Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 16/5/2018
1. Đà Nẵng: Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
2. Phú Yên: Thực hiện mô hình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính lưu động
3. Sắp có Bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp
4. Cải cách thủ tục hành chính để giảm chi phí quản lý bảo hiểm xã hội
5. Đề nghị giảm giấy phép con trong việc đầu tư cho giáo dục
6. Điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã già yếu
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
7. Rất ít Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện cắt giảm điều kiện kinh doanh
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Đà Nẵng: Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chiều 15/5, UBND TP. Đà Nẵng tổ chức hội thảo nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Hội thảo là cơ hội để doanh nghiệp, lãnh đạo Thành phố tập trung trao đổi, thảo luận để tìm ra các biện pháp nhằm cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nói riêng cũng như môi trường cạnh tranh nói chung của Đà Nẵng trong thời gian đến.
Năm 2017, Đà Nẵng đã để mất vị trí dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, thêm vào đó, mức độ cải thiện trung bình của Đà Nẵng từ năm 2006 đến năm 2017 nằm trong nhóm cuối trên cả nước. Những vấn đề này đặt ra bài toán cho chính quyền thành phố trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, cải thiện môi trường đầu tư trong thời gian tới. Đây cũng là nội dung được quan tâm tại hội thảo "Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh" tại TP. Đà Nẵng.
Trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI Đà Nẵng năm 2017, chỉ số "Môi trường cạnh tranh bình đẳng" tụt thấp nhất. Ngoài ra một số thành phần khác cũng tụt nhiều hạng như chi phí gia nhập thị trường, tính năng động tiên phong của lãnh đạo thành phố. Nhiều doanh nghiệp cho rằng, chính quyền thành phố còn ưu ái cho Tổng công ty, Tập đoàn Nhà nước, ưu tiên giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp nước ngoài hơn nội địa.
Tại hội thảo, các đại biểu thẳng thắn nhìn nhận, một trong những nguyên nhân khiến chỉ số PCI Đà Nẵng sụt giảm là do tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin suy giảm. Tỷ lệ doanh nghiệp phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức còn cao (hơn 66%), hơn 55% doanh nghiệp cũng cho rằng lãnh đạo thành phố có chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng không được thực hiện tốt ở cấp quận/huyện.
Để góp phần giải quyết những điểm tồn tại, hạn chế cộng đồng doanh nghiệp Đà Nẵng đã có những đề xuất với Thành phố như: Tạo cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay (34,15% DN đề xuất); thông tin nhanh chóng và thường xuyên các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân, tư vấn giải đáp chính sách, pháp luật (12,2% DN đề xuất); cạnh tranh công bằng, công khai, minh bạch, chống tham nhũng; chính sách thuế; hỗ trợ cho thuê mặt bằng kinh doanh phù hợp và mở rộng quỹ đất…
Ông Huỳnh Đức Thơ - Chủ tịch UBND Thành phố cho biết: Thành phố sẽ tập trung đẩy mạnh vào những việc làm thiết thực để việc cải thiện trở nên thực chất hơn, tất cả vì người dân và doanh nghiệp; duy trì một cảm nhận thực sự của người dân và doanh nghiệp, để thấy rằng chính quyền vẫn duy trì được “phong độ”, khả năng đáp ứng ngày càng tốt hơn.
Trước mắt thành phố sẽ tập trung đẩy mạnh những chương trình cải cách hành chính; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, đặc biệt tại một số sở, ngành có nhiều ý kiến, thắc mắc cần tập trung hơn như Sở Xây dựng, Tài nguyên & Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư…
“Các sở, ngành cần tiếp tập trung nghiên cứu, tìm những biện pháp để cải thiện những điểm yếu và không chủ quan những điểm mạnh của mình. Từ đó rà soát lại để đưa vào chương trình công tác, chương trình cải cách hành chính, và những chương trình đối thoại với doanh nghiệp trong thời gian sắp tới, để tiếp tục cải thiện, hỗ trợ môi trường kinh doanh tốt hơn”- ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng đề nghị. (Tài Nguyên & Môi Trường 16/5, Lan Anh; Thanh Niên 16/5, tr7)Về đầu trang
Phú Yên: Thực hiện mô hình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính lưu động
UBND tỉnh Phú Yên vừa có Công văn yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn tập trung nghiên cứu, triển khai thực hiện mô hình giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) lưu động trên địa bàn tỉnh.
