Bản tin cải cách hành chính ngày 25/10/2019

Font size : A- A A+

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

1. Chỉ số nộp thuế của Việt Nam tăng 22 bậc

2. Truy cập dữ liệu điện tử tạo thuận lợi cho kiểm toán

3. Phê duyệt Đề án phát triển công nghệ thông tin y tế thông minh giai đoạn 2019 – 202

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

4. Quốc hội xem xét đề xuất bổ sung quyền cho Thủ tướng

5. Kiểm tra phòng chống tham nhũng tại Bộ Tài chính

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Doanh nghiệp vẫn than bị thanh tra, kiểm tra quá nhiều

7. Phải loại khỏi bộ máy

TIN THẾ GIỚI

8. Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương: Tốc độ cải cách môi trường kinh doanh chậm lại

9. Bộ trưởng Bộ Thương mại Nhật Bản mất chức vì khoản tiền viếng 180 USD

         

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Chỉ số nộp thuế của Việt Nam tăng 22 bậc

Đây là kết quả của quá trình cải cách hành chính thuế được thực hiện mạnh mẽ trong nhiều năm qua với việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế.

Việt Nam xếp thứ 70 trong số 190 nền kinh tế được Ngân hàng Thế giới khảo sát về mức độ dễ dàng kinh doanh, đặc biệt chỉ số nộp thuế tăng tới 22 bậc. Đó là những thông tin quan trọng được Ngân hàng thế giới công bố sáng 24/10 trong Báo cáo môi trường kinh doanh - Doing Business 2020 toàn cầu.

Không chỉ khai thuế qua mạng mà nộp thuế, hoàn thuế cũng theo phương thức điện tử. Thủ tục kê khai thuế đã được giảm thiểu hết mức như không phải nộp tờ khai hàng quý thuế thu nhập doanh nghiệp và không phải nộp bảng kê hóa đơn giá trị gia tăng. Hầu hết mọi thủ tục hành chính thuế đã được điện tử hóa.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, thời gian nộp thuế tại Việt Nam tiếp tục giảm 114 giờ; số lần nộp thuế giảm 4 lần và tổng mức thuế suất giảm 0,2%. Đây là bằng chứng cho thấy những nỗ lực vượt bậc của toàn hệ thống thuế trong suốt 1 năm qua với rất nhiều ứng dụng công nghệ thông tin đã cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi hơn cho DN và người dân trong thực hiện nghĩa vụ thuế.

Chỉ số nộp thuế của Việt Nam tăng 22 bậc không chỉ vượt chỉ tiêu đã đề ra tại Nghị quyết số 02 của Chính phủ mà còn tạo tiền đề để ngành thuế phấn đấu đến năm 2021, chỉ tiêu này tăng từ 30 - 40 bậc và lọt vào tốp dẫn đầu của các nước ASEAN. (Kênh VTV1 – Bản tin Thời sự lúc 19h ngày 24/10)Về đầu trang

Truy cập dữ liệu điện tử tạo thuận lợi cho kiểm toán

Quyền truy cập dữ liệu điện tử sẽ làm thay đổi căn bản hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo tính an toàn có kiểm soát cho cả hệ thống tài chính công.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Kiểm toán Nhà nước có nhiều điểm đáng chú ý. Trong đó, có quy định quyền truy cập dữ liệu điện tử của Kiểm toán nhà nước thu hút sự quan tâm của công chúng.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4, dữ liệu điện tử ngày càng trở nên quan trọng. Vì vậy, việc quy định quyền này là cần thiết để hoạt động kiểm toán nhà nước chính xác, nhanh hơn và hiệu quả hơn nhưng cũng là quy định cần cụ thể và chặt chẽ để đảm bảo quyền cho các bên liên quan.

Thu, chi 1 đồng hay cả tỷ đồng, bất cứ hoạt động tài chính nào cũng được ghi nhận trong hệ thống điện tử. Không chỉ ngoại thương Việt Nam mà đến nay, hầu hết các doanh nghiệp đều đã sử dụng dữ liệu điện tử trong hoạt động của mình.

