi kế hoạch vận hành tới năm 2023. Dự án này đội vốn khoảng 1,3 tỷ USD (cao hơn tổng vốn dự kiến ban đầu) và cần được chấp thuận bởi Quốc hội Việt Nam. Hệ quả là tiềm năng phát triển của khu vực phía Đông thành phố, một đầu của tuyến đường sắt, chưa thể được khai thác triệt để.

Nhiều dự án quan trọng khác, ví dụ như hệ thống đường vành đai, được quy hoạch nhiều năm về trước, vẫn chưa thể khởi công sau nhiều lần trì hoãn.

Giải ngân vốn đầu tư công của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2022 chỉ đạt hơn 34%, trong khi 90% nguồn vốn đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng tới từ nguồn ngân sách Nhà nước. Nếu như quá trình giải ngân chậm, tiến độ các dự án, công trình cũng không thể đẩy nhanh.

Từ vị thế địa chính trị cho tới nguồn lực lao động, Việt Nam hội tụ không ít lợi thế để bứt phá trong thời gian tới. Điều mà họ thiếu là khả năng tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến một số quy định pháp lý, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh các dự án xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng.

Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 7% cho năm nay nhưng họ hoàn toàn có thể làm tốt hơn. (Cafef.vn 20/8)Về đầu trang

ILO: Việt Nam là câu chuyện thành công của thế giới về chuyển đổi cơ cấu lao động

Theo Giám đốc ILO Ingrid Christensen: Việt Nam là câu chuyện thành công của thế giới về chuyển đổi cơ cấu, đạt được thành tựu phát triển kinh tế và chuyển dịch lao động.

Tuy nhiên, ILO khuyến nghị Chính phủ Việt Nam tiếp cận chính thức hóa một cách toàn diện nhất có thể, và thiết lập các cơ chế điều phối liên bộ ngành. Chính thức hóa là hoạt động quan trọng, giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình.

Việt Nam đang tiến hành sửa đổi Luật Việc làm, đạo luật quy định chức năng và nhiệm vụ của các tác nhân và thể chế của thị trường lao động. Trong cuộc họp đầu tiên của tôi với Bộ LĐTB&XH về hoạt động này, tôi đã được nghe về định hướng hiện đại hóa Luật Việc làm phù hợp với thực tiễn thị trường lao động. Bà Ingrid Christensen khuyến nghị một số định hướng cụ thể:

Thứ nhất, Luật Việc làm cần đưa ra được hướng dẫn đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thúc đẩy tạo việc làm, bao gồm cả các lĩnh vực liên quan đến phát triển kỹ năng được quy định trong luật, cũng như quyền và trách nhiệm của người tìm việc.

Thứ hai, Luật Việc làm cần có sự linh hoạt để có thể định kỳ sửa đổi các ưu tiên về thị trường lao động, để có thể bắt kịp các thay đổi diễn ra trên thị trường. Luật cũng có thể quy định về thành lập một cơ chế ba bên, chẳng hạn như ủy ban việc làm, để thực hiện nhiệm vụ này.

Thứ ba, khi các vấn đề về biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng, chúng ta cần phải có hành động chiến lược để chuyển dịch công bằng hướng đến một nền kinh tế và một xã hội bền vững hơn về môi trường.

Ngài Thủ tướng cũng đã từng nói "chúng ta chắc chắn không chấp nhận mô hình "phát triển trước và dọn dẹp sau"; không chấp nhận phương thức phát triển bằng mọi giá mà không bền vững". Các hành động này bao gồm các quy định, sự khuyến khích, các chiến lược đầu tư công, cũng như việc kích hoạt các chính sách về thị trường lao động và an sinh xã hội. Sự chuyển dịch phải được quản lý theo hướng tôn trọng các tiêu chuẩn về lao động, thông qua tham vấn ba bên và xây dựng sự đồng thuận.

Cuối cùng, Luật Việc làm cần phải định hướng chung cho sự phát triển thị trường lao động và hoạt động thúc đẩy tạo việc làm ở Việt Nam. Định hướng này phải bao trùm cả vai trò của di cư, an sinh xã hội, giới, kỹ năng và cũng cần phải liên kết với thương mại, chính sách công nghiệp, công nghệ, năng suất, bảo vệ môi trường trong mối liên kết với việc làm xanh và các lĩnh vực khác. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

Chất lượng lao động chưa phải là "vàng"!

Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn dân số "vàng" nhưng chất lượng lao động lại chưa phải là "vàng". Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phạm Tấn Công đã nhấn mạnh điều này tại Hội nghị “Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, bền vững và hội nhập” sáng 20.8.

Nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn lại trường lao động Việt Nam có thể thấy đã có bước phát triển vượt bậc cả về quy mô và chất lượng. Quy mô và chất lượng cung lao động tăng lên; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực thu nhập, tiền lương của người lao động được cải thiện, năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động được nâng lên. Bên cạnh đó thị trường lao động của chúng ta cũng bộc lộ những điểm còn hạn chế, chưa theo kịp được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu thị trường lao động chưa hợp lý, chưa hiệu quả.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt là đào tạo nhân lực chất lượng cao, ngành nghề mới, kỹ năng nghề tương lai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hội nhập quốc tế chưa đáp ứng yêu cầu. Việc gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, huy động nguồn lực đầu tư còn hạn chế.

Theo kết quả đuộc điều tra trong các doanh nghiệp của Việt Nam trong năm 2019 cho thấy, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng người lao động có chất lượng cao. 73% doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn trong tuyển dụng những lao động cho vị trí quản lý, 61% doanh nghiệp gặp khó khăn để tuyển dụng người lao động có kỹ năng phù hợp.

Trong khi đó, Báo cáo PCI 2021 do VCCI thực hiện phản ánh, đánh giá về chất lượng lao động tại các địa phương từ góc nhìn của doanh nghiệp FDI cũng cho thấy nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là một thách thức. Theo đó, khi doanh nghiệp có kế hoạch tuyển dụng thay thế hoặc mở rộng, nhóm lao động mà các doanh nghiệp có thể dễ dàng tuyển dụng hơn cả là công nhân, lao động phổ thông (chiếm 62%). Tiếp đến là nhóm kế toán (42%), cán bộ kỹ thuật (25%) và quản lý, giám sát (20%). Đáng chú ý, nhóm lao động có mức độ khó nhất khi tuyển dụng là giám đốc điều hành, chỉ có 15%.