Thời gian qua, các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh đã không ngừng cải tiến lề lối và thái độ làm việc, xem người dân và doanh nghiệp là khách hàng để phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cơ quan. Việc thực hiện mô hình hẹn giờ giao dịch giải quyết TTHC; mô hình tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích; thực hiện thư chúc mừng, thư chia buồn với người dân khi có các sự kiện, vụ việc của gia đình và thực hiện thư xin lỗi khi giải quyết hồ sơ sai sót, trễ hẹn của các cơ quan, đơn vị, địa phương đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh về chính quyền thân thiện, chính quyền phục vụ nhân dân.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân; tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại của người dân trong giải quyết TTHC, UBND tỉnh yêu cầu Công an tỉnh tiếp tục duy trì và tăng cường thực hiện việc cấp giấy chứng minh nhân dân lưu động cho nhân dân các xã và học sinh các trường trung học phổ thông. Đồng thời, nghiên cứu triển khai thực hiện việc cấp giấy chứng minh nhân dân tại nhà cho các công dân là thương, bệnh binh, cán bộ lão thành cách mạng, người bị bệnh hiểm nghèo, người già yếu, người tàn tật không có khả năng đi lại, để tạo điều kiện thuận lợi cho các công dân này thụ hưởng các quyền thăm khám, chữa bệnh cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân khác.
UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn về việc thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn lưu động theo quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; định kỳ hàng quý báo cáo kết quả thực hiện việc tổ chức giải quyết TTHC lưu động ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn, lồng ghép trong báo cáo kết quả công tác cải cách hành chính của UBND huyện, thị xã, thành phố. (Báo Phú Yên 15/5, Mỹ Luận)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Sắp có Bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp
Tổng cục Thống kê vừa trình Thủ tướng Chính phủ Dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp (DN).
Đề án gồm hai phần chính, đó là xây dựng bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng các Bộ, ngành và các địa phương về mức độ hỗ trợ DN; bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển DN đối với các địa phương.
Đối với bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng các bộ, ngành và các địa phương về mức độ hỗ trợ DN sẽ lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá mức độ hỗ trợ DN tập trung vào các lĩnh vực: cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển; tạo dựng môi trường thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; tiếp cận các nguồn lực (tín dụng, đất đai,…); giảm chi phí cho DN…
Đối với bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển DN tại các địa phương, Đề án lựa chọn các chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển DN hằng năm của các địa phương như: số DN đăng ký thành lập mới, thu hút lao động, thu hút vốn đầu tư, doanh thu, giá trị gia tăng, lợi nhuận, đóng góp cho ngân sách nhà nước, đầu tư đổi mới công nghệ, sáng tạo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững…
Năm 2018, cơ quan thống kê sẽ thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ DN đối với các bộ, ngành và các địa phương. Từ năm 2019 trở đi, chính thức công bố bộ chỉ số trên cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Theo Tổng cục Thống kê, bộ chỉ số được kỳ vọng sẽ lượng hóa chính xác các kết quả hỗ trợ và phát triển DN. (Baodauthau.vn 16/5, Việt Anh)Về đầu trang
Cải cách thủ tục hành chính để giảm chi phí quản lý bảo hiểm xã hội
Chiều 15/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp, cho ý kiến về Dự thảo Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2016 - 2018, và đề xuất chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2019 - 2021.
Báo cáo thẩm tra do Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh trình bày, báo cáo của Chính phủ đã tổng hợp đầy đủ và thuyết minh chi tiết tình hình thực hiện dự toán chi phí quản lý cả giai đoạn và theo từng năm, đánh giá khá toàn diện mặt được, mặt hạn chế và làm rõ các nguyên nhân. Tuy nhiên, Ủy ban các vấn đề xã hội cho rằng, một số thông tin trong Báo cáo số 03/BC-CP cho thấy số liệu làm căn cứ xác định dự toán thấp hơn so với khối lượng công việc thực tế .
Thống nhất với đánh giá của Chính phủ về tình hình thực hiện chi phí quản lý giai đoạn 2016 - 2018, trong đó nhấn mạnh một số kết quả đạt được như: Bố trí chi phí quản lý được thực hiện đúng quy định; công tác thu, chi các chế độ bảo đảm cân đối quỹ; việc chi trả các chế độ BHXH, BHTN bảo đảm đúng, đủ và kịp thời; đầu tư an toàn và bảo toàn tăng trưởng quỹ; công tác cải cách hành chính trong thực hiện chính sách đạt được nhiều kết quả đột phá; việc ưu tiên bố trí kinh phí cho đầu tư, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa quản lý BHXH đã mang lại hiệu quả thiết thực.
