Bản tin cải cách hành chính ngày 18/10/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hiệu quả bước đầu trong cải cách tư pháp ở Tiền Giang

2. Đà Nẵng: Điểm sáng về cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Thúc đẩy sử dụng chữ ký số

4. Đo lường mức độ hài lòng của doanh nghiệp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia

5. Tiến tới “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH”

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. “Đường đi” của tham nhũng!

7. Chính phủ dự báo phòng, chống tham nhũng sẽ “tích cực, đậm nét”

TIN THẾ GIỚI

8. Indonesia trong cuộc chiến chống tham nhũng

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hiệu quả bước đầu trong cải cách tư pháp ở Tiền Giang

Thực hiện cải cách tư pháp (CCTP) theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, các cơ quan tư pháp tỉnh Tiền Giang triển khai nhiều giải pháp thực hiện hiệu quả công tác này. Nhưng để hoạt động có chiều sâu, cần tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc.

Theo đánh giá của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tiền Giang, các cơ quan tư pháp của tỉnh đã thực hiện tốt chương trình, kế hoạch trọng tâm công tác tư pháp đã đề ra; chất lượng công tác tư pháp chuyển biến tích cực theo hướng tôn trọng quyền dân chủ, quyền con người và bảo đảm công bằng xã hội trong khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp... Năm 2018, Ngành công an tiếp nhận 2.522 tin báo, tố giác về tội phạm, đã giải quyết 2.272 tin (đạt 90,09%). Tòa án nhân dân hai cấp đã giải quyết 14.433 trong số 15.787 vụ việc các loại, đạt 91,42%. Tổng số vụ việc, vụ án có dấu hiệu tham nhũng đã giải quyết 14/20 vụ, tổng số tiền thiệt hại 18,83 tỷ đồng, đã thu hồi 10,34 tỷ đồng, đạt 54,91%.

Một trong những điểm sáng trong công tác CCTP theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý thường xuyên được củng cố, nâng cao chất lượng chuyên môn trong việc trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, bảo đảm thụ lý và thực hiện trợ giúp pháp lý cho 100% vụ việc khi có yêu cầu. Tỉnh hiện có hai trung tâm tư vấn pháp luật trực thuộc Hội Nông dân tỉnh và Hội Luật gia tỉnh với 20 trợ giúp viên. Ngoài ra, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp tỉnh có tám trợ giúp viên pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý trên nhiều lĩnh vực cho các đối tượng là người nghèo, người có công, người khuyết tật, trẻ em không nơi nương tựa... Qua 15 năm, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã thực hiện được 15.426 vụ việc, trong đó có 13.282 vụ việc tư vấn pháp luật, 907 vụ việc tham gia tố tụng, 1.230 vụ việc trợ giúp pháp lý lưu động.

Đồng chí Phạm Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, cho biết: “Theo quy định, khi đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý có nhu cầu thì đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để được hỗ trợ các thủ tục. Tuy nhiên, khi nhận được thông tin từ họ, từ người dân hay từ các cơ quan chức năng (tòa án, viện kiểm sát, công an) ở các huyện, lãnh đạo trung tâm trợ giúp pháp lý chủ động cử người xuống tận địa phương để hỗ trợ người dân miễn phí. Hỗ trợ lưu động là việc làm thường xuyên của trung tâm giúp những người nghèo, người thuộc diện khó khăn được hỗ trợ kịp thời, đỡ tốn thời gian đi lại. Tuy các thành viên của trung tâm hơi vất vả vì phải thường xuyên đi đến những địa bàn xa xôi, xử lý nhiều vụ việc tranh chấp phức tạp, nhưng anh chị em vẫn cố gắng khắc phục khó khăn. Các trợ giúp viên làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tìm cách bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Từ đầu năm đến nay, trung tâm đã thực hiện 69 vụ việc trợ giúp pháp lý lưu động”.

Trong số 14 giải pháp Chánh án TAND tối cao đưa ra nhằm CCTP trong lĩnh vực xét xử, TAND tỉnh Tiền Giang tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm. Trong hai năm qua, TAND hai cấp tại Tiền Giang đã tổ chức 208 phiên tòa rút kinh nghiệm. Đồng chí Huỳnh Xuân Long, Chánh án TAND tỉnh Tiền Giang, đánh giá: “Tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm, góp phần nâng cao kỹ năng xét xử của thẩm phán để đưa ra bản án chính xác, khách quan, nâng cao chất lượng bản án, bảo đảm dân chủ cho đương sự. Những người tham gia phiên tòa rút kinh nghiệm có thể học hỏi những ưu điểm của hội đồng xét xử và có quyền đưa ra những góp ý về những sai sót nếu có của phiên tòa. Sau các phiên tòa đều tổ chức rút kinh nghiệm về: việc áp dụng pháp luật; việc điều hành phiên tòa của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; kỹ năng xử lý tình huống của Chủ tọa, Hội đồng xét xử; công tác chuẩn bị cho việc tổ chức phiên tòa…”.