Rõ ràng nhìn vào số liệu này cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là bài toán nan giải mà doanh nghiệp đã và đang phải đối diện khi tuyển dụng. (Daibieunhandan.vn 21/8, Song Hà)Về đầu trang

Bộ GTVT yêu cầu xử lý nghiêm việc lợi dụng tăng giá bất hợp lý

Bộ Giao thông Vận tải vừa có văn bản yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trực thuộc tăng cường công tác quản lý giá, bình ổn giá.

Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, nắm tình hình cân đối cung - cầu hàng hóa, dịch vụ để chủ động tham mưu cấp có thẩm quyền phương án kịp thời nhằm bình ổn thị trường; kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá, các biện pháp kê khai giá, niêm yết giá và xử lý nghiêm theo thẩm quyền các trường hợp lợi dụng để tăng giá bất hợp lý.

Các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý giá để ban hành hoặc kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung có vướng mắc, chồng chéo không phù hợp với thực tiễn tạo thuận lợi cho quản lý điều hành giá.

Với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục kê khai giá, Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam, các Cục chuyên ngành, các doanh nghiệp rà soát phương án giá đã kê khai, kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất, thực hiện đồng bộ có hiệu quả các giải pháp tiết giảm chi phí để tiếp tục giảm giá, hỗ trợ người tiêu dùng, đánh giá việc điều chỉnh giá phù hợp với biến động của các yếu tố đầu vào, đặc biệt là chi phí xăng dầu đơn vị thực hiện kê khai giảm giá kịp thời.

Đối với hàng hóa dịch vụ thuộc danh mục nhà nước định giá, Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam, các Cục chuyên ngành, các doanh nghiệp rà soát phương án giá, trường hợp yếu tố hình thành giá giảm, đề nghị trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh giá phù hợp với diễn biến, mặt bằng giá thị trường theo đúng quy định.

Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp công khai, minh bạch thông tin giá, nhất là với nguyên, nhiên, vật liệu hàng hóa thiết yếu là đầu vào cho sản xuất, giá cước vận tải; hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát, tránh các tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả thị trường, đời sống người dân; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vi phạm. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

5 thành phố trực thuộc Trung ương hút bao nhiêu vốn FDI 7 tháng đầu năm 2022?

Theo Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài 7 tháng đầu năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 20/7/2022, tổng vốn đăng ký FDI vào Việt Nam đạt trên 15,54 tỷ USD, bằng 92,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong 5 thành phố trực thuộc TW, TP. HCM hút vốn FDI nhiều nhất với hơn 2,43 tỷ USD.

Hiện nay, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 51 tỉnh, thành trên cả nước trong 7 tháng đầu năm 2022. Trong đó, Bình Dương dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 2,6 tỷ USD, chiếm 16,7% tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng 94,9% so với cùng kỳ năm 2021.

Sau Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 2,43 tỷ USD, chiếm 15,6% tổng vốn. Bắc Ninh xếp thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 1,68 tỷ USD, chiếm 10,8% tổng vốn và tăng gấp hơn 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2021.

Top 10 tỉnh, thành thu hút dòng vốn FDI nhiều nhất trong 7 tháng đầu năm 2022 gồm có: Bình Dương (2,6 tỷ USD), TP. Hồ Chí Minh (2,43 tỷ USD), Bắc Ninh (1,68 tỷ USD), Thái Nguyên (1,53 tỷ USD), Hải Phòng (1,02 tỷ USD), Hà Nội (0,83 tỷ USD), Bắc Giang (0,82 tỷ USD), Long An (0,59 tỷ USD), Đồng Nai (0,56 tỷ USD) và Nghệ An (0,52 tỷ USD).

Nếu xét về số dự án mới, các nhà ĐTNN vẫn tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trong đó, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu về số dự án mới (40,2%) và đứng thứ hai về số lượt dự án điều chỉnh vốn, đạt 14,7%, chỉ xếp sau Hà Nội (17,8%).

Trong 5 thành phố trực thuộc TW, TP. HCM hút vốn FDI nhiều nhất với hơn 2,43 tỷ USD, tăng 36,5% so với cùng kỳ. Trong đó, các dự án đầu tư nước ngoài được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có 373 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 274,93 triệu USD, tăng 8,1% số dự án cấp mới .

Trong 7 tháng đầu năm 2022, TP. HCM có 85 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước thực hiện điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm 1,4 tỷ USD (bao gồm các dự án tăng và giảm vốn), giảm 13,3% về số dự án và tăng 169,4% về vốn điều chỉnh so với cùng kỳ.

Đồng thời, thành phố cũng chấp thuận cho 1.405 trường hợp nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp của doanh nghiệp trong nước với vốn góp đăng ký tương đương 749,41 triệu USD, giảm 2,3% về số trường hợp so với cùng kỳ, giảm 23,2% về vốn so với cùng kỳ.

Sau TP. HCM, Hải Phòng đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký đạt trên 1,02 tỷ USD. Tính từ đầu năm đến 15/7/2022, Hải Phòng có 45 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư 678,99 triệu USD và 24 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn tăng là 409,43 triệu USD. Các dự án mới và tăng vốn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Đứng ở vị trí thứ 3 là Hà Nội với tổng vốn đăng ký đạt trên 826 triệu USD, trong đó có 185 dự án mới với tổng vốn đăng ký cấp mới đạt 125,4 triệu USD. Bên cạnh đó, Đà Nẵng thu hút được 106 triệu USD vốn FDI, cấp mới 25 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới là 67,53 triệu USD. Cần Thơ thu hút được 10,44 triệu USD vốn FDI, 1 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký cấp mới là 1,26 triệu USD. (Toquoc.vn 21/8, Minh Tiến)Về đầu trang

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

Phú Yên: Hiệu quả từ mô hình khai hoang đất, chia ruộng cho người nghèo

Những diện tích đất hoang hóa của tỉnh Phú Yên trở thành những cánh đồng lúa trĩu hạt nhờ mô hình khai hoang đất chia cho người nghèo cùng làm lúa nước.

