Bản tin cải cách hành chính ngày 17/6/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Cục Hải quan TPHCM: Tham vấn một lần - giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp

3. Hải Phòng: Cải cách hành chính, giảm phiền hà cho dân và doanh nghiệp

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Gần 100% doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

5. Bộ tư Pháp: Cán bộ có thể bị buộc thôi việc nếu làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Nguyên nhân nào khiến cơ chế một cửa quốc gia thiếu đồng bộ?

7. Đừng để dân “bơi” trong biển giấy tờ

8. Chính sách vẫn “cản chân” doanh nghiệp

9. Chất lượng công chức “sạch” từ đầu vào

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất

Nhằm tiếp tục giữ vững thứ tự xếp hạng cao của Chỉ số cải cách hành chính (PARINDEX) và khắc phục những hạn chế của các chỉ số đánh giá như cán bộ, công chức giải quyết nhiệm vụ được giao chậm… một trong những biện pháp được đề cập tại Chỉ thị Đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền TP Hà Nội vừa được ban hành là: Tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất, chú trọng tái kiểm tra, giám sát về trách nhiệm thực thi công vụ.

Báo cáo với Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân làm Tổ trưởng kiểm tra công vụ tại UBND thành phố Hà Nội mới đây, Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Trần Huy Sáng cho biết, trong 2 năm 2017 -  2018, TP Hà Nội đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người dân về các quy định đối với công chức, cán bộ... bằng nhiều hình thức. Từ năm 2017, đoàn kiểm tra công vụ của thành phố thực hiện kiểm tra công vụ đột xuất đối với 79 cơ quan, đơn vị; kiểm tra, xử lý theo chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố đối với 7 vụ việc. Thực hiện vai trò giám sát, năm 2018 HĐND thành phố đã thực hiện khảo sát, giám sát chuyên đề, tái giám sát việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, gắn với việc triển khai thực hiện 2 bộ quy tắc ứng xử của thành phố…

Kết quả, các chỉ số đánh giá bộ máy chính quyền của TP Hà Nội thời gian qua được cải thiện rõ nét: PARINDEX năm 2017, 2018 xếp hạng rất cao, đứng thứ 2/63 tỉnh, thành phố; Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS) tăng 16 bậc so với năm 2017, Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất, đạt 65,4 điểm, xếp thứ 9/63…

Tuy vậy, qua thanh tra trách nhiệm gắn với thanh tra công vụ thời gian gần đây cũng cho thấy, vẫn còn nhiều cán bộ, công chức giải quyết nhiệm vụ được giao chậm thời gian; công tác tiếp dân và tuyên truyền pháp luật hiệu quả còn hạn chế, nên vẫn xảy ra vụ việc công dân khiếu nại, tố cáo sai; quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo một số vụ việc chưa bảo đảm đúng quy định (như kéo dài thời gian giải quyết, biên bản ghi chép chưa rõ ràng...); quy trình một số cuộc thanh tra chưa bảo đảm; bố trí cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu; việc thực hiện các kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra, kiểm tra chưa nghiêm túc; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời…

Khắc phục tình trạng trên, Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã ban hành Chỉ thị đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền TP Hà Nội. Một trong những nội dung đáng chú ý của Chỉ thị này là các cấp, ngành tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất về trách nhiệm thực thi công vụ, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc giao tiếp ứng xử nơi công sở, chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng công tác tái kiểm tra và kiểm tra việc khắc phục những tồn tại của các đợt thanh tra, kiểm tra trước đây…

Thực tiễn cho thấy, tăng cường tổ chức các cuộc thanh tra đột xuất và tái kiểm tra, giám sát không những góp phần nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, ngành trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, mà còn nâng cao trách nhiệm, nghiệp vụ, kinh nghiệm cho từng cán bộ, công chức; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nói chung và trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng. Vì vậy, trong bối cảnh TP Hà Nội đang nỗ lực hướng đến xây dựng chính quyền đô thị văn minh hiện đại, đòi hỏi sự chuyên nghiệp, bảo đảm sự minh bạch, hài lòng của người dân… thì Chỉ thị được coi là giải pháp kịp thời, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong thực thi công vụ, chấn chỉnh những khuyết điểm trong việc quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công vụ, pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng tại địa phương, đơn vị được thanh tra, hạn chế thái độ hạch sách, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân… (Đại Biểu Nhân Dân Online 17/6, Trần Hải) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Cục Hải quan TPHCM: Tham vấn một lần - giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp

Số lượng doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa đăng ký thực hiện tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần ngày một nhiều sau cam kết tạo thuận lợi của Cục Hải quan TPHCM.