Việc áp dụng mức chi tiền lương bằng 1,8 lần đã tạo điều kiện khuyến khích, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đời sống của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động làm công tác BHXH, tạo động lực gắn bó với ngành trong bối cảnh áp lực công việc ngày càng gia tăng…
Tuy nhiên, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Các vấn đề xã hội cũng đánh giá, kết quả thực hiện chi phí quản lý BHXH các năm 2016, 2017 tuy bảo đảm tỷ lệ theo quy định, nhưng mức tiền đều tăng so với dự kiến chi phí quản lý được Chính phủ trình tại Báo cáo số 480/BC-CP ngày 09/10/2015, đề xuất chi phí quản lý BHXH giai đoạn 2016 - 2018.
Theo đó, năm 2016 tăng 6,2% (612 tỷ); năm 2017 tăng 13% (1.385 tỷ); dự kiến năm 2018 tăng 21% (2.403 tỷ). “Điều này cho thấy, việc dự báo đối tượng tham gia và đối tượng thụ hưởng chưa sát với những thay đổi chính sách đã được quy định trong Luật BHXH 2014” - bà Nguyễn Thúy Anh nhận định.
Bên cạnh đó, báo cáo thẩm tra do bà Nguyễn Thúy Anh trình bày cũng phân tích, báo cáo của Chính phủ chưa thể hiện rõ mối quan hệ giữa cải cách thủ tục hành chính và việc giảm chi phí quản lý, trong đó có việc giảm thời gian thực hiện các thủ tục kê khai tham gia, nộp tiền đóng đã giảm từ 335 giờ xuống chỉ còn 45 giờ.
Khi xây dựng nhu cầu chi phí quản lý BHXH giai đoạn 2016 - 2018 chưa dự báo một số chi phí lớn để triển khai một số nhiệm vụ mới phát sinh theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội như: Bàn giao sổ BHXH cho người lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cấp số định danh và quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) hộ gia đình...;
Ngoài ra, một số nội dung chi được dự toán chưa sát, có sự chênh lệch lớn, BHXH Việt Nam phải sắp xếp kinh phí trong phạm vi dự toán được giao để bảo đảm nguồn lực thực hiện nhiệm vụ .
Cùng với đó, việc giao dự toán chi phí quản lý theo tỷ lệ phần trăm (%) tính trên dự toán thu, chi BHXH, bảo hiểm tự nguyện (BHTN), nhưng không xác định tỷ trọng của từng nội dung chi, chưa tạo động lực khuyến khích tiết kiệm chi thường xuyên cho hoạt động quản lý bộ máy để tăng chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; chưa phải là giải pháp tài chính hữu hiệu xử lý tình trạng trốn đóng, nợ đọng, lạm dụng, trục lợi BHXH, BHYT, BHTN còn đang diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương và ở mức cao. (VnMedia.vn 16/5, Thanh Bình)Về đầu trang
Đề nghị giảm giấy phép con trong việc đầu tư cho giáo dục
Tại Hội thảo về cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh và hoạt động trong lĩnh vực đầu tư giáo dục, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức ngày 15/5/2018, Chủ tịch Hội đồng Đại học FPT Lê Trường Tùng đề xuất, cắt bỏ thêm điều kiện phải có đầy đủ hồ sơ của giáo viên khi xin cấp phép thành lập.
Theo Tiến sĩ Lê Trường Tùng, tại giai đoạn cấp phép thành lập, nhà đầu tư chưa hoạt động, thì không thể có đủ danh sách giáo viên với giấy phép lao động, hợp đồng lao động đã kí vì chưa biết khi nào mới được cấp giấy phép. Nhà trường vẫn phải kí hợp đồng với giảng viên có trả lương, đóng bảo hiểm xã hội dẫn đến rất phung phí...