Cánh đồng lúa nước rộng 25ha ở buôn Bai, xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh bước vào vụ thu hoạch đầu tiên. Tận tay cắt những bông lúa đã chín trên 1,2 sào lúa nước được chính quyền chia ruộng canh tác vụ đầu tiên, Ma Giá tin rằng bắt đầu từ nay, ông và người những hộ nghèo khác ở các buôn trong xã đã ổn định được lương thực tại chỗ quanh năm.

1 năm trước, 18 hộ dân canh tác 25ha đất trồng sắn và hoa màu kém hiệu quả nằm vùng bán ngập nước thủy điện sông Ba Hạ được Đảng ủy và chính quyền xã Ea Lâm vận động người hiến đất để san ủi, cải tạo, chuyển đổi sang trồng lúa nước theo Nghị quyết xóa đói, giảm nghèo của huyện. Mỗi ha được hỗ trợ 1 triệu đồng để thuê máy san ủi thành ruộng.

Từ diện tích này, xã đã chia ruộng cho 104 hộ gia đình nghèo trong buôn. Hộ hiến đất được chia diện tích lớn hơn. Hộ nghèo không có đất được chia từ 1 - 1,5 sào lúa nước. Người dân ở xã còn tự nguyện hiến 2ha đất để tỉnh đầu tư trạm bơm, hệ thống thủy lợi và đường nội đồng ngay trên vùng đất này.

"Giờ mình có đất, mình chia cho dòng họ mỗi người một sào. Mình có mà dòng họ mình nghèo không có ruộng làm cũng không được'', ông K'So Y Trương, người dân xã Ea Lâm chia sẻ.

Trên cánh đồng này, sản lượng nông dân thu được 70 tạ/ha. Huyện tiếp tục vận động người dân khai hoang và chia ruộng cho thêm nhiều hộ nghèo trong dòng tộc cùng làm. Dự kiến sắp tới, chỉ riêng Ea Lâm sẽ khai hoang thêm 22ha lúa nước chia cho dân cùng làm.

Mời xem chi tiết trong video đính kèm tại link sau:

https://vtv.vn/xa-hoi/hieu-qua-tu-mo-hinh-khai-hoang-dat-chia-ruong-cho-nguoi-ngheo-20220821070002211.htm

(Kênh VTV1 – Chào buổi sáng lúc 6h18 ngày 21/8)Về đầu trang

PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN

Không thể chậm trễ!

Tại Phiên họp thứ 14 vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2022/UBTVQH15 tiếp tục chi trả hỗ trợ đối với người lao động theo Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 ngày 24.9.2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đây là tin vui đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Theo Nghị quyết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép sử dụng khoảng 1.155 tỷ đồng từ kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2021 để tiếp tục chi trả hỗ trợ đối với người lao động thuộc đối tượng hưởng theo Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 đã nộp hồ sơ đúng thời hạn. Thời gian thực hiện chi trả hỗ trợ người lao động hoàn thành chậm nhất vào ngày 10.9.2022.

Trước đó, để hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, tổng kinh phí hỗ trợ cho người lao động là khoảng 30.000 tỷ đồng, theo hình thức hỗ trợ tiền mặt và các mức hỗ trợ khác nhau dựa trên thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp cụ thể. Thời gian thực hiện từ ngày 1.10.2021 - 31.12.2021.

Dù việc triển khai, giải quyết chính sách được Chính phủ, các bộ, ngành và cơ quan, địa phương thực hiện, tổ chức kịp thời, nhưng việc hỗ trợ cho người lao động vẫn chưa hoàn thành. Đáng nói là, ngày 31.12.2021 -  thời điểm hoàn thành việc hỗ trợ đối với người lao động nhưng vẫn còn hơn 414.000 lao động thuộc đối tượng hỗ trợ đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ đúng thời hạn nhưng chưa được chi trả. Theo nhận định của Ủy ban Xã hội: “việc xử lý của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan để báo cáo Chính phủ, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cùng với tồn đọng chưa giải quyết chế độ đối với hơn 400.000 người lao động là rất chậm, không đúng với tinh thần làm việc của Quốc hội, Chính phủ trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19”. Chính sự chậm trễ này đã làm giảm đi phần nào ý nghĩa của một chính sách nhân văn, cấp bách hỗ trợ đối tượng chịu ảnh hưởng bởi đại dịch.

Với quan điểm xuyên suốt luôn đồng hành, hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch, việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết này có ý nghĩa rất lớn, tiếp tục khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong việc hỗ trợ kịp thời, trực tiếp, thiết thực đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp vượt qua khó khăn. Nghị quyết quy định rõ, chậm nhất đến này 10.9.2022 phải thực hiện chi trả hỗ trợ người lao động. Mốc thời gian đã được ấn định, nhiệm vụ còn lại là của các cơ quan thực thi chính sách này.

Sau khi Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực, ngành Bảo hiểm xã hội đã tích cực bắt tay triển khai chính sách này. Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội 63 tỉnh, thành phố, tính đến 13h30 phút ngày 19.8.2022, cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp đã chi hỗ trợ cho hơn 298.000 người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 với số tiền gần 845 tỷ đồng từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, chỉ sau 8 ngày triển khai quyết liệt Nghị quyết số 24/2022/UBTVQH15, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chi trả gói hỗ trợ đạt gần 72% tổng số hồ sơ người lao động đề nghị nhận gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 đã nộp hồ sơ đúng thời hạn. Sự nỗ lực vào cuộc kịp thời của ngành Bảo hiểm xã hội là rất đáng ghi nhận.

Thời gian từ nay đến ngày 10.9.2022 không còn nhiều. Do đó, để về đích theo đúng yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đòi hỏi Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và cơ quan, địa phương trong phối hợp thực hiện. Đặc biệt, phát huy vai trò nòng cốt của cơ quan Bảo hiểm xã hội ở các địa phương để khẩn trương thực hiện chi trả hỗ trợ người lao động. Kịp thời tháo gỡ, vướng mắc khó khăn trong quá trình thực hiện. Cùng với đó tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để việc thực hiện chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng. Xử lý nghiêm cá nhân, cơ quan cố tình thực thi chậm trễ chính sách.