Là một trong những DN đầu tiên tham gia thực hiện tham vấn một lần tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, ông Phạm Tiến Lực, Phòng Kế toán Công ty Rồng Việt phấn khởi cho biết, sau khi được Cục Hải quan TPHCM chấp nhận trị giá tính thuế tham vấn 1 lần đối với mặt bếp gas nhập khẩu, hiện nay hàng hóa của DN nhập khẩu về cảng không phải thực hiện tham vấn vấn giá như những lần trước đây mà sử dụng kết quả tham vấn lần đầu để thực hiện thông quan lô hàng nhập khẩu sau. “Việc này rất thuận lợi cho DN tiết kiệm thời gian và chi phí cho DN, vì không phải đi lại nhiều lần, không phải chờ đợi, hàng được thông quan ngay khi DN hoàn tất thủ tục kiểm tra chuyên ngành”- ông Lực nhấn mạnh. Tuy có nhiều thuận lợi khi thực hiện tham vấn một lần, nhưng ông Nguyễn Tiến Lực cho rằng, quy định về thời hạn áp dụng kết quả tham vấn một lần từ 60-90 ngày như hiện nay là quá ngắn, cần quy định thời gian áp dụng kết quả từ 6 tháng đến 1 năm nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho DN.

Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ thương mại Kho Đỏ cho biết, DN thường xuyên làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng rượu vang qua cảng Sài Gòn khu vực 4. vừa qua, với sự hướng dẫn của Chi cục, DN đã làm hồ sơ xin thực hiện tham vấn một lần đối với mặt hàng rượu vang nhập khẩu. Trên thực tế, các DN ký hợp đồng mua hàng theo năm, nhưng giá mua hàng lại ký theo mùa, nên rất khó để có giá ổn trong thời gian dài, đáp ứng điều kiện để được thực hiện tham vấn giá một lần…Từ bất cập này, DN kiến nghị, cần quy định rõ về hồ sơ xuất trình, thời hạn sử dụng kết quả tham vấn giá một lần, có DN đề nghị thời hạn áp dụng kết quả tham vấn giá một lần là 365 ngày; Cho phép DN được chọn thời gian tham vấn…

Cùng quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Trưởng phòng XNK- Công ty Nabodaad cho biết, Công ty Nabodaad chuyên nhập khẩu mặt hàng xe gắn máy loại phân khối lớn, mỗi tháng nhập khẩu từ 1-2 lô. Do hàng hóa nhập khẩu từ khách hàng truyền thống nên giá cả nhập khẩu luôn ổn định. Từ trước đến nay, khi hàng về cảng, công ty làm thủ tục thông quan và chọn phương pháp kiểm tra sau thông quan trong vòng 60 ngày đối với lô hàng nhập khẩu. Thủ tục khá nhanh gọn, lô hàng thông quan ngay sau khi có kết quả của cơ quan đăng kiểm. Tuy nhiên, khi biết Cục Hải quan TPHCM triển khai nghiệp vụ tham vấn một lần và được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 tư vấn, hướng dẫn tận tình về hiệu quả của nghiệp vụ tham vấn một lần, nên công ty đang nộp hồ thực hiện tham vấn một lần. Hy vọng thủ tục thực hiện sẽ nhanh gọn, giúp DN tiết kiệm thời gian và chi phí so với việc kiểm tra sau thông quan như hiện nay…

Theo Cục Hải quan TPHCM, đơn vị đang mở rộng triển khai thực hiện tham vấn một lần nhằm tăng cường tạo thuận lợi thương mại cho cộng đồng DN đóng góp số thu NSNN lớn cho TPHCM chấp hành tốt pháp luật hải quan theo cam kết của Cục Hải quan TPHCM tại kế hoạch “Cộng đồng doanh nghiệp và Cục Hải quan TPHCM là đối tác tin cậy, đồng hành cùng phát triển”. Đồng thời, hạn chế tham vấn giá tính thuế nhiều lần cho cùng một mặt hàng giống hệt, có giá khai báo (hoặc giá tính thuế) không thay đổi cũng nhằm giảm thời gian làm việc với cơ quan Hải quan, giảm áp lực cho công chức hải quan. Tập trung nguồn lực để kiểm tra, tham vấn các lô hàng có biểu hiện gian lận thương mại qua giá khai báo của các đối tượng xuất khẩu, nhập khẩu có nhiều rủi ro, mới thành lập. Bên cạnh đó, từng bước nâng cao vai trò, vị trí của lực lượng hải quan trong hoạt động tham vấn, từng bước thực hiện đầy đủ Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).

Cục Hải quan TPHCM đã ban hành kế hoạch “Tăng cường tạo thuận lợi thương mại trong nghiệp vụ tham vấn giá tính thuế 1 lần, sử dụng nhiều lần” với danh sách 500 DN. Mới đây, để thực hiện hiệu quả nghiệp vụ tham vấn giá một lần nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM Đinh Ngọc Thắng yêu cầu thủ trưởng tất cả các đơn vị thuộc và trực thuộc cần nghiêm túc đánh giá lại công tác triển khai tham vấn một lần gắn liền với hiệu quả công việc, trình độ năng lực của từng công chức. Công chức làm công tác tham vấn giá tính thuế không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực mà còn phụ thuộc mức độ đầu tư thời gian nghiên cứu hồ sơ, tìm kiếm thu thập thông tin để so sánh, đánh giá nhằm đưa ra quyết định chính xác.