Nếu Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán mà chỉ dựa trên các dữ liệu thủ công là giấy tờ in thì mất nhiều ngày và không thể toàn diện, còn truy cập dữ liệu điện tử chỉ mất chục giây với những phần mềm kiểm toán chuyên biệt thì vài phút đã có thể có kết quả chính xác.

Để đảm bảo tính bảo mật trong quyền truy cập dữ liệu điện tử, dự thảo luật đã quy định rất rõ ràng và chặt chẽ. Giới hạn của dữ liệu chỉ ở phạm vi số liệu phục vụ công tác liên quan đến đầu tư công, liên quan đến vấn đề chi tiêu công và được giám sát bởi đơn vị được kiểm toán.

Việc truy cập dữ liệu điện tử không chỉ phục vụ cho kiểm toán từng đơn vị riêng lẻ mà là nền tảng dữ liệu để Kiểm toán Nhà nước xây dựng hệ thống dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo hướng tới mục tiêu cảnh báo sớm cho hoạt động tài chính công, đầu tư công. (Kênh VTV1 – Bản tin Thời sự lúc 19h ngày 24/10)Về đầu trang

Phê duyệt Đề án phát triển công nghệ thông tin y tế thông minh giai đoạn 2019 – 202

Thực hiện Nghị quyết số 52 -NQ/TW ngày 27/09/2019 của Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến vừa ký ban hành Quyết định số 4888/QĐ-BYT về việc "Phê duyệt Đề án phát triển công nghệ thông tin y tế thông minh giai đoạn 2019 -2025".

Đề án được phê duyêt dựa trên cơ sở pháp lý của Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ chương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế, Đề án có mục tiêu chung là “Ứng dụng và phát triển công nghệ số, công nghệ thông minh trong y tế góp phần xây dựng hệ thống y tế Việt Nam hiện đại, chất lượng, công bằng, hiệu quả và hội nhập quốc tế; hỗ trợ người dân dễ dàng tiếp cận thông tin y tế để sử dụng các dịch vụ y tế có hiệu quả cao và được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe liên tục, suốt đời”.

Trên cơ sở mục tiêu chung, Đề án có 3 mục tiêu cụ thể. Để thực hiện các mục tiêu đó, Bộ Y tế cũng đề ra 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quý Tường, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, đến nay, Bộ Y tế là Bộ, Ngành đầu tiên phê duyệt Đề án về chủ động tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư kể từ khi có Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ chương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai thực hiện Đề án này mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, xã hội rất có ý nghĩa.

Đề án phát triển công nghệ thông y tế thông minh được triển khai sẽ hình thành hệ thống phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe thông minh, giúp người dân chủ động phòng bệnh, dễ dàng tiếp cận các thông tin y tế, đồng thời được tư vấn, giúp đỡ chăm sóc sức khỏe kịp thời, hiệu quả.

Với hệ thống khám bệnh, chữa bệnh thông minh, người dân sẽ được sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh tiên tiến và thuận lợi, hạn chế các rủi ro, tai biến khi điều trị, tiết kiệm được thời gian và chi phí khám chữa bệnh.

Hệ thống khám bệnh, chữa bệnh thông minh sẽ góp phần giảm tải bệnh viện, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện, giảm thiểu tối đa các lỗi bất cẩn của con người. Góp phần xây dựng hình ảnh mới của bệnh viện: văn minh, hiện đại, hết lòng vì bệnh nhân. Quản lý, khai thác thông tin bệnh viện nhanh chóng, hiệu quả, thuận tiện.

Hệ thống quản trị y tế thông minh sẽ giúp cho các cơ quan quản lý y tế ra quyết định chính sách kịp thời dựa trên khả năng phân tích dữ liệu lớn, quản lý, theo dõi hiệu quả hoạt động của toàn bộ mạng lưới dịch vụ y tế trên toàn quốc, tăng khả năng ứng phó nhanh với các tình huống bất ngờ như: kiểm soát, khống chế dịch bệnh, chia sẻ phương pháp điều trị mới, đào tạo từ xa, giúp cho hệ thống y tế Việt nam dễ dàng liên thông, hội nhập với thế giới.