Một chính sách hỗ trợ kịp thời, nhân văn, chính sách mà người lao động rất chờ đợi, không có lý do gì lại thực hiện chậm trễ! (Daibieunhandan.vn 20/8, Lê Hùng) Về đầu trang

QUẢN LÝ

Gần 9.500 viên chức nghỉ việc từ đầu năm 2021, Bộ Y tế đề xuất giải pháp

Theo Bộ Y tế, chế độ, chính sách đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực ngành Y tế chưa bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của phần lớn cán bộ, nhân viên y tế.

Thực trạng cán bộ, nhân viên y tế nghỉ việc với số lượng không hề nhỏ đang là vấn đề nổi cộm của ngành Y tế trong thời gian gần đây. Tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt lực lượng phòng chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực trạng này một lần nữa được Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đề cập đến tại Hội nghị 'Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; chủ động thích ứng linh hoạt, góp phần phục hồi nhanh, phát triển bền vững' đang diễn ra sáng 21/8.

Theo thống kê của Bộ Y tế, từ đầu năm 2021 đến 30/6/2022, có 9.467 viên chức y tế xin thôi việc hoặc bỏ việc, gồm: 8.692 viên chức y tế thuộc quyền quản lý của các Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 775 viên chức y tế thuộc thẩm quyền quản lý của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế; trong đó có 2.989 bác sĩ, 2.907 điều dưỡng, 561 kỹ thuật y và 3.010 viên chức y tế khác.

Về các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ rõ: Chế độ, chính sách đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực ngành Y tế hiện chưa bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của phần lớn cán bộ y tế; chưa tương xứng nếu so sánh với quá trình đào tạo và với các ngành, lĩnh vực khác.

Chưa có chính sách hỗ trợ thích hợp với học viên, sinh viên các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe (các chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt...) để thu hút học viên, sinh viên giỏi vào học các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe; đặc biệt các ngành, chuyên ngành khó tuyển, các ngành thuộc lĩnh vực y tế dự phòng, tạo điều kiện thuận lợi khi học xong được phục vụ đúng ngành, chuyên ngành đào tạo trong hệ thống y tế. Trong khi đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Trung ương và Nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ quan điểm: "Nghề y là một nghề đặc biệt. Nhân lực y tế phải đáp ứng yêucầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.

Hệ thống tổ chức ngành y tế tại một số địa phương còn tồn tại các mô hình tổ chức hệ thống khác nhau ở một số lĩnh vực (y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, dân số) dẫn đến một số bất cập trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức triển khai nhiệm vụ.

Hơn 2 năm qua, dịch COVID-19 cũng đã ảnh hưởng tiêu cực đến đội ngũ nhân viên y tế do gia tăng áp lực công việc, mức độ nguy hiểm, rủi ro nghề nghiệp; nhiều nhân viên y tế hầu như không có ngày nghỉ, làm việc với cường độ cao trong thời gian kéo dài, đặc biệt đối với nhân viên y tế ở những địa phương có dân số lớn như tại TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam.

Trong khi đó, lương và phụ cấp đối với viên chức y tế trong hệ thống y tế công lập thấp, nhất là tại các cơ sở y tế dự phòng và y tế cơ sở (các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu là do ngân sách Nhà nước bảo đảm, nguồn thu sự nghiệp thấp), mức lương này chỉ đảm bảo một phần nhu cầu cuộc sống, không tương xứng với đặc thù làm việc và quá trình đào tạo.

Mức lương và phụ cấp đối với viên chức y tế trong hệ thống y tế công lập thấp đã đành, việc thực hiện chi trả các phụ cấp phòng, chống dịch cho nhân viên y tế còn chậm hoặc chi trả không đầy đủ tại một số địa phương. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

Thủ tướng: Các bộ, ngành, địa phương phối hợp xử lý những vấn đề cấp bách của ngành y tế

Sáng 21/8, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị trực tuyến toàn quốc về "Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; chủ động thích ứng linh hoạt, góp phần phục hồi nhanh, phát triển bền vững" do Bộ Y tế tổ chức. Hội nghị được thực hiện kết hợp hình thức trực tiếp tại Bộ Y tế với điểm cầu UBND 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Tại hội nghị, Thủ tướng chỉ đạo, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan tăng cường phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, trước mắt là xử lý các vấn đề cấp bách như mua sắm, đấu thầu, đầu tư, thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên ngành Y tế… Thủ tướng Chính phủ cũng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân.

Thủ tướng đề nghị phải đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; "thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu". Làm việc phải thực chất, "nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật, nhân dân được thụ hưởng thật".

Thủ tướng yêu cầu tiếp cận phát triển ngành Y tế một cách tổng thể, toàn diện cả y tế công lập và y tế tư nhân; không phân biệt công lập hay ngoài công lập; triển khai công tác có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm thực hiện tốt những công việc thường xuyên, ứng phó hiệu quả với những vấn đề phát sinh; có lộ trình, kế hoạch và phân công trách nhiệm cụ thể đối với các nhiệm vụ trung, dài hạn.

Đặc biệt, mọi cán bộ, nhân viên y tế đều phải khắc ghi và hành động theo 12 điều y đức khi làm nhiệm vụ; không ngừng trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường y đức, làm giàu y lý, nâng cao y thuật.

Người đứng đầu Chính phủ đề nghị, trước mắt tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, cùng các bộ, ngành, địa phương tiếp tục bám sát tình hình dịch COVID-19; triển khai đồng bộ, hiệu quả chương trình phòng chống dịch COVID-19, các nội dung về y tế trong chương trình phục hồi, phát triển theo các Nghị quyết của Chính phủ; chủ động, sẵn sàng cho mọi tình huống, dứt khoát không để dịch bệnh bùng phát trở lại.