Đồng thời, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM tiếp tục phân cấp cho Chi cục trưởng Chi cục Hải quan trực thuộc chịu trách nhiệm với Cục trưởng chỉ đạo toàn diện nghiệp vụ giá tính thuế tại đơn vị mình quản lý bao gồm: tổ chức kiểm tra xác định dấu hiệu nghi vấn, tổ chức tham vấn, Thông báo xác định trị giá tính thuế, cập nhật dữ liệu vào hệ thống GTT02, báo cáo, sửa đổi điều chỉnh mức giá tham chiếu đúng thời hạn quy định. Đối với hàng hóa của 500 DN, trong quá trình làm thủ tục nếu có nghi vấn giá khai báo các Chi cục Hải quan phải tổ chức thực hiện tham vấn 1 lần. Sau khi Cục Hải quan TPHCM có ý kiến về lô hàng đầu tiên, từ lô hàng kế tiếp trở đi các Chi cục Hải quan không mời tham vấn nếu mức giá tính thuế lô hàng đầu tiên còn trong thời hạn quy định, mức giá khai báo hoặc mức giá tính thuế không thay đổi so với lô hàng tham vấn lần đầu.

Được biết, ngày 31/8/2018, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM đã ban hành Quyết định số 2153/QĐ-HQHCM về việc phân cấp cho các chi cục hải quan tổ chức tham vấn và tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện phải tham vấn phát sinh tại các chi cục theo quy định hiện hành về trị giá tính thuế. Đồng thời, Cục Hải quan TPHCM phân cấp cho các chi cục thực hiện tham vấn một lần. Tuy nhiên, thời gian đầu số lượng DN tham gia còn ít, nhưng đến nay với những cam kết tạo thuận lợi của Cục Hải quan TPHCM, số lượng DN tham gia thực hiện tham vấn một lần ngày một tăng. Hiện toàn Cục đã có hàng chục DN đăng ký tham gia, trong đó có 25 DN đã thực hiện. Riêng tại chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 có 32 DN đăng ký tham gia, trong đó có 12 DN đã thực hiện và được chấp nhận giá tham vấn một lần.

Cục Hải quan TPHCM đang chỉ đạo các chi cục tập trung tuyên truyền, hỗ trợ các DN chấp hành tốt pháp luật thực hiện tham vấn một lần…(Hải Quan Online 16/6, Lê Thu) Về đầu trang

Hải Phòng: Cải cách hành chính, giảm phiền hà cho dân và doanh nghiệp

Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Nguyễn Xuân Bình cho biết, thời gian qua công tác cải cách hành chính (CCHC) của thành phố Hải Phòng đã được triển khai đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển KT - XH của thành phố.

Theo báo cáo của UBND thành phố, chỉ số CCHC năm 2018 đạt 83,68 điểm, xếp vị trí thứ 5/63; chỉ số đo lường mức độ hài lòng của người dân, tổ chức thành phố xếp thứ 9/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đạt tỷ lệ 90,86% người dân và tổ chức hài lòng với sự phục vụ của các cơ quan hành chính thành phố.

Những tháng đầu năm, UBND thành phố công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực năm 2018 gồm 85 văn bản; công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ 2014 - 2018 đối với 882 văn bản do HĐND, UBND thành phố ban hành. Trong đó 455 văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ; 427 văn bản còn hiệu lực; 38 văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần; 82 văn bản cần bổ sung, thay thế, bãi bỏ.

Để thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính, thành phố đã ban hành Kế hoạch số 07/KH-UBND về kiểm soát thủ tục hành chính năm 2019 trên địa bàn. 100% các sở, ngành, UBND quận, huyện đã xây dựng Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính, Kế hoạch rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính năm 2019 trên địa bàn và tổ chức triển khai thực hiện một cách nghiêm túc. Tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính đối với hơn 500 đại biểu là lãnh đạo phụ trách Bộ phận Một cửa của các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện; lãnh đạo, cán bộ phụ trách công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại các phường, xã, thị trấn trên địa bàn thành phố.

Bên cạnh đó, thành phố đã chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Đến nay, 100% cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố tổ chức cho cán bộ, công chức và viên chức ký cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong thực thi công vụ.

Ngoài ra, UBND thành phố đang tiếp tục nâng cấp, tích hợp các tính năng của hệ thống Một cửa điện tử và Dịch vụ công trực tuyến. Từ ngày 1.1 - 24.5.2019 đã có 151.946 hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận trên Cổng dịch vụ công thành phố, có 156.895 hồ sơ đã giải quyết, 149.642 hồ sơ đã trả kết quả cho công dân.

Thời gian tới, UBND thành phố sẽ tiếp tục tổ chức triển khai, thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ, nội dung trong Kế hoạch số 57/KH-UBND ngày 27.2.2018 của UBND thành phố về triển khai Kế hoạch số 91-KH/TU ngày 9.1.2018 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh thực hiện Đề án Chính quyền điện tử, Kiến trúc chính quyền điện tử thành phố, phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử các cấp, các ngành; vận hành hiệu quả phần mềm Một cửa Điện tử và Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4.

Đồng thời, yêu cầu các sở, ban, ngành, quận, huyện công bố Chỉ số CCHC và Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp năm 2018 của đơn vị mình; phối hợp với Bộ Nội vụ tổ chức đo lường sự hài lòng quốc gia năm 2019 trên địa bàn; kiểm tra công tác CCHC và trách nhiệm thi hành công vụ của người đứng đầu địa phương, đơn vị; đặc biệt, tăng cường công tác tuyên truyền về CCHC trên các phương tiện thông tin đại chúng… (Đại Biểu Nhân Dân Online 16/6, Bùi Linh) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Gần 100% doanh nghiệp sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử

Tính đến ngày 31/5/2019, có 721.353 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,98 % trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.