Ông Tùng cũng thẳng thắn bày tỏ, muốn đưa nhà trường vào hoạt động, phải cần rất nhiều thủ tục kèm với vô số biểu mẫu cần thực hiện khác. “Muốn dạy gì thì cần thủ tục mở ngành, dự kiến dạy bao nhiêu sinh viên thì thủ tục xác định chỉ tiêu tuyển sinh, dạy sinh viên nào thì thủ tục đối tượng tuyển sinh, dạy như thế nào thì có thủ tục liên quan tới phương thức đào tạo, thậm chí cấp bằng cũng cần thủ tục riêng… Toàn bộ trong quá trình hoạt động có rất nhiều giấy phép “con” ngoài việc xin phép hoạt động. Như vậy, có giấy phép hoạt động nhưng cũng chưa thể hoạt động”, ông Tùng nói.
Ông Tùng cũng chỉ ra những bất cập, khi quy định vốn đầu tư để mở cơ sở giáo dục trong nước, phải có ít nhất 1.000 tỉ đồng mà không áp dụng với trường đang hoạt động, như vậy là rào cản không cho đối tác mới tham gia thị trường, đối tác cũ lại không đầu tư do không yêu cầu dẫn đến “khoá cửa” thị trường đầu tư cho giáo dục.
Bên cạnh đó, những vấn đề ưu đãi mở cửa cho nhà đầu tư có yếu tố nước ngoài thuận lợi hơn, dẫn đến bất bình đẳng trong chính sách. Ví dụ, vốn đầu tư cho cơ sở có yếu tố nước ngoài chỉ quy định tối thiểu 300 tỉ đồng, trong khi cơ sở trong nước cần tối thiểu 1000 tỉ đồng. Hay trường tư thục có yếu tố nước ngoài được tự chủ trong vấn đề tổ chức nhân sự.
Từ những bất cập trên, ông Tùng đề xuất cần xây dựng theo hướng giao tự chủ cho các tổ chức giáo dục hoạt động trên cơ sở hành lang pháp lí hợp lí, thay tiền kiểm bằng hậu kiểm. Chuyển sang hậu kiểm, tức là các cơ sở giáo dục sau khi có quyết định thành lập có thể tự chủ chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện thì công bố hoạt động và tất cả các tiêu chí đã quy định rõ. Sau đó, cơ quan nhà nước sẽ đi kiểm tra, như vậy thực chất hơn rất nhiều và đơn giản thủ tục hành chính, giảm chi phí cho xã hội. (VnMedia.vn 16/5, Thanh Bình)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã già yếu
Bộ Nội vụ đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng từ ngày 1.7.2018 đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Quyết định số 130-CP ngày 20.6.1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13.10.1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
Theo đó, từ ngày 1.7.2018, thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã già yếu nghỉ việc theo quy định, tăng thêm 6,92% mức trợ cấp hàng tháng trên mức trợ cấp được hưởng tại thời điểm tháng 6.2018. Đối với cán bộ nguyên là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã là 1.974.000 đồng/tháng; cán bộ nguyên là Phó Bí thư, Phó Chủ tịch, Thường trực Đảng ủy, Ủy viên thư ký UBND, Thư ký HĐND xã, Xã đội trưởng, Trưởng công an xã là 1.910.000 đồng/tháng; các chức danh còn lại là 1.768.000 đồng/tháng. (Đại Biểu Nhân Dân 16/5, tr7, N. Minh)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Rất ít Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện cắt giảm điều kiện kinh doanh
Chính phủ chỉ đạo xoá bỏ mạnh mẽ các điều kiện kinh doanh từ tháng 8 năm ngoái, đến nay đã được 10 tháng nhưng rất ít Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện.
Tại Hội thảo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2018 đến năm 2020” do Tạp chí Nhà Đầu tư phối hợp với Công ty Kiểm toán quốc tế KPMG Việt Nam tổ chức sáng 15/5, tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đánh giá, những kết quả mà nền kinh tế cả nước đạt được trong thời gian qua là rất khả quan. Tuy vậy, trong quá trình phát triển vẫn tồn tại nhiều hạn chế ở một số lĩnh vực như: cải cách thể chế còn chậm, phát triển công nghiệp còn yếu và thiếu.
Đánh giá về việc cải cách thể chế thời gian qua, ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) chia sẻ, mặc dù đã đạt được một số kết quả, song tốc độ cải cách vẫn chậm và chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp.
"Chúng ta nói rất nhiều về cải cách thể chế. Nghị quyết 19 của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015 môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt mức trung bình của Asean 4, nhưng hiện khoảng cách vẫn rất xa. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải xếp thứ 40 trên thế giới, thực tế hiện đang đứng ở vị trí 86. Cùng với đó, Chính phủ chỉ đạo xoá bỏ mạnh mẽ các điều kiện kinh doanh từ tháng 8 năm ngoái, đến nay đã được 10 tháng nhưng rất ít Bộ, ngành nghiêm túc thực hiện".