Mặc dù công tác CCTP tại Tiền Giang đã có những chuyển biến, nhưng khách quan mà nói vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Báo cáo của Thường vụ Tỉnh ủy chỉ rõ những hạn chế là công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiệu quả chưa cao; công tác tham mưu, đề xuất trong CCTP có lúc chưa kịp thời; công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp với các cơ quan chức năng có lúc chưa chặt chẽ; tiến độ giải quyết một số vụ việc, vụ án, nhất là giải quyết án tham nhũng, kinh tế có lúc còn chậm; tình trạng bản án bị hủy do lỗi chủ quan của thẩm phán vẫn còn xảy ra. Trong bối cảnh các vụ án và tính chất phức tạp của vụ án ngày càng tăng, lực lượng cán bộ tư pháp, hoạt động bổ trợ tư pháp có hạn, áp lực công việc nhiều cũng ảnh hưởng tiến độ giải quyết.

Đồng chí Huỳnh Xuân Long nêu những bất cập: “Vấn đề nhân sự của tòa án tồn tại nhiều khó khăn, thiếu khoảng 26 thẩm phán. Hằng năm, TAND Tiền Giang xét xử từ 15.000 đến 16.000 vụ. Mỗi tháng, một thẩm phán phải giải quyết hơn 10 vụ. Theo chủ trương trên chỉ cho tăng số lượng thẩm phán nhưng không tăng biên chế mà nguồn thẩm phán là lấy từ nguồn thư ký. Hiện nay, một thư ký phải tham mưu, giúp việc cho hai đến ba thẩm phán nên công việc quá tải. Tình trạng thiếu nhân sự như thế sẽ tạo ra những bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng xử án. Trong khi đó, việc thành lập tòa án khu vực theo tinh thần của Nghị quyết 49 và kết luận 92 của Bộ Chính trị về CCTP vẫn chưa thể triển khai vì gặp nhiều vướng mắc. Do đó, đề nghị Quốc hội xem xét bổ sung biên chế cho tòa án”.

Để nâng cao hiệu quả CCTP trong thời gian tới, tỉnh Tiền Giang đề ra nhiều biện pháp, trong đó đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, nội dung; đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, phấn đấu đến năm 2020 hình thành được mạng lưới dịch vụ pháp lý rộng khắp, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giải quyết kịp thời các vụ án trọng điểm và những vụ án dư luận xã hội quan tâm, hạn chế thấp nhất tình trạng án oan sai, bị hủy, sửa.

Đồng chí Phạm Văn Hân, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự (THADS) tỉnh Tiền Giang cho biết: “Trong công tác THADS, lãnh đạo Cục và các chi cục quan tâm chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân thông qua công tác tuyên truyền giáo dục, hỏi đáp thắc mắc qua các phương tiện truyền thông của tỉnh, huyện; thông qua công tác giáo dục, thuyết phục của chấp hành viên tại cơ sở. Cục THADS lấy giáo dục, thuyết phục là nhiệm vụ chủ yếu, chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi biện pháp giáo dục không hiệu quả. Trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế giao tài sản trong những vụ án khó, phức tạp chúng tôi đều đưa ra Ban chỉ đạo THADS các cấp bàn bạc trước khi thực hiện. Kết quả hoạt động này trong nhiều năm qua cho thấy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế ngày càng giảm, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự ở địa phương”. (nhandan.com.vn 18/10, Anh Tuấn) Về đầu trang

Đà Nẵng: Điểm sáng về cải cách hành chính

Một trong những đổi mới về cải cách hành chính nổi bật và có hiệu quả tại Đà Nẵng thời gian gần đây đó là cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa điện tử.

Tính đến thời điểm hiện nay, Đà Nẵng đã triển khai được 520 dịch vụ công trực tuyến (mức 3, 4) trong tổng số 1.135 thủ tục hành chính theo Nghị quyết 36a/NQ-CP. Việc đưa vào ứng dụng hồ sơ điện tử khách hàng cũng là tiền đề cho việc đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến khi người đăng ký dịch vụ công đã được xác thực và cấp tài khoản trên hệ thống.

Ngoài ứng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý Nhà nước, cơ chế một cửa ở Đà Nẵng cũng đã được đồng bộ ở cả 3 cấp, từ thành phố, quận, huyện đến phường, xã nên người dân chỉ cần nộp các loại giấy tờ về nhân thân để thực hiện thủ tục hành chính một lần duy nhất trong lần giao dịch đầu tiên. Các lần giao dịch sau đó, các cơ quan Nhà nước sẽ truy cập và sử dụng các thông tin, dữ liệu đã được lưu trữ trước đó trong cơ sở dữ liệu của toàn thành phố, rút ngắn đáng kể thời gian giao dịch hành chính công. (Vtv.vn 17/10, Ngọc Bích - Hải Thủy) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Thúc đẩy sử dụng chữ ký số

Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ thì vấn đề pháp lý, xác thực các hoạt động, giao dịch trên nền tảng số ngày càng quan trọng.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực giao dịch điện tử, quy định rõ về giá trị pháp lý của chữ ký số, giá trị pháp lý của văn bản điện tử, hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử có ký số có giá trị như văn bản giấy; tạo cơ sở pháp lý thống nhất và thuận lợi trong việc cung cấp, quản lý, sử dụng chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Vai trò của chữ ký số, chứng thực điện tử trong thời đại công nghệ số ngày càng được khẳng định.