Theo Tổng cục Thuế, kể từ khi dịch vụ hoàn thuế điện tử chính thức được triển khai (4/8/2017) đến nay, hệ thống đã mở rộng cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử cho người nộp thuế tại 63 tỉnh, thành phố.

Báo cáo của Tổng cục Thuế cho thấy, đến ngày 31/5/2019, đã có 5.288 doanh nghiệp (DN) tham gia hoàn thuế điện tử, đạt tỷ lệ 94,73%; số hồ sơ tiếp nhận là 10.027 hồ sơ, đạt tỷ lệ 96,14%; tổng số hồ sơ hệ thống đã giải quyết hoàn là 7.260 hồ sơ, với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 44.074 tỷ đồng.

Hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Tính đến ngày 31/5/2019, có 721.353 DN tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,98 % trên tổng số DN đang hoạt động, với số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận là 6.660.202 hồ sơ.

Hiện Tổng cục Thuế cũng đã hoàn thành kết nối nộp thuế điện tử với 50 ngân hàng thương mại. Dịch vụ nộp thuế điện tử cũng đã được triển khai tại 63 cục thuế trực thuộc. Tính đến 31/5/2019, số lượng DN đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế là 714.202 DN, đạt tỷ lệ 99,33% trên tổng số DN đang hoạt động.

Số lượng DN hoàn thành đăng ký dịch vụ với ngân hàng là 705.753 DN, chiếm tỷ lệ 97,82% trên tổng số DN đang hoạt động, với số tiền thuế đã nộp là 298.088 tỷ đồng.

Cùng với việc đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào áp dụng trong việc khai thuế và nộp thuế, Tổng cục Thuế cũng đẩy mạnh triển khai cung cấp dịch công trực tuyến. Báo cáo cho thấy, số lượng thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến hiện nay là 133/304 đạt mức 3 trở lên. Cả Tổng cục Thuế và 63 cục thuế đều đã có trang thông tin điện tử, cung cấp đầy đủ thông tin thuế.

Các nhóm dịch vụ công từ mức độ 3 trở lên gồm: kê khai hóa đơn qua mạng; kê khai sử dụng biên lai phí, lệ phí qua mạng; khai thuế qua mạng; nộp thuế điện tử; hoàn thuế điện tử; hệ thống cấp mã chống giả hóa đơn. (Doanhnghiep.vn 16/6) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bộ tư Pháp: Cán bộ có thể bị buộc thôi việc nếu làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) hiện nay chưa có quy định từng hành vi vi phạm của cán bộ thì bị xử lý thế nào, do đó mỗi cơ quan lại áp dụng một chế tài khác nhau.

Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan là các văn bản quy định chung có tính chất khung (về trình tự, thủ tục…) để xử lý tất cả các hành vi vi phạm pháp luật của công chức, viên chức trong thi hành công vụ. Tuy nhiên, các luật trên không thể cụ thể hóa các hành vi vi phạm trong thi hành công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong từng lĩnh vực. Vì vậy, trong từng lĩnh vực cụ thể, Chính phủ có thể cụ thể hóa các hành vi vi phạm trong thi hành công vụ của lĩnh vực đó gắn với các chế tài xử lý tương ứng (khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc) trên cơ sở quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Trong lĩnh vực XLVPHC, theo Bộ Tư pháp, do chưa có quy định về xử lý kỷ luật đối với vi phạm của cán bộ trong thi hành pháp luật (THPL) về XLVPHC nên có thể dẫn đến tình trạng, cùng một hành vi vi phạm của cán bộ trong THPL về XLVPHC nhưng mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi địa phương áp dụng một chế tài xử lý khác nhau, có nơi áp dụng chế tài kỷ luật cảnh cáo, có nơi áp dụng chế tài khiển trách… Cũng theo Bộ Tư pháp, kiểm tra công tác THPL về XLVPHC trong 5 năm vừa qua (kể từ thời điểm Luật XLVPHC có hiệu lực) cho thấy, các bộ, ngành, địa phương còn rất lúng túng, thiếu thống nhất trong quá trình triển khai, thực hiện. Về vấn đề xử lý kỷ luật đối với các hành vi vi phạm của người có thẩm quyền trong thi hành công vụ, theo Bộ Tư pháp đã xác định được một số sai phạm phổ biến của người có thẩm quyền xử phạt như: Xử phạt không đúng thẩm quyền, phạm vi, nội dung được giao; cố ý không ra quyết định xử phạt khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật…

Thời gian qua, Bộ Tư pháp cũng đã phải xử lý theo thẩm quyền một số vụ việc, trong đó có trường hợp người có thẩm quyền thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính không chính xác gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân, DN. Đặc biệt, một số vụ việc gây bức xúc trong dư luận như: Xử phạt vi phạm hành chính bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc ở tỉnh Đồng Nai; vụ việc “quán cà phê Xin chào” ở TP Hồ Chí Minh… Vì những lý do trên, theo ông Đặng Thanh Sơn - Cục trưởng Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp), việc xây dựng Nghị định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong THPL về XLVPHC, trong đó quy định cụ thể hành vi vi phạm nào bị áp vào chế tài xử lý kỷ luật tương ứng là hết sức cần thiết, tạo nên sự thống nhất, minh bạch trong áp dụng pháp luật.