Bàn về phương thức cải cách thể chế sao cho hiệu quả, ông Phan Đức Hiếu cho rằng, cần thay đổi tư duy ở cấp nhân viên, chuyên viên, chứ không chỉ dừng lại ở tầm lãnh đạo. "Thay đổi tư duy trong bộ máy hành chính là một nội dung quan trọng của cải cách thể chế, từng bước bám sát trình độ tư duy của thế giới. Việt Nam thường phải có luật rồi mới cho làm, dẫn đến hạn chế sức sáng tạo”.
Ở một khía cạnh khác, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa tỏ ra lo ngại về phát triển công nghiệp của Việt Nam: Công nghiệp chế tạo của Việt Nam hiện nay gần như nằm trong tay người nước ngoài, mà cụ thể là khối FDI. Trong khi Việt Nam kỳ vọng trở thành một nước công nghiệp.
Tuy nhiên phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, đây là mục tiêu không hề dễ dàng. 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á là Philipines, Thái Lan, Indonesia và Malaysia đã thất bại trong nỗ lực công nghiệp hoá. Các chuyên gia của họ từng khẳng định, cơ hội để các nước Đông Nam Á trở thành một nước công nghiệp đã hết và không bao giờ quay trở lại.
Bởi hiện nay các nước gần như đã mở cửa, các nền kinh tế phát triển sẽ không dễ dàng chuyển giao công nghệ. Để thành công, Việt Nam cần sự đầu tư và nỗ lực rất lớn của cả hệ thống doanh nghiệp lẫn chính quyền, các nhà làm chính sách. Có thể học hỏi kinh nghiệm của Đài Loan, bởi đây là nền kinh tế thành công nhất trong lĩnh vực công nghiệp điện tử tại khu vực Đông Bắc Á. Năm 1962, thu nhập đầu người của Đài Loan chỉ bằng một nửa Malaysia, nhưng nay đã tăng gấp 3 lần.
Trước những phân tích về mặt còn hạn chế của nền kinh tế Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, còn rất nhiều việc tiếp tục phải làm nhằm hiện thực hóa những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng. Đó là, trước hết, phải tiếp tục đổi mới thể chế. “Đây được coi là động lực mang tính nền móng, căn bản đối với tăng trưởng kinh tế, vừa là sự cần thiết phải đổi mới trong bối cảnh có nhiều thay đổi diễn ra nhanh chóng, vừa là yêu cầu bắt buộc để phát triển”.
Tiếp đó, nâng cao năng suất lao động là nhân tố quan trọng nhất nhằm cải thiện chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng. Đặc biệt cần tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra nhanh, mạnh như vũ bão.
“Đây là giải pháp hiệu quả nhất để nâng cao năng suất lao động, giúp các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam có thể đẩy nhanh tốc độ, thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng bày tỏ quan điểm, cần phải phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thông qua sự liên kết mạnh mẽ giữa khu vực kinh tế trong nước với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
“Dư địa còn nhiều, vấn đề nằm ở chỗ, làm thế nào khai thác được các dư địa này một cách nhanh, hiệu quả. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, chúng ta không được phép lơ là, bỏ qua những khó khăn, thách thức cả trước mắt và lâu dài”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định. (VOV.vn 16/5, Chung Thủy)Về đầu trang
Sức nóng cải cách
Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức ký ban hành Nghị quyết 19-2018/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết 19-2018).
Đây là lần thứ năm liên tiếp, một danh mục rất chi tiết các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được liệt kê. Cách thức áp đặt mục tiêu theo các tiêu chí so sánh với khu vực và thế giới; phân giao nhiệm vụ từ trên xuống của Nghị quyết 19 được duy trì. Một lần nữa, mục tiêu xếp hạng bằng mức trung bình của các nước ASEAN 4 (gồm các nền kinh tế Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines) được nhắc lại.
Cách đây 3 năm, trong Nghị quyết 19 phiên bản 2015, mục tiêu đạt mức trung bình của ASEAN trên 10 chỉ tiêu theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Báo cáo Môi trường kinh doanh được đặt ra cho năm 2016, sau khi mục tiêu ASEAN 6 đạt được. Kể từ đó, mục tiêu này liên tục có mặt trong Nghị quyết 19, với sự lui dần về mốc thực thi.