Nâng cao nhận thức về yêu cầu tiêm vaccine, tập trung đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine an toàn, khoa học, hiệu quả. Tiếp tục triển khai hiệu quả 3 trụ cột chống dịch là xét nghiệm, cách ly, điều trị; thực hiện nghiêm 2K+ vaccine, thuốc + điều trị + công nghệ + ý thức người dân + các biện pháp khác.

Thủ tướng chỉ đạo, Bộ Y tế, trực tiếp là Quyền Bộ trưởng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng bộ Bộ Y tế thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đảng viên; đẩy mạnh học tập tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.

Tiếp tục quan tâm kiện toàn lãnh đạo Bộ và lãnh đạo y tế các cấp; khuyến khích, bảo vệ và phát huy vai trò của những cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh". Lãnh đạo Bộ phải thực sự là những tấm gương sáng về mọi mặt, từ đó xây dựng đội ngũ cán bộ, thầy thuốc thật sự bản lĩnh, vững vàng về chính trị, tinh thông về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ, hiệu quả trong công tác.

Thủ tướng cũng đề nghị các bộ, ngành, cơ quan tăng cường phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, trước mắt là xử lý các vấn đề cấp bách như mua sắm, đấu thầu, đầu tư, thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhân viên…; đồng thời phối hợp tham gia xây dựng thể chế, chính sách y tế; đổi mới và nâng cao hiệu quả thông tin truyền thông liên quan tới bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân; tập trung phát triển công nghiệp dược... (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

Vì sao chậm giải ngân gói hỗ trợ lãi suất 2%?

Sau 3 tháng triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2%, dù Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã rất cố gắng, nhưng kết quả là ít doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay này.

Theo báo Tiền phong, khoản vay ưu đãi 40.000 tỷ đồng chỉ bằng 1/10 dư nợ cho vay của toàn hệ thống. Như vậy, cứ 10 doanh nghiệp, chỉ có 1 doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn vay ưu đãi này và ngân hàng phải lựa chọn kỹ để tránh cho vay chưa đúng đối tượng.

Báo Đại biểu Nhân Dân cho rằng, việc chậm giải ngân gói hỗ trợ lãi suất 2% là rất đáng tiếc khi nhiều doanh nghiệp được thụ hưởng gói hỗ trợ này đang khát vốn. Nếu được hỗ trợ kịp thời, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ phục hồi mạnh mẽ hơn, như vậy mới có cơ hội đạt mục tiêu tăng trưởng đặt ra trong chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Tờ Thời báo tài chính dẫn lời Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú giải thích hạn mức tín dụng (room) là một công cụ hành chính, kinh nghiệm của nhiều nước có nền kinh tế thị trường hàng trăm năm cũng có lúc phải sử dụng công cụ hành chính để điều hành.

Nhìn lại lịch sử giai đoạn từ 2001 - 2007, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức rất cao, bình quân trên 30% một năm, kỷ lục lên đến 51,54% trong năm 2006. Hệ quả là Ngân hàng Nhà nước đã phải thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, trong đó có việc phải đưa ra hạn mức tín dụng nhằm kiểm soát các rủi ro từ việc ngân hàng cho vay quá nhiều.

Ngân hàng Nhà nước thận trọng vì lo ngại lạm phát và nợ xấu gia tăng, nhưng trong bản kiến nghị do Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ vừa gửi báo cáo lên Thủ tướng cho hay, hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang gặp tình trạng khó vay vốn ngân hàng.

Tờ Đại biểu Nhân dân chỉ ra 3 nguyên nhân khiến doanh nghiệp khó vay: một là quy mô doanh nghiệp hầu hết là vừa và nhỏ, tài sản đảm bảo thấp; hai là dòng tiền của các doanh nghiệp cũng nhỏ và không ổn định nên về cơ bản không thỏa mãn được các điều kiện tiếp cận vốn ưu đãi, vốn vay trung và dài hạn; ba là các ngân hàng không còn hạn mức tín dụng.

Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân nhận định, nếu không giải quyết vấn đề cho vay tín dụng thì các doanh nghiệp và hộ kinh doanh này sẽ có nguy cơ phá sản. Trong khi đó doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò như những doanh nghiệp vệ tinh hỗ trợ các doanh nghiệp và tập đoàn lớn trong quá trình triển khai những dự án trọng điểm của đất nước. Nếu những doanh nghiệp này phá sản thì hậu quả là rất nặng nề.

Dẫn số liệu gần 1,1 triệu tỷ đồng thu ngân sách nhưng chính sách tài khóa không thể hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp, trong khi chiến lược lâu dài cho ổn định vĩ mô là lấy ngắn nuôi dài, phải hỗ trợ doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu về sau, tờ Diễn đàn Doanh nghiệp bình luận đã đến lúc Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần định vị lại mục tiêu lạm phát, dùng chính sách tài khóa kết hợp nhuần nhuyễn với chính sách tiền tệ đưa câu chuyện bơm vốn cho doanh nghiệp được thông suốt.

Nhiều tờ báo chuyên viết về kinh tế nhận định việc nới trần tín dụng không nên tiến hành đồng loạt, những ngân hàng thực hiện tốt việc cho vay vào lĩnh vực ưu tiên nên xem xét cho nới sớm, đồng thời cũng cần kiểm soát kỹ dòng vốn vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản hay chứng khoán.

Nhấn mạnh tinh thần nhìn thẳng vào thực tiễn để linh hoạt giải quyết bài toán đặt ra, trong cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành về việc hỗ trợ triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái yêu cầu Ngân hàng Nhà nước ngay cuối tháng này phải tổ chức hội nghị để tiếp thu ý kiến phản ánh của các ngân hàng thương mại, các bộ, ngành liên quan, bên cạnh đó cần sớm thành lập một số đoàn công tác tiến hành khảo sát tình hình triển khai thực hiện của các ngân hàng để kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc, theo tờ Thời báo Ngân hàng. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

Tinh giản biên chế theo kiểu cơ học xảy ra ở nhiều địa phương?

Những kết quả đạt được vẫn là khá khiêm tốn khi việc thực hiện tinh giản vừa qua ở không ít bộ, ngành, địa phương, đơn vị vẫn còn mang tính cơ học, thậm chí hình thức.