Dự thảo Nghị định gồm 5 chương và 31 điều, quy định về kiểm tra tình hình THPL về xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật người có thẩm quyền, trách nhiệm trong THPL về xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, quy định rõ cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong THPL về xử lý vi phạm hành chính thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định. Các hình thức xử lý gồm: Cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức. Đặc biệt, hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, viên chức giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính; chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra... (Kinh Tế & Đô Thị Online 17/6, Tuấn Phong) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Nguyên nhân nào khiến cơ chế một cửa quốc gia thiếu đồng bộ?

Mặc dù đã có nhiều thay đổi nhưng đại diện lãnh đạo Tổng cục Hải quan cũng thừa nhận hệ thống một cửa quốc gia chưa đồng bộ, khó khai thác, tốc độ truy cập vẫn chậm và chưa ổn định...

Việt Nam là một trong 3 quốc gia trong khu vực triển khai mạnh mẽ Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN. Khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2020, Chính phủ xác định việc triển khai cơ chế này thành nhiệm vụ trung tâm trong kết nối, phát triển giao thương trong khu vực.

Theo Tổng cục Hải quan, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN bước đầu đã mang lại những hiệu quả lớn trong cải cách hành chính.

Thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp không còn phải trực tiếp làm việc với từng cơ quan nhà nước để hoàn thành các thủ tục hành chính. Nhờ đó giảm được chi phí, thời gian, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa; xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch. Đồng thời, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nền kinh tế cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho các cơ quan quản lý nhà nước, giúp làm quen và dần chuyển đổi sang thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử phi giấy tờ và có nhiều kinh nghiệm hơn trong đơn giản hóa, cải cách, hiện đại hóa thủ tục hành chính.

Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia giúp Việt Nam sẵn sàng về mặt kỹ thuật cũng như pháp lý để đàm phán các thỏa thuận song phương, đa phương trong việc công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn kỹ thuật, giấy phép/giấy chứng nhận điện tử nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính tại nước nhập khẩu. Đồng thời, giảm thời gian thông quan và tạo thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu ra các thị trường.

Cơ chế một cửa quốc gia cũng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng cường tính minh bạch, rõ ràng, giảm sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, khắc phục và ngăn chặn các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu có thể xảy ra, góp phần hiệu quả công tác  phòng, chống tham nhũng.

Với trách nhiệm của Cơ quan Thường trực, Bộ Tài chính, trực tiếp là Tổng cục Hải quan đã có nhiều nỗ lực góp phần tạo ra những bước đột phá trong thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục Hải quan Nguyễn Công Bình, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực. Các đơn vị như Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai và đạt kết quả rất tốt.

Chính thức triển khai từ tháng 11/2014, đến nay đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; 173 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trên 2,1 triệu bộ hồ sơ và trên 29.000 doanh nghiệp tham gia.

Mặc dù đã có nhiều thay đổi nhưng đại diện lãnh đạo Tổng cục Hải quan cũng thừa nhận hệ thống một cửa quốc gia chưa đồng bộ, khó khai thác, tốc độ truy cập vẫn chậm và chưa ổn định; các vướng mắc về quy trình xử lý nghiệp vụ khai báo của các cơ quan nhà nước chưa đồng bộ; kết quả xử lý thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước trên Cổng thông tin một cửa quốc gia chưa kịp thời. Cụ thể, 89,1% thủ tục là tiếp nhận thông tin; số thủ tục thao tác trực tiếp chỉ chiếm 10,9%.

Hiện tại Cơ chế một cửa quốc gia đang nhằm vào mục tiêu giải quyết trực tiếp thủ tục hành chính phục vụ cho khâu thông quan mà chưa chú trọng nhiều đến việc chia sẻ thông tin phục vụ quản lý nhà nước…

Theo Tổng cục Hải quan, hạn chế này có nguyên nhân là tiến độ phát triển, nâng cấp hạ tầng mạng, thiết bị không theo kịp tốc độ triển khai các thủ tục nên dẫn đến một số thời điểm hệ thống quá tải vì năng lực không đáp ứng kịp với lượng giao dịch phát sinh trên hệ thống. Nguồn lực để giám sát, quản lý, vận hành tất cả các hệ thống hiện chưa đầy đủ, khả năng hỗ trợ doanh nghiệp còn yếu, chưa kịp thời do thiếu cán bộ nghiệp vụ.

Tại phiên họp lần thứ 4 của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa Quốc gia và tạo thuận lợi thương mại vừa diễn ra, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ yêu cầu, trong năm 2019, cả nước sẽ hoàn thành triển khai mới 61 thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia (bao gồm 18 thủ tục chuyển từ năm 2018 sang và 43 thủ tục của năm 2019); triển khai Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại của WTO một cách thực chất, đầy đủ theo đúng lộ trình cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Để hoàn thành các mục tiêu trên, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, người và phương tiện xuất nhập cảnh theo hướng cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết; đơn giản hóa quy trình, thủ tục và bộ hồ sơ, chứng từ cần phải nộp/xuất trình

Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình, để thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Tổng cục Hải quan tham mưu với Bộ Tài chính đôn đốc các bộ, ngành tích cực thực hiện nhằm phấn đấu hoàn thành mục tiêu triển khai mới 61 thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia trong năm 2019.