Tính đến tháng 9-2019, Ban Cơ yếu Chính phủ đã cấp gần 220.000 chứng thư số phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp. Các bộ, ngành, địa phương đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT), Ban Cơ yếu Chính phủ triển khai chữ ký số chuyên dùng trong công tác quản lý, điều hành, trao đổi văn bản điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và đã đạt được những kết quả quan trọng; đảm bảo an toàn các giao dịch điện tử, tạo môi trường làm việc hiện đại, tiết kiệm thời gian và chi phí; nâng cao hiệu quả công việc, tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành… góp phần tích cực vào cải cách hành chính và phát triển Chính phủ điện tử.

Số liệu của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC) cho biết, tính đến 30-6, NEAC đã cấp gần 2,7 triệu chứng thư số công cộng và số lượng chứng thư số đang hoạt động là trên 1,1 triệu. Các chứng thư số được cấp chủ yếu cho các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện giao dịch điện tử trong các lĩnh vực chính như thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội và sử dụng trong các loại giao dịch điện tử khác như chứng từ, hóa đơn, giao dịch ngân hàng, chứng khoán… Tuy nhiên, theo nhận định của Ban Cơ yếu Chính phủ và Bộ TT-TT, việc triển khai chữ ký số vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục được tháo gỡ, giải quyết.

Hiện tại khó khăn lớn nhất là nhận thức về chữ ký số của người sử dụng, các cấp, các ngành và người dân, doanh nghiệp còn hạn chế. Mặt khác, các văn bản pháp lý trong các ngành, lĩnh vực khác nhau cần có quy định chấp nhận chữ ký số trên thông điệp dữ liệu (có giá trị tương đương chữ ký tay trên bản giấy). Vì vậy, lãnh đạo các cơ quan nhà nước, lãnh đạo các doanh nghiệp, đơn vị cần phải hiểu đúng lợi ích và vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng chữ ký số trong cải cách hành chính, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; thúc đẩy chuyển đổi số tại các doanh nghiệp và phát triển nền kinh tế số nói chung. Đây là điều kiện tiên quyết, mang tính quyết định.

Cuối tháng 9 vừa qua, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 68 hướng dẫn Nghị định 119/2018/NĐ-CP về hóa đơn điện tử có sử dụng chữ ký số. Trong đó có nội dung yêu cầu các hộ kinh doanh cá thể phải ký số trên hóa đơn và dự kiến khoảng hơn 2 triệu hộ kinh doanh cá thể phải sử dụng chữ ký số. Đây là quy định bắt buộc, nên dự kiến sẽ bùng nổ được thị trường chứng thực chữ ký số cá nhân.

Theo ông Phạm Quốc Hoàn, Phó Giám đốc NEAC, theo xu hướng của thế giới, công nghệ triển khai chữ ký số cũng đang dần được hoàn thiện, mở rộng đa dạng môi trường hơn. Xét về mặt pháp lý triển khai chữ ký số công cộng đến thời điểm hiện tại là tương đối đầy đủ, nhưng các phương pháp kỹ thuật công nghệ thì đang còn có “hơi cứng nhắc”. Bộ TT-TT hiện đang xây dựng các dự thảo thông tư quy định về cung cấp dịch vụ chữ ký số trên nền tảng di động và cho phép ký từ xa, dự kiến sẽ được ban hành ngay trong năm nay. Theo các chuyên gia, khi thông tư này được ban hành, bên cung cấp dịch vụ sẽ có căn cứ pháp lý để triển khai các giải pháp. Điều đó có thể tạo ra sự phổ biến dịch vụ chữ ký số di động trong thời gian tới. Và đó sẽ là nền tảng pháp lý cho một nền kinh tế số và xã hội số phát triển một cách lành mạnh, bền vững. (Sggp.org.vn 18/10, Trần Lưu) Về đầu trang

Đo lường mức độ hài lòng của doanh nghiệp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tạo thuận lợi thương mại về thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập, Tổng cục Hải quan phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dịch vụ công thông qua NSW, dưới sự hỗ trợ của Dự án tạo thuận lợi thương mại USAID (TFP).

Cụ thể, sau phiên họp lần thứ tư của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một của ASEAN, NSW và tạo thuận lợi thương mại về thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập vào tháng 3/2019, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã có Thông báo số 105/TB-VPCP, trong đó giao Tổng cục Hải quan phối hợp với VCCI xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ thông qua việc công bố ấn phẩm về các báo cáo thường niên liên quan đến đo lường thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và thông quan hải quan; đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dịch vụ công thông qua NSW.

Nhằm thống nhất nội dung trước khi thực hiện khảo sát, Tổng cục Hải quan đã làm việc với đại diện các Bộ, ngành có liên quan (Bộ Công Thương; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Y tế; VCCI; Dự án Tạo thuận lợi thương mại USAID) để thống nhất các nội dung triển khai Thông báo 105/TB-VPCP.