Theo thống kê của Bộ Nội vụ, hết năm 2021, lần đầu tiên biên chế công chức giảm 10,01%; biên chế sự nghiệp giảm 11,67%. Theo Bộ Tài chính, qua sắp xếp bộ máy và tinh giản biên chế giai đoạn 2017 - 2021 đã giảm chi ngân sách nhà nước được 25.000 tỷ đồng. Tinh giản biên chế đã tạo bước đột phá quan trọng, giúp cho bộ máy giảm cồng kềnh và giảm gánh nặng cho ngân sách.

Nhưng những kết quả đạt được vẫn được coi là khá khiêm tốn khi việc thực hiện tinh giản vừa qua ở không ít bộ, ngành, địa phương, đơn vị vẫn còn mang tính cơ học, thậm chí hình thức.

Cả hệ thống chính trị hiện nay đã giảm 262.000 biên chế, tương đương hơn 20% so với năm 2015. Lần đầu tiên bộ máy không bị phình ra sau khi thực hiện tinh giản, nhưng nhìn nhận một cách thẳng thắn, vẫn còn nhiều điều chưa thể hài lòng. Vẫn còn tình trạng chưa quyết liệt, ngại va chạm, né tránh, nên việc xây dựng đề án kế hoạch tinh giản biên chế thực hiện chậm, một số bộ ngành địa phương chỉ tập trung tinh giản biên chế mà không chú trọng cơ cấu lại đội ngũ công chức viên chức theo vị trí việc làm. Thực trạng này dẫn tới tình trạng bộ máy của nhiều đơn vị vẫn còn cồng kềnh, chưa đạt được mục tiêu yêu cầu đã đề ra.

Giảm cơ học có thể hiểu là chủ yếu mới tinh giản những người đến tuổi nghỉ hưu và xin về hưu trước tuổi, chưa tinh giản được những người cần đưa ra khỏi bộ máy. Câu chuyện này xảy ra ở nhiều địa phương, ban ngành.

Ông Vũ Hải Nam, Vụ trưởng Vụ Tổ chức biên chế, Bộ Nội vụ thừa nhận, việc tinh giản được thực hiện trong bối cảnh vừa làm vừa hoàn thiện thể chế. Ngay cả vấn đề vị trí việc làm, mặc dù chúng ta đã triển khai một thời gian tương đối dài, nhưng do cách tiếp cận chưa thật sự đúng hướng và khoa học để bố trí người theo vị trí việc làm, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, chúng ta cũng chưa có điều kiện thực hiện được, vì thế nói tinh giản biên chế mới chỉ là giảm cơ học cũng phù hợp với kết quả thực tiễn.

Ở một góc độ khác, theo Phó Giáo sư, Tiến Sỹ Ngô Thành Can (Học viện Hành chính Quốc gia), còn tình trạng cào bằng giữa các địa phương, đơn vị trong chỉ tiêu tinh giản biên chế, dẫn đến một số đơn vị khối lượng công việc lớn nhưng vẫn phải cắt giảm theo tỷ lệ chung.

“Việc chúng ta phấn đấu tinh giản biên chế 10% và kết quả đạt được là đáng ghi nhận, nhưng đối với những hạn chế bất cập như là tỷ lệ như nhau, cào bằng giữa các ngành nghề, khu vực… thì cần phải nghiên cứu để đảm bảo tính đặc thù. Một vấn đề nữa là tinh giản biên chế phải gắn với tổ chức bộ máy, tuy nhiên, các tổ chức còn chồng chéo và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thành Can phân tích.

Và theo ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục thanh niên thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, chính sự cào bằng cơ học này dẫn đến tinh giản biên chế tinh nhưng chưa gọn. Bởi nhiều khi thu gọn đầu mối nhưng vẫn chưa tinh giản được một cách rõ rệt, vẫn là phép cộng cơ học, cho nên, có những cơ quan, bộ, ngành, có những tỉnh, thành, tổng biên chế vẫn không thay đổi, mặc dù đầu mối giảm đi.

Ông Lê Như Tiến cho biết, đã từng kiến nghị Ban Tổ chức Trung ương yêu cầu Bộ Nội vụ và các cơ quan nội vụ của các cấp có tổng kết quá trình thu gọn bộ máy và tinh giản biên chế để xem xét hiệu quả đến đâu, có thực sự giúp thu gọn đầu mối và tinh giản được biên chế không.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà khẳng định, tinh giản biên chế nhưng vẫn phải đáp ứng được số người làm việc trong nền hành chính hiện nay trong các đơn vị sự nghiệp, nhất là lĩnh vực giáo dục và y tế, là việc khó, cần nhiều thời gian.

Bởi theo nữ Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cùng lúc chúng ta phải giải quyết hai bài toán, vừa thực hiện mục tiêu giảm biên chế, giảm viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, vừa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng hiệu quả tinh gọn để đáp ứng được hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, đơn vị sự nghiệp nói riêng, là một vấn đề còn khó khăn. Việc xây dựng danh mục vị trí việc làm, bản mô tả, khung năng lực, vị trí việc làm của công chức, viên chức vẫn còn rất chậm, kỷ cương, kỷ luật của một số địa phương, đơn vị về quản lý công chức, viên chức còn chưa tốt. (VOV.vn 20/8, PV)Về đầu trang

Bình Dương hỗ trợ đặc biệt cho nhân viên y tế, giáo dục

Ngày 20/8, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Công văn số 4198 do ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh này ký về việc thực hiện chính sách hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học ngoài công lập gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 theo Nghị quyết 103 của Chính phủ.

Cụ thể, UBND tỉnh Bình Dương giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp Sở Tài chính và các địa phương thông báo, hướng dẫn cho các đối tượng thuộc diện được hưởng; triển khai thực hiện bảo đảm kịp thời, hiệu quả, công khai và đúng đối tượng.

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo kết quả thực hiện theo tiến độ hỗ trợ cho UBND tỉnh và các bộ, ngành theo quy định. Sở Tài chính phải kịp thời bố trí, bổ sung kinh phí theo đúng quy định.