Tổng cục Hải quan phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ thông qua việc công bố ấn phẩm về báo cáo thường niên liên quan đến đo lường thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và thông quan hải quan. Mặt khác, đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dịch vụ công thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết, ngoài thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực, với vai trò là đơn vị chủ trì, Bộ Tài chính đã chủ động triển khai một loạt giải pháp đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia như: phát triển hệ thống công nghệ thông tin và chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, kết nối trao đổi thông tin với các nước trong khu vực ASEAN. (Bnews.vn 16/6; Thùy Dương) Về đầu trang

Đừng để dân “bơi” trong biển giấy tờ

Người dân tại 16 phường thuộc diện sáp nhập lo về thời gian, thủ tục đi đổi, làm lại các giấy tờ về hộ tịch, hộ khẩu, nhà, đất...

Tại hai phường thuộc diện sáp nhập của quận 4 là phường 5 và phường 12, nhiều người dân cho biết đã nghe thông tin này qua báo, đài và không khỏi băn khoăn, lo lắng khi tới đây sẽ phải đi làm lại, làm mới các giấy tờ về hộ tịch, hộ khẩu, nhà, đất...

Ông Đức (ngụ phường 5, quận 4) nói: “Tôi thấy chắc sẽ rất khó để làm vì bao nhiêu con người sống ở hai phường giờ nhập lại, phải đi làm lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến cá nhân và gia đình thì sẽ rất mất thời gian, công sức. Việc sáp nhập sẽ mang lại điều tốt hơn nên tôi hoan nghênh nhưng TP cũng cần có cách làm sao để người dân chúng tôi không phải thấy nặng nhọc khi đi làm lại giấy tờ”.

Ông Đức kể mỗi khi đụng đến thủ tục, giấy tờ đã thấy nhiều thứ rắc rối vì phải đi tới đi lui nhiều lần. Vậy nên bây giờ nghĩ đến cảnh mỗi thành viên trong nhà phải làm lại hết số giấy tờ liên quan, rồi khai báo theo địa chỉ mới, làm khai sinh mới… thôi cũng đã thấy mệt. “Mong chính quyền tính toán sao cho hợp lý ở điểm này để không phải mất công sức, thời gian của người dân” - ông Đức nói thêm.

Vợ chồng ông Hùng (ngụ phường 12, quận 4) cũng bày tỏ mối bận tâm của mình về vấn đề giấy tờ sau khi sáp nhập phường. “Chính quyền cần tính toán làm sao để không xảy ra tình trạng giấy tờ cũ bị chồng lấn với giấy tờ mới. Đơn giản như vừa rồi tôi đã làm lại căn cước công dân, đến lúc đi làm giao dịch khác như mua bán xe, nhà, đất thì có nơi lại yêu cầu tôi phải trình giấy xác nhận về số (sêri) chứng minh nhân dân (CMND) cũ để đối chiếu với số CMND ghi trên cà vẹt hoặc sổ nhà, đất... Chưa hết, tờ giấy xác nhận số CMND và số thẻ căn cước, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sáu tháng. Tới đây, việc sáp nhập các phường sẽ diễn ra trong bao lâu? Trong thời gian chuyển giao phường cũ, mới thì các loại giấy tờ được sử dụng hoặc được xác thực, chứng thực như thế nào…” - ông Hùng nói.

Về vấn đề làm lại giấy tờ theo phường mới, bà Năm ngụ phường 12, quận 4 cho hay bà không thấy phiền hay lo ngại gì về việc này. “Tôi nghĩ đó không phải là vấn đề vì hiện nay chính quyền cũng đã trở nên hiện đại hơn, họ áp dụng công nghệ để giải quyết thủ tục nên chắc sẽ không quá khó khăn. Điều tôi quan tâm thật sự là lộ trình của việc sáp nhập như thế nào? Khi nào thực hiện, mất bao lâu để hoàn thành? Toàn bộ số giấy tờ, thủ tục liên quan mà người dân chúng tôi phải làm lại có những quy định nào cụ thể, cả về mặt thời gian. Làm sao để người dân có thể nhận lại được giấy tờ trong thời gian sớm nhất, không gây ảnh hưởng đến các hoạt động khác trong đời sống hằng ngày khi cần đến giấy tờ cá nhân” - bà Năm bày tỏ.

Ở quận Phú Nhuận, bà Nguyễn Thị Hòa (ngụ phường 14, quận Phú Nhuận) cho hay bản thân đã nghe vấn đề này từ lâu. “Hai phường gần nhau thì sáp nhập lại cũng được. Đường Huỳnh Văn Bánh nhà tôi nhỏ hẹp mà bên này phường 14, bên kia phường 13 thì cũng lằng nhằng. Nhập lại có khi tiện hơn cho Nhà nước trong việc quản lý. Nhưng thay đổi địa giới hành chính, tên phường thì chắc giấy tờ nhà, giấy tờ đi học của con cũng thay đổi. Bình thường làm sai giấy tờ một tí thôi đi sửa đã mệt rồi. Nếu thay đổi địa chỉ thì mong phường hỗ trợ dân làm cho nhanh gọn, đừng để dân “bơi” trong biển giấy tờ, thủ tục hành chính là được” - bà Hòa nói.