Trên cơ sở đó, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với VCCI rà soát hoàn thành các phương thức, tiêu chí lựa chọn thủ tục khảo sát, đo lường thời gian và số lượng mẫu khảo sát. Cụ thể, phiếu khảo sát kết hợp 2 phương thức, gồm: khảo sát qua thư và khảo sát trực tuyến.

Trong đó, với phương thức khảo sát qua thư vẫn kế thừa các cách thức truyền thống trước đây mà Tổng cục Hải quan, VCCI và Dự án USAID đã tiến hành nhiều năm qua. Đây là phương thức thuận tiện cho doanh nghiệp trong quá trình cung cấp thông tin, nhất là những thông tin nhạy cảm với nhiều doanh nghiệp khi phản ánh các vấn đề nhũng nhiễu (nếu có) từ các cán bộ, cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết thủ tục.

Ở phương thức điều tra trực tuyến, trên cơ sở hỗ trợ của Dự án USAID/TFP, mẫu phiếu khảo sát trực tuyến sẽ được xây dựng dựa trên mẫu phiếu khảo sát trên giấy nhằm đảm bảo nội dung điều tra thống nhất.

Theo đại diện Tổng cục Hải quan, để chọn lựa các thủ tục tiến hành khảo sát và đo thời gian thông quan trên NSW, dù là khảo sát theo phương thức gửi phiếu qua thư hoặc trực tuyến, các doanh nghiệp trong diện khảo sát sẽ được chọn mẫu ngẫu nhiên theo các tiêu chí thống nhất giữa Tổng cục Hải quan, VCCI và các bên có liên quan.

Các tiêu chí chọn mẫu có thể là khu vực kinh tế, loại hình hoạt động xuất nhập khẩu, số lượng tờ khai (kim ngạch)… và các mẫu được chọn đảm bảo tính đại diện với mỗi bộ, ngành có dịch vụ công (thủ tục hành chính) triển khai trên Cổng NSW, các thủ tục có nhiều hồ sơ và doanh nghiệp triển khai trên NSW.

Về các bước lựa chọn, Tổng cục Hải quan cho biết, Bước 1, lựa chọn từ tất cả các thủ tục (175) của các Bộ, ngành triển khai trên NSW trong khoảng thời gian từ 1/1/2019-15/8/2019; Bước 2, lựa chọn dựa trên tiêu chí thủ tục có số lượng trên 2.000 hồ sơ hoặc trên 50 doanh nghiệp tham gia thực hiện trên NSW trong khoảng thời gian từ 1/1/2019-15/8/2019, trong đó đã loại trừ các thủ tục có trên 50 DN thực hiện nhưng chỉ phát sinh dưới 200 hồ sơ thực hiện trong năm 2019, và 2 thủ tục do không có số lượng doanh nghiệp và là thủ tục nội địa (31 thủ tục); Còn ở Bước 3, sẽ chọn ra 12 trong số 31 thủ tục để thực hiện khảo sát và đo thời gian, với tiêu chí lựa chọn thủ tục đại diện của 5 Bộ, ngành và 2 thủ tục của liên ngành theo tiêu chí có số lượng hồ sơ và doanh nghiệp nhiều nhất (loại bỏ các thủ tục chỉ mang tính đăng ký).

Theo Tổng cục Hải quan, dự kiến khảo sát khoảng 10.000 doanh nghiệp thực hiện (số doanh nghiệp được lựa chọn khảo sát theo mỗi thủ tục với các doanh nghiệp có số lượng hồ sơ thực hiện nhiều nhất trong thời gian từ 1/1/2019-30/9/2019) trên nguyên tắc đo thời gian dựa trên dữ liệu ghi nhận tự động của quá trình thực hiện từng thủ tục (12 thủ tục nêu trên) trên Hệ thống NSW. (Congthuong.vn 17/10, Hoàng Châu) Về đầu trang

Tiến tới “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH”

Ngành BHXH đang khẩn trương xây dựng “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH” phục vụ người dân và doanh nghiệp với các dịch vụ tiện ích, hiện đại.

Qua hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL), ngành BHXH đã kết nối liên thông dữ liệu với gần 100% cơ sở khám chữa bệnh (KCB) BHYT từ tuyến xã đến Trung ương trên phạm vi toàn quốc để thực hiện quản lý KCB, giám định và thanh toán BHYT.

Hiện nay hệ thống CSDL của BHXH phục vụ hơn 80 triệu người đang tham gia BHXH, BHYT; liên kết với hơn 11.000 điểm đại lý bưu điện, hỗ trợ người dân dễ dàng tham gia BHXH, BHYT. Cùng với việc đưa vào hoạt động Trung tâm điều hành hệ thống CNTT, BHXH Việt Nam cũng chính thức đưa vào hoạt động Trung tâm dịch vụ khách hàng là đầu mối giải đáp chính sách và hỗ trợ tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng dịch vụ công trực tuyến của ngành BHXH, hoạt động 24/7.