Mức hỗ trợ một lần là 3,7 triệu đồng/người, áp dụng với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chưa được hưởng chính sách của địa phương hỗ trợ đối với nhóm lao động không có giao kết hợp đồng lao động và một số đối tượng đặc thù khác theo quy định tại Nghị quyết 68 của Chính phủ; hỗ trợ một lần mức 2,2 triệu đồng/người áp dụng với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đã được hưởng chính sách của địa phương theo quy định. Thời gian thực hiện đến hết ngày 31/12/2022.

Trong lĩnh vực y tế, quyết định điều chỉnh mức lương đối với nhân viên đang làm việc hợp đồng theo Nghị định số 68 của Chính phủ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương.

Mức lương theo tháng cụ thể đối với trình độ thạc sĩ, chuyên khoa 1, bác sĩ nội trú là 6,037 triệu đồng; trình độ đại học là 5,61 triệu đồng; trình độ cao đẳng là 5,38 triệu đồng; trình độ trung cấp là 5,14 triệu đồng; trình độ sơ cấp đã qua đào tạo nghề là 5 triệu đồng. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Vì sao người dân chưa mặn mà sử dụng dịch vụ công trực tuyến?

 6 tháng đầu năm 2022, tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến ở các tỉnh, thành mới chỉ đạt hơn 2 triệu hồ sơ, chiếm 1/5 tổng số hồ sơ đồng bộ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Nguyên nhân phản ánh từ người dân là việc thao tác, nộp hồ sơ trực tuyến không thực sự thuận tiện và thông suốt như với một số dịch vụ thiết yếu, đăng ký khai sinh, đăng ký tạm trú, người dân thao tác còn khá là vất vả.

Chị Thủy ở Hà Nội trải nghiệm đăng ký dịch vụ khai sinh trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Khi nộp hồ sơ, chị thấy có hai vấn đề đang vướng. Thứ nhất, thông tin phải nhập bị lặp đi lặp lại nhiều lần vì vậy quá trình nhập thông tin có thể bị sai lệch. Thứ hai, phần yêu cầu nộp giấy tờ nhưng câu từ khó hiểu, dài dòng khiến chị không biết phải nộp giấy tờ gì.

Còn với anh Bùi Quang Huy, khi trải nghiệm đăng ký tạm trú, trên giao diện này, phần khai chỗ ở hiện nay có hai ô để người dùng lựa chọn nhưng không thể nào tích được. Đến khi điền xong rất nhiều thông tin, tải file về, không hiểu vì sao file lại trống trơn, buộc anh phải khai thêm lần nữa.

"Tôi mong muốn sau khi điền hết tất cả các thông tin ở trên giao diện thì khi tải file về thì nó sẽ tự động nhập lại thông tin cho tôi'', anh Huy nói.

Tại hội nghị về cải cách hành chính tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh mới đây, đại diện Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ đánh giá: Việc liên thông trong thanh toán dịch vụ về đất đai của thành phố lớn nhất cả nước còn quá chậm so với nhiều địa phương khác.

Để tăng tỷ lệ dùng dịch vụ công trực tuyến, mới đây, Thủ tướng đã phê duyệt "Bộ chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp thông qua việc giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công theo thời gian thực" . Đặc biệt, để thu hút người dùng với các dịch vụ công trực tuyến, việc thực hiện thủ tục hành chính cần phải đơn giản, dễ hiểu và người dùng nhanh chóng nhận được kết quả.

Hiện một số thành phố lớn đã được chọn làm thí điểm thực hiện đề án 06 của Chính phủ, với trọng tâm từ nay đến cuối năm sẽ số hóa hoàn toàn 25 dịch vụ công trực tuyến thiết yếu. Việc triển khai được Chính phủ yêu cầu phải triển khai đồng bộ, tránh mạnh địa phương nào địa phương đấy làm với mục đích cuối cùng đưa dịch vụ công trực tuyến đến với người dùng một cách hiệu quả và tốt nhất. (VTV.vn 21/8)Về đầu trang

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

Nợ công của Việt Nam đang giảm mạnh​, chỉ còn tương đương hơn 43% GDP

Theo bản tin nợ công số 14 vừa được Bộ Tài chính công bố, nợ công của Việt Nam giai đoạn 2017-2021 đang giảm mạnh từ mức 61,4% GDP xuống còn 43,1% GDP. Cùng với đó nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương cũng giảm dần.

Cụ thể, mức nợ công năm 2017 tương đương 61,4% GDP, năm 2018 là 58,3% GDP, năm 2019 còn 55%, năm 2020 là 55,9% và đến năm 2021 tương đương 43,1% GDP.

Nợ Chính phủ cũng giảm từ tỷ lệ 51,7% GDP ở năm 2017 đến năm 2021 còn 39,1% GDP. Nợ Chính phủ bảo lãnh từ 9,1% GDP ở năm 2017 đến năm 2021 là 3,8% GDP. Nợ chính quyền địa phương năm 2021 vào khoảng 0,6% GDP trong khi năm 2017 bằng 1,1% GDP. Nợ nước ngoài của quốc gia tính đến hết năm 2021 giảm còn 38,4% GDP so với năm 2017 là 49% GDP.

Tính đến năm 2021, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia tính trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2021 là 6,2 %, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước vào khoảng 21,8%.

Bộ Tài chính cho biết, các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia năm 2021 được tính trên cơ sở GDP năm 2021 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố. Đáng chú ý là nợ nước ngoài giảm đi còn nợ trong nước tăng lên, đến hết năm 2021, nợ vay nước ngoài khoảng 1,075 triệu tỷ đồng; nợ vay trong nước tăng lên hơn 2,2 triệu tỷ đồng, chiếm 67,2% dư nợ Chính phủ.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, đến năm 2021 chủ nợ song phương lớn nhất của Việt Nam là Nhật Bản hơn 316 nghìn tỷ, Hàn Quốc, Pháp và Đức lần lượt cho vay hơn 32 nghìn tỷ đồng, 30 nghìn tỷ đồng và 14 nghìn tỷ đồng.