Lần này, tại Nghị quyết 19-2018, hạn định dành cho mục tiêu này được xác định là cho đến 2020. Đi kèm đó là yêu cầu yêu cầu thắt chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường liêm chính, sáng tạo, nâng cao hiệu quả công vụ. Thậm chí, nguyên tắc thay thế cán bộ, công chức chần chừ trong cải cách thủ tục hành chính hoặc có hành vi lạm dụng thẩm quyền, vị trí việc làm để tư lợi riêng... được ghi rất rõ.
Cuộc đua đã trở nên căng thẳng, khó khăn hơn rất nhiều không chỉ giữa môi trường kinh doanh Việt Nam với các nền kinh tế, mà còn trong chính nội bộ từng bộ, ngành thuộc bộ máy nhà nước.
Trên thực tế, với các phiên bản Nghị quyết số 19 của Chính phủ, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam liên tục được cải thiện.
Minh chứng là năm 2017, năng lực cạnh tranh quốc gia tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137 nền kinh tế); môi trường kinh doanh tăng 14 bậc, từ 82 lên 68/190 nền kinh tế; đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127 nền kinh tế. Đó là những thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đạt được cho đến nay.
Cũng trong năm 2017, áp lực cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu... được đẩy cao, truyền cảm hứng mới trong cuộc chiến nói không với các rào cản kinh doanh. Chưa bao giờ, sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương rõ nét như vậy... Hàng loạt phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh được công bố với tỷ lệ cắt giảm hầu hết đạt và vượt yêu cầu 50% của Thủ tướng Chính phủ.
Nhưng so với khu vực, những cải thiện nói trên về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh vẫn chưa bền vững và chưa đạt được mục tiêu đề ra; thứ hạng của nhiều chỉ số còn thấp khá xa so với các nước trong khu vực. Đáng chú ý là hầu như không có sự cải thiện cả về điểm số và thứ hạng trong nhiều năm qua, thậm chí một số chỉ số quan trọng khác còn tụt hạng. Đặc biệt, tính hình thức trong không ít phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được phát hiện. Nhiều điều kiện kinh doanh được gộp lại, thể hiện dưới các hình thức khác, nhưng bản chất không đổi.
Ngay trong những giải trình cuối cùng trước khi Nghị quyết 19-2018 được đặt bút ký, vẫn xuất hiện các đề nghị giữ lại những thủ tục theo kiểu thủ công, được xây dựng cách đây cả chục năm, không quốc gia nào còn áp dụng...
Rõ ràng, sức nóng cải cách vẫn chưa lan đều ở các bộ, ngành, trong từng đơn vị, tổ chức... cả về tính chủ động, quyết liệt và kết quả đạt được. Nếu không cải thiện tình hình này, thì rất khó khẳng định được mục tiêu chất lượng môi trường kinh doanh Việt Nam sẽ ngang hàng trung bình các nước ASEAN vào năm 2020.
Đó là chưa kể một loạt mục tiêu mới được đặt ra, như khởi sự kinh doanh tăng ít nhất 40 bậc; chỉ số giải quyết tranh chấp hợp đồng, chỉ số giải quyết phá sản tăng thêm 10 bậc; cải thiện năng lực cạnh tranh ngành du lịch thêm khoảng 10 bậc (hiện ở thứ hạng 67); từng bước giảm chi phí logistics trong nền kinh tế xuống khoảng 18% GDP (hiện tương đương hơn 20% GDP); cải thiện Chỉ số Hiệu quả logistics thêm khoảng 10 bậc (hiện xếp thứ 64)...
Cuộc đua với ASEAN 4 không thể có kết quả nếu như không có sự thay đổi quyết liệt, thậm chí mang tính sống còn ngay trong tư duy quản lý của từng bộ, ngành, địa phương... (Đầu Tư 16/5, Bảo Duy)Về đầu trang
Kỷ luật, kỷ cương ở đâu?