Ngoài ra, BHXH Việt Nam đang tập trung nghiên cứu dự thảo về sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử để triển khai thí điểm trong thời gian tới, chậm nhất đến năm 2020 sẽ thực hiện cấp đầy đủ sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử; từng bước hoàn thiện CSDL về bảo hiểm để tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử.

Đến nay, BHXH Việt Nam đã xây dựng được một số CSDL quan trọng như: CSDL hộ gia đình tham gia BHYT; CSDL sổ BHXH, thẻ BHYT và quá trình tham gia BHXH, BHYT; CSDL người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; CSDL thuốc, hoạt chất và vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật trong danh mục được thanh toán KCB BHYT; CSDL hồ sơ thanh toán chi phí KCB BHYT, kết quả giám định thanh toán chi phí KCB BHYT.

Ngành đã cấp và quản lý mã số BHXH tập trung trên CSDL hộ gia đình tham gia BHYT. Mục tiêu cấp mã số là nhằm quản lý xuyên suốt quá trình tham gia đóng, hưởng chế độ BHXH, BHYT và chống lạm dụng quỹ BHXH, BHYT, đồng thời làm căn cứ cấp sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử.

Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam cũng đã thực hiện số hóa và lưu trữ dưới dạng điện tử gần 5 triệu hồ sơ giấy của đối tượng tham gia BHXH, tương đương 25 triệu trang tài liệu điện tử để BHXH 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHXH cấp huyện và BHXH Bộ Quốc phòng khai thác, sử dụng.

Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, BHXH đã tích cực triển khai văn phòng không giấy tờ tại cơ quan BHXH các cấp giúp nâng cao tốc độ, hiệu quả công việc, hiệu lực quản lý, đồng thời đảm bảo tính chính xác của công việc, hạn chế sai sót, tiêu cực và tăng cường giám sát thực thi công vụ…

Hiện nay, ngành BHXH đang khẩn trương xây dựng “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH” phục vụ người dân và DN với các dịch vụ tiện ích, hiện đại. Ngoài dịch vụ tin nhắn tra cứu đã đi vào hoạt động, thời gian tới, sẽ triển khai tiếp dịch vụ thanh toán trực tuyến; Ứng dụng BHXH trên thiết bị di động; Hệ thống Chatbot hỗ trợ khách hàng (trả lời chính sách BHXH, BHYT tự động bằng trí tuệ nhân tạo, tăng tính tương tác cao với người tham gia, cung cấp thông tin đóng, hưởng BHXH, BHYT và dự tính mức hưởng nhằm phục vụ người dân tốt hơn); Phân tích, khai thác dữ liệu trên hệ thống dữ liệu tập trung (BigData)… (Baogiaothong.vn 18/10, Vũ Thanh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

“Đường đi” của tham nhũng!

“Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, kiên quyết, kiên trì, rõ đến đâu xử lý đến đó” là những nhận xét được cử tri nhiều địa phương nhắc đến tại các cuộc tiếp xúc cử tri trước thềm Kỳ họp thứ Tám, QH Khóa XIV vừa qua. Đó là sự ghi nhận, là niềm tin của cử tri đối với những chuyển biến chưa từng có trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” này.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong năm 2019 được đánh giá là có nhiều điểm mới, nhiều bước tiến quan trọng so với những năm trước.

Ở góc độ “chống”, trước đây, dư luận xã hội phàn nàn, bức xúc rất nhiều về những vụ việc cụ thể lẽ ra phải xử lý với đúng bản chất là tội tham nhũng nhưng lại được chuyển sang các tội về kinh tế như cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Không loại trừ có yếu tố tiêu cực trong quá trình xử lý nhưng có một thực tế là nhiều vụ không chứng minh được yếu tố chiếm đoạt, vụ lợi nên dù muốn cũng không thể xử lý với tội danh tham nhũng. Tuy nhiên, trong năm nay, đã bắt đầu chứng minh được yếu tố chiếm đoạt và đã khởi tố điều tra được một số vụ án, đặc biệt, như Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nhận xét, đã trực diện vào loại tội tham nhũng là đưa và nhận hối lộ, trong đó, vụ nhận hối lộ của 2 nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, ông Nguyễn Bắc Son và ông Trương Minh Tuấn là điển hình. Công tác thu hồi tài sản tham nhũng cũng đạt kết quả tích cực hơn so với các năm trước.

Ở góc độ “phòng”, ngay sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được QH thông qua, Chính phủ đã ban hành ngay Nghị định 59 hướng dẫn thi hành Luật, trong đó, hướng dẫn cụ thể về một cơ chế rất mới trong Luật đó là kiểm soát xung đột lợi ích, tức là cấm cán bộ, công chức, người có chức vụ quyền hạn không được làm gì và được làm gì. Gần đây nhất, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 205 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền với những biện pháp cụ thể, chặt chẽ và nghiêm khắc để phòng ngừa tham nhũng từ sớm, từ xa ở khâu vốn được cho là phức tạp và nhạy cảm lâu nay là công tác cán bộ.