Tính theo đối tác đa phương, Ngân hàng Thế giới đứng đầu danh sách chủ nợ với hơn 380 nghìn tỷ đồng, tiếp đến là Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với hơn 188 nghìn tỷ đồng... (Baotintuc.vn 20/8, Thùy Dương)Về đầu trang

Cần Thơ còn hơn 5 nghìn tỷ đồng cần giải ngân

Theo số liệu báo cáo của Kho bạc Nhà nước Cần Thơ, tính đến ngày 15/8, tỷ lệ giải ngân của thành phố là 29,1%. Trong đó, 33 chủ đầu tư cấp thành phố đạt 20,2%; còn 9 chủ đầu tư quận/huyện đạt 58,4%.

Tỷ lệ giải ngân của thành phố đạt thấp so với tỷ lệ giải ngân chung toàn quốc. Mặc dù Chủ tịch UBND TP đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc nhưng kết quả công tác triển khai thực hiện các dự án, công trình nhìn chung còn rất chậm.

Thời gian còn lại trong năm 2022 không còn nhiều, trong khi khối lượng và số vốn cần giải ngân còn rất lớn (trên 5 nghìn tỷ đồng). Hiện một số chủ đầu tư, đơn vị quản lý dự án đang giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chưa hoàn tất hồ sơ tổ chức lựa chọn nhà thầu triển khai dự án, công tác bàn giao mặt bằng chưa đảm bảo tiến độ thi công ở một số công trình…

Chủ tịch UBND TP Cần Thơ yêu cầu giám đốc sở, thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố, chủ tịch UBND quận/huyện tổ chức kiểm điểm, đánh giá tiến độ triển khai dự án và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2022, đề ra biện pháp khắc phục ngay và khẩn trương triển khai các nhiệm vụ.

Trong đó, khắc phục ngay các nguyên nhân chậm giải ngân, đảm bảo kết quả giải ngân của đơn vị mình đạt trên 95% kế hoạch vốn giao năm 2022. Trường hợp không đạt thì thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm toàn diện trước Thành ủy, HĐND, UBND, Chủ tịch UBND TP.

Giám đốc Sở KH&ĐT theo dõi, kịp thời đề xuất cấp thẩm quyền điều chuyển vốn nội bộ, điều chuyển vốn sang đơn vị và dự án giải ngân tốt, đảm bảo hiệu quả và tỷ lệ giải ngân theo kế hoạch.

Phối hợp Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan tổ chức rà soát khả năng cân đối nguồn vốn, nghiên cứu đề xuất phương án tạm dừng/cắt giảm các dự án chưa thật cấp bách trong giai đoạn 2021-2025; ưu tiên cân đối vốn các dự án trọng điểm , cấp bách theo chủ trương của trung ương và lãnh đạo thành phố.

Giám đốc các sở KH&ĐT, Xây dựng, GTVT, Công Thương, NN&PTNT, TN&MT, Chủ tịch UBND quận/huyện tăng cường công tác kiểm tra, giải quyết kịp thời các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thủ tục đầu tư, tiến độ thi công các gói thầu, tăng tỷ lệ giải ngân… (Tienphong.vn 21/8, Cảnh Kỳ)Về đầu trang

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

Quảng Trị: Một Chủ tịch UBND phường bị cách chức

UBND TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị vừa công bố quyết định số 1728 về việc kỷ luật cách chức đối với ông Hoàng Nhật Thi, Chủ tịch UBND phường 2.

Lý do kỷ luật là ông Hoàng Nhật Thi không làm tròn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước địa phương, buông lỏng trong quản lý, không chỉ đạo, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm về pháp luật đất đai, quản lý xây dựng trên địa bàn, gây hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong nhân dân; thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý tài chính, tài sản công, gây hậu quả nghiêm trọng, tạo dư luận không tốt trong nhân dân và tác động ra ngoài phạm vi nội bộ địa phương. (VTV.vn 20/8, Quỳnh Ngân)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Đức tung gói hỗ trợ hàng chục tỷ USD để chống lạm phát

Chính phủ Đức đang xem xét triển khai thêm một gói hỗ trợ trị giá hàng chục tỷ USD để chống lạm phát.

Gói cứu trợ sẽ bao gồm các biện pháp dành cho hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, cũng như viện trợ kinh tế có trọng điểm cho các công ty sử dụng nhiều năng lượng.

Lạm phát ở Đức đã lên tới 7,5% vào tháng 7 vừa qua trong bối cảnh giá năng lượng dự báo sẽ tiếp tục tăng khi đến mùa Đông.

Hồi đầu năm nay, Chính phủ Đức đã công bố một gói hỗ trợ trị giá 30 tỷ euro để giúp người tiêu dùng ứng phó với lạm phát, bao gồm cắt giảm thuế nhiên liệu và phát hành vé giao thông công cộng giá rẻ dùng từ tháng 6 đến tháng 8. (VTV.vn 20/8)Về đầu trang

Người dân Mỹ sẽ tự chi trả phí liên quan COVID-19

Sau gần 3 năm được chính phủ tài trợ, người dân Mỹ sẽ phải tự chi trả các khoản phí tiêm vaccine, xét nghiệm và điều trị COVID-19.

Bộ Y tế và dịch vụ nhân sinh Mỹ dự kiến sẽ họp vào cuối tháng này để thảo luận về biện pháp mới. Cuộc họp sẽ có sự tham dự của các bên liên quan lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe, trong đó đại diện của các chuỗi nhà thuốc, cơ quan y tế các bang và các nhà sản xuất thuốc sẽ thảo luận để vạch ra lộ trình và các quy định về quản lý để thực hiện chuyển đổi trên.

Quy trình thương mại hóa này được dự báo sẽ kéo dài nhiều tháng mới hoàn tất. Thách thức lớn nhất hiện nay là làm sao để đảm bảo 30 triệu người Mỹ chưa có bảo hiểm vẫn có thể tiếp cận vaccine và các biện pháp điều trị. Giá bán thương mại của các loại vaccine và thuốc chữa COVID-19 được cho là sẽ cao hơn giá mà chính phủ liên bang chi trả. (VTV.vn 20/8)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.071.919 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này