Hình thành hệ thống y tế thông minh, góp phần nâng cao hình ảnh, chất lượng dịch vụ y tế tại Việt Nam, tăng sự tin tưởng của người dân, doanh nghiệp khi sử dụng các dịch vụ y tế, hướng đến nền y tế Việt Nam hiện đại, chất lượng, công bằng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. (Giadinhvietnam.com 25/10, X.Mai)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Quốc hội xem xét đề xuất bổ sung quyền cho Thủ tướng

Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương, trong đó có việc bổ sung thẩm quyền cho Thủ tướng vào sáng nay 25/10.

Sau khi nghe Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định trình bày báo cáo, giải trình dự án Luật nêu trên, các đại biểu sẽ thảo luận về những nội dung còn ý kiến khác nhau.

Tại dự thảo trình Quốc hội lần này, Bộ Nội vụ vẫn giữ đề xuất bổ sung thẩm quyền cho Chính phủ, Thủ tướng và các Bộ trưởng.

Với Thủ tướng, bên cạnh 11 nhóm nhiệm vụ và quyền hạn theo Luật hiện hành, dự thảo Luật bổ sung thêm quy định: Người đứng đầu Chính phủ có quyền chỉ đạo việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; phân cấp hoặc ủy quyền thực hiện những nội dung thuộc thẩm quyền về quản lý công chức, viên chức...

Ngoài ra, dự Luật cũng đề xuất bổ sung cho Thủ tướng thẩm quyền quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan hành chính nhà nước khác thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; thành lập Hội đồng, Ủy ban hoặc Ban khi cần thiết để giúp lãnh đạo Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những vấn đề quan trọng liên ngành.

Bộ trưởng sẽ có thêm quyền cho từ chức và biệt phái cán bộ, công chức, viên chức của các đơn vị trực thuộc; điều động, luân chuyển, biệt phái người đứng đầu hoặc cấp phó của đơn vị trực thuộc.

Dự thảo luật còn đưa ra các phương án giảm số lượng Phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, huyện từ hai người xuống còn một người.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương được trình Quốc hội lần đầu vào tháng 5; dự kiến biểu quyết thông qua vào 22/11. (Vnexpress.net 25/10, Viết Tuân)Về đầu trang

Kiểm tra phòng chống tham nhũng tại Bộ Tài chính

Đoàn công tác của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đã làm việc với Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về kiểm tra, đôn đốc công tác phòng chống tham nhũng tại Bộ này.

Bộ Tài chính là cơ quan quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, nhiều bộ phận cán bộ công chức thường xuyên tiếp xúc với người dân và doanh nghiệp nên công tác giám sát quản lý cán bộ trong thi hành công vụ còn khó khăn phức tạp. Trong 8 tháng qua, Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính luôn chú trọng chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên liên tục, đã triển khai thực hiện nghiêm các Nghị quyết kết luận của Trung ương về Phòng chống tham nhũng.

Thực hiện nghiêm các văn bản của Chính phủ về minh bạch tài sản, Bộ Tài chính đã hướng dẫn các đơn vị thuộc Bộ Tài chính lập danh sách kê khai, bàn giao kê khai tài sản, thu nhập theo quy định.

8 tháng qua, Bộ đã luân chuyển, chuyển đổi vị trí và điều động gần 12.000 lượt công chức.

Nhiều ý kiến tại buổi làm việc cho thấy, thời gian tới, Bộ Tài chính cần tăng cường hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường giám sát việc thực thi công vụ để ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. (VTV.vn 24/10)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Doanh nghiệp vẫn than bị thanh tra, kiểm tra quá nhiều

Doanh nghiệp vẫn phản ánh thanh tra, kiểm tra là nỗi lo lớn của họ nhưng không đơn vị nào dám nói về việc "bị thanh kiểm tra quá nhiều".