Dù vậy, vẫn còn rất nhiều việc phải làm mới có thể đẩy lùi được vấn nạn tham nhũng, trong đó phải gia tăng các công cụ, thiết chế “phòng”.

Trước hết là với những bước tiến quan trọng của công tác này thời gian qua, sau tất cả những vụ lớn như AVG, sai phạm ở Thủ Thiêm (TP Hồ Chí Minh) nói riêng và sai phạm trong quản lý đất đai ở các địa phương, sai phạm ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước…, đã đến lúc như đề xuất của Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, cần phải nghiên cứu, làm rõ “đường đi” của tham nhũng như thế nào. Vì sao những vụ tham nhũng lớn vừa qua lại có thể “con voi chui lọt lỗ kim” và phải đến khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng vào cuộc mới phanh phui, xử lý được? Bao nhiêu công cụ phòng ngừa, kiểm soát quyền lực, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, quan chức đã suy yếu và trở nên vô hiệu hoặc bị vô hiệu hóa ở những lĩnh vực nào, công đoạn nào, khâu nào, vị trí cụ thể nào mà có thể dẫn đến tình trạng kết bè, kết cánh “cả một dây theo nhau đi” lũng đoạn quyền lực công và xâu xé tài sản công như vậy? Tài sản tham nhũng đã được “tẩu tán” lắt léo, tinh vi qua những con đường nào với phương thức ra sao mà khó thu hồi, khó truy nguồn gốc đến như vậy?... Cả hai “mặt trận” phòng và chống tham nhũng đều phải kiên trì, quyết liệt. Xử lý từng vụ tham nhũng lớn sẽ tác động trực diện, hiệu quả ngay lập tức. Nhưng phân tích, nhận diện chính xác, bóc tách từng lớp, từng lớp thủ đoạn tinh vi của tham nhũng để từ đó củng cố, xây dựng thêm các công cụ, thiết chế “rào chắn” chặt chẽ hơn là việc căn cơ, mang tính chiến lược và dài hạn phải làm ngay, làm thường xuyên để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng từ trong “trứng nước”.

Có lẽ, như đề xuất của Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, Chính phủ cần giao cho Thanh tra Chính phủ nghiên cứu vấn đề này. “Chúng ta có hẳn Cục Phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ phải làm nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc Thanh tra Chính phủ phải có một cơ quan nghiên cứu về vấn đề này. Khi đã lập ra cơ quan chuyên trách của Chính phủ thì cơ quan chuyên trách đó phải làm nhiệm vụ nghiên cứu vĩ mô và báo cáo lại với Chính phủ, với UBTVQH và QH”. (Daibieunhandan.vn 18/10, Quỳnh Chi) Về đầu trang

Chính phủ dự báo phòng, chống tham nhũng sẽ “tích cực, đậm nét”

Thời gian tới, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) sẽ tiếp tục đạt được kết quả toàn diện, tích cực, đậm nét; tham nhũng bước đầu được ngăn chặn và đẩy lùi… Thay mặt Chính phủ, thừa uỷ quyền của Thủ tướng, Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái vừa ký báo cáo công tác PCTN năm 2019 gửi Quốc hội.

Theo Chính phủ, năm 2019, tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, mặc dù vẫn còn phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực và tinh vi hơn, nhất là tình trạng “tham nhũng vặt”, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc để vụ lợi.

“Dự báo trong thời gian tới, công tác PCTN sẽ tiếp tục đạt được kết quả toàn diện, tích cực, đậm nét; tham nhũng bước đầu được ngăn chặn và đẩy lùi, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước”, Chính phủ khái quát.

Báo cáo cho thấy, công tác phòng ngừa tham nhũng tiếp tục triển khai có hiệu quả. Số người đã kê khai tài sản, thu nhập và số bản kê khai đã công khai đạt tỷ lệ trên 99%. Qua xác minh tài sản, thu nhập, phát hiện 10 trường hợp vi phạm (tăng 4 trường hợp so với cùng kỳ năm trước). Đến nay, đã xử lý kỷ luật 8 trường hợp, đang xem xét xử lý kỷ luật 2 trường hợp.

Việc thực hiện quy định về tặng quà, nộp lại quà tặng được Chính phủ quán triệt, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc. Trong kỳ báo cáo, có 6 cá nhân đã nộp lại quà tặng theo quy định với tổng giá trị là 182 triệu đồng; phát hiện, xử lý 3 vụ việc nhận quà không đúng quy định với tổng giá trị là 3,99 tỷ đồng.

Cụ thể, gồm: 1 nhân viên hợp đồng của UBND thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, nhận quà không đúng quy định 150 triệu đồng, đã xử lý thu hồi số tiền này và sa thải người vi phạm; 1 cán bộ công tác tại trạm khuyến nông huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, nhận quà không đúng quy định 120 triệu đồng từ năm 2018, người vi phạm đã nộp lại tiền và đến nay đã xử lý cho nghỉ việc; 1 số lãnh đạo của Công an tỉnh Cao Bằng nhận quà tặng 1 xe ô tô từ năm 2016 trị giá 3,72 tỷ đồng.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Cao Bằng, trường hợp nhận tặng 1 xe ô tô,  “quá trình xác minh, kết luận, Bộ Công an xử lý kỷ luật cảnh cáo 2 trường hợp; Tỉnh ủy Cao Bằng xử lý kỷ luật cảnh cáo 3 trường hợp; Công an tỉnh xử lý kỷ luật cảnh cáo 2 trường hợp, khiển trách 1 trường hợp”.