Cạnh đó, nhiều hộ dân có nhà trên các trục đường liên phường, đường giáp ranh, trước khác số, khác phường, tới đây sẽ có số phường mới thì số nhà, số phường sẽ “đánh” trên các loại giấy tờ, bảng số nhà ra sao? “Không biết khi phường tôi sáp nhập thì quy trình, thời gian làm lại, đổi các loại giấy tờ đó ra sao? Vì chính quyền làm chậm thì việc mua bán, cho thuê nhà, xe của dân sẽ bị… tắc ngay!” - ông Huy ở phường 14, quận Phú Nhuận nêu ý kiến. (Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 17/6; Lê Thoa - Thanh Tuyền) Về đầu trang

Chính sách vẫn “cản chân” doanh nghiệp

Theo Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2018 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố cách đây không lâu, đa số khách hàng chính của DN tư nhân Việt Nam trong vòng 3 năm gần đây là các cá nhân Việt Nam (66%), công ty tư nhân trong nước (64%) và DN nhà nước khác (24%).

Con số này quá chênh lệch so với số DN Việt Nam hiện đang làm ăn với đối tác nước ngoài, những thành phần có nhiều khả năng hội nhập vào các chuỗi cung toàn cầu. Cụ thể, chỉ 15% DN tư nhân Việt Nam bán hàng hoá, dịch vụ cho DN nước ngoài tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chỉ có 8,4% DN XK sản phẩm trực tiếp và 7,4% DN XK gián tiếp thông qua việc bán hàng cho các DN mua hàng bên thứ ba.

Ngoài ra, báo cáo cũng nêu ra vấn đề rất đáng chú ý là: Dù Luật Trọng tài thương mại đã được thông qua năm 2010 và có hiệu lực năm 2011, nhưng chỉ có 36,1% DN nghe nói đến luật này. Bởi vậy, không mấy DN tận dụng được các điều khoản về trọng tài mà luật cho phép. Tương tự, mặc dù Hiệp định Đối tác Toàn điện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được nhắc tới nhiều trong suốt thời gian qua, song chỉ có 36,7% DN biết đến các điều khoản giải quyết tranh chấp của hiệp định.

Do không biết về các điều luật bảo vệ đã có sẵn nên DN không thể tận dụng mà phải dùng đến các phương thức phi chính thức để đảm bảo thực thi hợp đồng. Những phương thức này không có gì chắc chắn, dần khiến DN trở nên e dè, không dám mở rộng kinh doanh, dẫn đến làm giảm đầu tư và tăng trưởng. Tất cả các yếu tố trên dẫn đến hạn chế sự tham gia của DN nội địa vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập khá sâu vào nền kinh tế thế giới. Bởi vậy, những con số được VCCI công bố thực sự gợi lên không ít lo ngại. Đâu là nguyên nhân “cản chân” các DN nội trên con đường tham gia sâu hơn vào “sân chơi” kinh tế quốc tế? Sòng phằng mà nói, khả năng quản trị, trình độ công nghệ của DN Việt vẫn còn kém; chất lượng nguồn nhân lực tồn tại nhiều bất cập… Tuy nhiên, không ít DN Việt từng chia sẻ, với DN, rào cản về mặt chính sách được xem là yếu tố quyết định. Đó là bởi, chính sách nhiều khi thiếu ổn định, tình trạng tham nhũng phổ biến và cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại còn hạn chế…

Thực tế, thời gian qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã đồng loạt triển khai không ít giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho DN phát triển, hội nhập. Điển hình có thể kể đến như những nỗ lực cải thiện cơ sở hạ tầng, giảm bớt rào cản hành chính trong thủ tục hải quan và lưu hàng tại cảng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh kinh doanh gay gắt hiện nay, mọi giải pháp có lẽ cần được thúc đẩy triển khai quyết liệt, thực chất hơn nữa mới mong đem lại kết quả như kỳ vọng. Đặc biệt, trong câu chuyện hội nhập, song hành cùng cơ hội, các thách thức, tranh chấp thương mại cũng sẽ thường xuyên diễn ra. Bởi vậy, để tự nâng cao tính cạnh tranh cho DN, bên cạnh sự tự vận động của chính DN, các cơ quan chức năng cũng cần thông tin rộng rãi, hướng dẫn các DN sát sao hơn về các quy định pháp luật nội địa cũng như các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan tới phương thức trọng tài. Nhấn mạnh vào điểm này, các bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương cùng đồng hành với DN, tin rằng các DN Việt sẽ củng cố thêm niềm tin, động lực để phát triển mạnh mẽ, vươn xa hơn. (Hải Quan Online 16/6, Đức Phong) Về đầu trang

Chất lượng công chức “sạch” từ đầu vào

Để có một đội ngũ cán bộ công chức chất lượng thì ngay từ “đầu vào” tuyển dụng đã phải bảo đảm chất lượng. Với logic như vậy, việc dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức (dự luật - PV) đưa ra quy định tại Khoản 2, Điều 39 về kiểm định chất lượng đầu vào công chức trước khi các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn, tuyển dụng công chức được kỳ vọng sẽ tạo ra một chuẩn mực chung đối với chất lượng đầu vào của cán bộ, công chức. Nhưng điểm tiến bộ này cũng gần như ngay lập tức gây băn khoăn bởi đến thời điểm trình QH cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ Bảy vừa qua, nội dung này trong hồ sơ dự luật vẫn rất mờ nhạt, thậm chí mơ hồ.