Bộ Nội vụ có nhiệm vụ tăng cường thanh tra công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đây là một trong những nội dung được quy định trong Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4.2018 vừa qua.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính là vấn đề không mới. Còn nhớ, cách đây gần 2 năm, để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Chỉ thị 26-CT-TTg. Chỉ thị nêu rõ: Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính. Thực hiện nghiêm túc việc xử lý trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình có hành vi nhũng nhiễu, phiền hà trong tiếp nhận và giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp…
Dù vậy nhưng kỷ luật, kỷ cương hành chính của chúng ta thời gian qua còn chưa nghiêm. Thực tế cho thấy, có “muôn hình vạn trạng” biểu hiện vi phạm kỷ luật hành chính, kỷ luật công vụ. Đó là tình trạng công chức ăn cắp thời gian ở công sở để làm việc riêng theo kiểu “đánh trống ghi tên”, là tình trạng “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” nhưng hiệu quả công việc chẳng đâu vào đâu. Đó còn là việc lơ là, cố tình trì hoãn giải quyết công việc cho người dân, doanh nghiệp để đòi tiền “bôi trơn”… Ngoài ra, cũng có những trường hợp dù có đủ thẩm quyền nhưng vì sợ trách nhiệm, vì quyền lợi đã không làm, chỉ đến khi có chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hơn thì mới “xắn tay vào cuộc”…
Tại Hội thảo góp ý về Luật Hành chính công tổ chức mới đây, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Vĩnh Phúc Nguyễn Tuấn Anh đã rất thẳng thắn nhận định, nền hành chính của chúng ta là “nền hành chính lạ lùng”, bởi phụ thuộc rất lớn vào ý chí và quyết liệt của người lãnh đạo mà không căn cứ nhiều vào các quy định pháp luật. Ông Tuấn Anh nêu dẫn chứng, vụ việc “cà phê pin” chỉ đến khi Thủ tướng chỉ đạo xem xét khởi tố thì các cơ quan có thẩm quyền mới vào cuộc. Hay việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh của một số bộ ngành, chỉ đến khi Thủ tướng chỉ đạo thì mới ra quyết định cắt giảm… Những việc này các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đều có thể làm được, tại sao phải để đến khi Thủ tướng chỉ đạo mới làm? ông Tuấn Anh đặt câu hỏi.
Chính kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo đã dẫn đến môi trường làm việc ở khu vực hành chính bị méo mó: Người làm nhiều cứ làm, người chơi cứ chơi nhưng quyền lợi được hưởng là như nhau. Công chức nhũng nhiễu, cửa quyền làm giảm niềm tin của người dân vào nền hành chính; giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Câu chuyện công chức hải quan nhận bôi trơn của hải quan Hải Phòng xảy ra mới đây là một trong những ví dụ. Theo kết quả đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức với sự phục vụ của cơ quan hành chính tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (chỉ số SIPAS) do Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ công bố mới đây cho thấy, gần 3,4% số người được hỏi khẳng định: Vẫn còn công chức gây phiền hà, sách nhiễu; gần 1,9% số người được hỏi cho biết, công chức gợi ý nộp thêm tiền ngoài phí, lệ phí theo quy định. Vẫn biết rằng, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của nền hành chính, đến môi trường kinh doanh, và đặc biệt đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp.
Phải thẳng thắn nhìn nhận, để xảy ra tình trạng này, không phải chúng ta có “khoảng trống” quy định về vấn đề này, mà xuất phát từ một nguyên nhân khác đó là khâu xử lý các vi phạm trong kỷ luật công vụ chưa nghiêm. Đa số các trường hợp vi phạm sau đó bị điều chuyển sang vị trí làm việc khác chứ chưa bị loại ra khỏi bộ máy. Để nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, mỗi cá nhân phải nâng cao trách nhiệm công vụ của mình. Bộ Nội vụ phải tăng cường công tác thanh tra công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính để kịp thời chấn chỉnh các hành vi vi phạm. Cùng với đó, cần chế tài xử lý mạnh tay hơn, đó là loại ra khỏi bộ máy đối với những cá nhân vi phạm. Đặc biệt, là cần xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực và vi phạm kỷ luật hành chính. Nếu chỉ xử lý cán bộ, công chức mà không xử lý nghiêm người đứng đầu thì việc siết lại kỷ luật, kỷ cương hành chính chẳng khác nào “bắt cóc bỏ đĩa”. (Đại Biểu Nhân Dân 16/5, tr2, Lê Hùng)Về đầu trang./.
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/5/2018 (15/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 14/5/2018 (15/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 11/5/2018 (14/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 10/5/2018 (11/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 08/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 07/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 04/5/2018 (07/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 03/5/2018 (03/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 02/05/2018 (02/05/2018)