Đáng chú ý, năm 2019, có 30 người đứng đầu đã bị xử lý kỷ luật do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng; có 3 người đứng đầu bị xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng (gồm: Tiền Giang 2 người; Cao Bằng 1 người).

Tổng Thanh tra Lê Minh Khái cũng cho hay, công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được đẩy mạnh, xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức, cá nhân sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước.

“Nhiều vụ án được mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can, làm rõ bản chất vụ lợi, chiếm đoạt, tham nhũng, tiếp tục khẳng định quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” trong đấu tranh PCTN”, báo cáo nêu.

Nhiều vụ án điển hình đã được “điểm danh” như: Vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”) cùng đồng phạm lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ...; Vụ án đưa, nhận hối lộ tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone, Bộ Thông tin và Truyền thông, Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG); vụ án Đinh Ngọc Hệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển đầu tư Thái Sơn lợi dụng chức vụ, quyền hạn, gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi…

Cùng với đó, các cơ quan chức năng đã chú trọng xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích kẻ phạm tội tự nguyện giao nộp tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra để được hưởng khoan hồng.

Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp cũng tích cực, chủ động, quyết liệt trong kiểm tra, giám sát, kết luận, làm rõ nhiều vi phạm, nhất là Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, kết luận nhiều vụ việc sai phạm nghiêm trọng liên quan đến tham nhũng, quyết định kỷ luật và đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật nhiều tổ chức đảng và đảng viên là cán bộ cao cấp vi phạm, cả đương chức, chuyển công tác và đã nghỉ hưu.

Tuy nhiên, Chính phủ cho hay, vẫn còn nhiều quy định chưa sát với thực tế, dẫn đến tham nhũng, lãng phí. Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, chuyển đổi vị trí công tác, kiểm soát tài sản, thu nhập, nộp lại quà tặng còn nhiều hạn chế.

Một số bộ, ngành, địa phương còn tình trạng xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý thiếu chặt chẽ, nhiều trường hợp thiếu điều kiện, tiêu chuẩn, phẩm chất, năng lực; bố trí người thân vào vị trí việc làm hoặc để người thân kinh doanh trong phạm vi quản lý; thiếu kiên quyết điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng,  uy tín thấp.

Tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp chưa được ngăn chặn có hiệu quả; rất ít vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện qua tự kiểm tra trong nội bộ; số vụ việc, vụ án được phát hiện, xử lý chưa phản ánh đúng thực trạng tham nhũng. Trong một số vụ án vẫn xảy ra trường hợp đối tượng bỏ trốn; vẫn xảy ra tình trạng một số cán bộ thuộc cơ quan bảo vệ pháp luật, PCTN lại có hành vi tham nhũng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Công tác thu hồi tài sản trong giai đoạn thi hành án hiệu quả chưa cao. Báo cáo nêu, trong năm, tổng số tiền phải thi hành là hơn 10.198 tỷ đồng, trong đó số có điều kiện là hơn 7.378 tỷ đồng, hiện mới thi hành xong hơn 235 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 3,19%). Trong số 37 vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, tính đến hết tháng 6/2019, mới thi hành xong 9.454 tỷ đồng/68.856 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 13,73%.

Để công tác PCTN hiệu quả hơn nữa, trong năm 2020, Chính phủ sẽ rà soát, xác định rõ những cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội còn thiếu chặt chẽ, sơ hở, chồng chéo, dễ bị lợi dụng, dễ làm nảy sinh tham nhũng; kiên quyết loại bỏ những cán bộ hư hỏng, tham nhũng ra khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước, trước hết là trong các cơ quan chống tham nhũng.

Tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào các dự án đầu tư lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; quản lý, sử dụng đất đai; đầu tư theo hình thức BT, BOT…; đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, kinh tế đã phát hiện… (Thanhtra.com.vn 18/10, Hương Giang) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Indonesia trong cuộc chiến chống tham nhũng

Ngày 17/10, truyền thông Indonesia đồng loạt đưa tin Cơ quan chống tham nhũng (KPK) của nước này vừa bắt giữ hàng chục quan chức tham nhũng tại nhiều địa phương trong cả nước, tiếp nối cuộc chiến đẩy lùi tiêu cực “chưa khi nào ngừng nghỉ”.

Theo đó, ngày 16/10, KPK đã thực hiện lệnh bắt giữ ông Dzulmi Eldin- Thị trưởng thành phố Medan thuộc tỉnh Bắc Sumatra, với cáo buộc nhận hối lộ. Đáng chú ý, ông Eldin là thành viên đảng Golkar thuộc liên minh cầm quyền. Trước khi ông Eldin bị còng tay, thì trong tối 15/10, có tới 6 nghi phạm “máu mặt” được cho là liên quan tới vụ án cũng bị bắt giữ trong các cuộc đột kích đồng loạt của lực lượng KPK.