Ai, cơ quan nào có thẩm quyền kiểm định chất lượng đầu vào của công chức? Khả năng, điều kiện, cách thức kiểm định như thế nào? Tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng đầu vào của cán bộ, công chức ra sao?... Trong khi đó, cán bộ, công chức ở mỗi lĩnh vực lại đòi hỏi những tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất khác nhau. Công chức làm việc tại cơ quan hành chính khác với công chức làm việc tại các cơ quan tham mưu, giúp việc cho cơ quan lập pháp, khác với cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan tư pháp. Công chức ở cơ quan trung ương đòi hỏi năng lực, trình độ, kỹ năng khác với công chức của cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện… Nếu giao cho một cơ quan kiểm định chất lượng đầu vào của cán bộ, công chức nói chung thì liệu có bảo đảm yêu cầu không? Hay cuối cùng lại sinh ra bộ máy, lại thành lập một trung tâm, một trường đào tạo để thi, lại xây trụ sở, tuyển dụng con người, “đẻ” ra những “giấy phép con”? Những câu hỏi cơ bản như vậy đều chưa được làm rõ dù 3 tháng trước khi kỳ họp của QH diễn ra, báo cáo thẩm định dự luật của Bộ Tư pháp đã yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo phải thuyết minh, giải trình; tiếp đó, trong Báo cáo thẩm tra chính thức, Ủy ban Pháp luật cũng yêu cầu phải đánh giá tác động và phân tích rõ khả năng áp dụng của quy định này, bởi đây là một chính sách mới.

Sự mơ hồ của quy định này, như Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Đặng Thuần Phong đã chỉ ra là, những văn bản dưới luật lại quy định theo kiểu “quyền anh, quyền tôi” trong ngành thì không khéo sẽ lợi dụng chính sách, lạm dụng quyền lực, dẫn đến không kiểm soát được. Đầu vào của cán bộ, công chức toàn quốc nếu làm tốt sẽ là nền tảng “sạch” để có một đội ngũ cán bộ, công chức tốt, đáp ứng yêu cầu phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, nhưng nếu do sự thao túng của ai đó được giao thẩm quyền thì bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức “sẽ có vấn đề” và khi đó, hệ lụy là khôn lường.

Kiểm định chất lượng đầu vào của cán bộ, công chức thực ra không phải câu chuyện mới, mà đã được áp dụng ở nhiều nước. Nhật Bản là một trong những quốc gia đã thực hiện rất tốt điều này. Một kỳ thi tuyển công chức quốc gia được tổ chức bởi Cơ quan Nhân sự quốc gia, trong đó, thí sinh phải làm một bài thi trắc nghiệm, một bài thi luận và một cuộc phỏng vấn. Nếu thí sinh nào qua được cả 3 bài thi này thì Cơ quan Nhân sự quốc gia sẽ gửi danh sách đến các bộ, ngành cần tuyển cán bộ, công chức để thí sinh tham gia phỏng vấn. Các bài thi nhấn mạnh vào việc kiểm tra, đánh giá năng lực ứng dụng, khả năng tư duy logic thay cho kiểm tra kiến thức; quan tâm kiểm tra nhân cách, thái độ công tác; kiểm tra năng lực lập kế hoạch và năng lực trình bày của ứng viên qua phần thảo luận chính sách để kiểm chứng. Riêng với ngạch công chức lãnh đạo, quản lý, thì ứng viên sẽ phải trải qua một quá trình sàng lọc và cạnh tranh gay gắt. Việc lựa chọn này được quy định cụ thể theo các tiêu chuẩn của Cơ quan nhân sự quốc gia.

Như vậy, tham khảo kinh nghiệm của các nước đã thực hiện thành công vấn đề này để thiết kế các điều khoản cụ thể hơn, chắc chắn cơ quan chủ trì soạn thảo dự luật sẽ thuyết phục được các nhà lập pháp luật hóa quy định về kiểm định chất lượng đầu vào của cán bộ, công chức toàn quốc. Trong đó, điều quan trọng nhất vẫn là công khai, minh bạch về thẩm quyền, cách thức và nội dung kiểm định để không ai có thể can thiệp, “gửi gắm” con anh, con em hay thậm chí thao túng công tác đánh giá, kiểm định để tư lợi. “Sạch” từ “đầu vào” sẽ giúp xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức “tinh” về năng lực và “sạch” về phẩm chất đạo đức. (Đại Biểu Nhân Dân Online 17/6, Lam Anh) Về đầu trang./.

 

 

 

More

Lượt truy cập: 12.039.312 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này