Theo Febri Diansyah- Phát ngôn viên của KPK thì ông Dzulmi bị cáo buộc nhận hối lộ từ các văn phòng khác nhau của chính quyền thành phố. Các nhà điều tra đã thu giữ 200 triệu rupiah (14.100 USD) tiền mặt làm bằng chứng. Trong hồ sơ lưu trữ của KPK, tháng 3 năm nay, ông Eldin tự kê khai khối tài sản cá nhân là 20,39 tỷ rupiah (gần 1,5 triệu USD).

Đây được coi là sự “tái khởi động” cuộc chiến chống tham nhũng ở Indonesia. Liên tiếp trong 3 ngày, từ ngày 14 đến ngày 16/10, KPK đã bắt giữ hàng chục nghi phạm tham nhũng khác ở 5 địa phương khác nhau, trong đó có người đứng đầu huyện Indramayu thuộc tỉnh Tây Java và một số quan chức tại tỉnh Đông Kalimantan và thủ đô Jakarta.

Câu chuyện chống tham nhũng ở Indonesia “bùng nổ” kể từ năm 2014 với quyết tâm chính trị của ban lãnh đạo đất nước, dù rằng Cơ quan chống tham nhũng (KPK) được thành lập trước đó 10 năm. Đầu năm 2014, câu chuyện đình đám nhất là Viện Công tố Jakarta đề nghị phạt một cựu đại biểu Quốc hội, ông Izedrik Emir Moeis, bốn năm rưỡi tù giam vì tội nhận 357.000 USD hối lộ trong vụ thắng thầu của một tập đoàn nước ngoài. Ông này bị coi là đã trực tiếp can dự bằng ý kiến “thuận” để được nhận lo lót.  Để đưa được nguyên đại biểu Quốc hội này vào tù, KPK đã phải lấy lời khai của 27 nhân chứng, thậm chí phải cử điều tra viên sang Mỹ và Nhật thẩm vấn các nhân chứng liên quan chủ chốt trong vụ hối lộ.

Kể từ đó, người Indonesia hay nói đến cụm từ “Quân pháp bất vị thân”, đặc biệt khi KPK nhận được  “thượng phương bảo kiếm” của Tổng thống. Kể cả vị chánh án đầy quyền lực Akil Mochtar của Tòa án Hiến pháp nhận hối lộ để thu xếp một vụ kiện bầu cử địa phương, cũng bị bắt.  Sở dĩ KPK đầy sức mạnh là do được trao quyền nghe lén, cấm xuất cảnh, truy lục thông tin ngân hàng, đóng băng các tài khoản, yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật hỗ trợ, bắt giam các nghi can mà không cần phải “nghe ngóng” gì.

Trong vòng hơn 20 năm trở lại đây, tham nhũng ở Indonesia đã ở mức đáng lo ngại. Năm 2017 nước này xếp thứ 96/180 quốc gia theo đánh giá Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI). Báo cáo của Tổ chức Giám sát tham nhũng của Indonesia (ICW) cũng chỉ ra, nửa đầu năm 2018, có 139 vụ tham nhũng, trong đó, nhiều vụ liên quan đến các chính trị gia và nhiều quan chức các cấp của Chính phủ.  Tham nhũng trong khu vực công ở Indonesia đã trở thành mối quan tâm thực sự đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Việc các công ty chi tiền hối lộ để xúc tiến các dịch vụ công hoặc để bảo vệ lợi ích kinh doanh của mình rất phổ biến. Điều này đã làm chậm sự tăng trưởng của khu vực đầu tư nước ngoài - một khu vực rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển.

21 năm trước, Hội đồng Đại diện Nhân dân (DPR, hay còn gọi là Hạ viện) đã ban hành Luật Chống tham nhũng. Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức thực thi pháp luật vẫn chưa thực thi có hiệu quả các quy định, đạo luật về chống tham nhũng, cho đến khi KPK được nhận “thượng phương bảo kiếm”. Người đứng đầu KPK, ông Agus Raharjo, không những rất mạnh tay với quan chức tham nhũng mà còn liên tục kiến nghị Chính phủ tăng quyền cho KPK.

Đáng chú ý, không chỉ tập trung vào giới quan chức chính quyền, các chính trị gia mà KPK còn mở rộng chống tham nhũng sang khu vực tư, với quan điểm đây chính là sân sau, là nơi “cung cấp tiền” cho quan chức Chính phủ, bắt tay nhau để chia chác công quỹ. Theo Bộ trưởng Kế hoạch phát triển quốc gia Bambang Brodjonegoro,  trong khi tham nhũng khu vực công là mối quan tâm lớn, thì thực tế khoảng 80% số vụ tham nhũng ở nước này liên quan đến tư nhân khi tìm cách “mua đứt” giới cầm quyền. (Daidoanket.vn 18/10, Thế Tuấn) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.036.673 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này