Thông tin được bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban, Ban nghiên cứu môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) đưa ra tại hội thảo Năng lực cạnh tranh Việt Nam: Kết quả và thách thức đối với doanh nghiệp (DN) được tổ chức ở TP HCM sáng nay, 24-10.

Theo công bố mới của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam đã tăng 10 bậc trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, từ hạng 77 lên hạng 67. Kết quả cải thiện điểm số và thứ hạng năng lực cạnh tranh này thể hiện nỗ lực liên tục trong những năm gần đây của Chính phủ.

Cụ thể, về cải cách môi trường kinh doanh như cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện; cắt giảm và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh; thay đổi phương thức quản lý chuyên ngành trong một số lĩnh vực...

Dù vậy, theo khảo sát của CIEM, cộng đồng DN phản ánh môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản, trong đó điều kiện kinh doanh vẫn là trở ngại chính. Việc quản lý, kiểm tra chuyên ngành chậm cải cách, thậm chí có những văn bản mới đi ngược lại với chỉ đạo của Chính phủ hoặc thể hiện cải cách hình thức, thiếu thực chất.

Bà Nguyễn Minh Thảo dẫn một số ví dụ, như máy điều hòa có nhiệt độ công suất nhỏ hơn 90.000 BTU thuộc quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ nhưng nếu công suất lớn hơn 90.000 BTU sẽ thuộc quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

"Đáng lưu ý, thanh tra, kiểm tra vẫn là nỗi lo lớn đối với DN. Dù theo chỉ thị của Thủ tướng mỗi năm cơ quan chỉ thanh kiểm tra 1 lần nhưng thực tế cơ quan quản lý trong các lĩnh vực thường không kết hợp với nhau để thanh kiểm tra. Và khi cơ quan quản lý tới thanh kiểm tra nội dung thường tương tự nhau nhưng không DN nào dám phản ánh bị "thăm" nhiều" - bà Nguyễn Minh Thảo nói.

Bên cạnh đó, chi phí không chính thức cũng còn phổ biến ở hầu hết lĩnh vực. Cùng một quy định chính sách nhưng cách thức thực thi khác nhau và có tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật và phần thua luôn thuộc về DN.

"Kiện là sẽ thắng nhưng với tâm lý không dám kiện vì các DN sợ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh" – đại diện CIEM dẫn ý kiến của DN.

Ông Nguyễn Văn Đức, Phó trưởng phòng pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh TP HCM, dẫn số liệu do DN cung cấp trong khảo sát của VCCI mới đây cho thấy có khoảng 54,8% DN phải trả các chi phí không chính thức. Nếu so sánh với số liệu của các năm trước thì có giảm nhưng chỉ ở mức độ tương đối vì con số DN phải trả chi phí không chính thức vẫn là rất lớn; và có tới 58,2% DN trả lời vẫn còn tồn tại tình trạng tham nhũng khi các cơ quan quản lý hành chính thực hiện quy định.

Như trong lĩnh vực nhập khẩu trang thiết bị y tế, theo Thông tư 35/2015/TT-BYT, nhiều sản phẩm không thuộc diện phải xin xác nhận của Bộ Y tế nhưng một số cơ quan hải quan vẫn yêu cầu DN thực hiện. Điều này gây khó khăn, bức xúc lớn cho DN; gây ách tắc và làm chậm thời gian giải phóng hàng; đồng thời làm phát sinh thủ tục hành chính, tạo áp lực công việc đối với cả Bộ Y tế. Quy định này thực hiện khác nhau ở các cửa khẩu.

Hoặc theo phản ánh của nhiều DN tới CIEM, tất cả DN xuất khẩu gạo đều phải chi trả chi phí không chính thức với mức cao cho các tổ chức kiểm định. Các tổ chức này thường yêu cầu DN phải chi ngoài với mức 25-30 triệu đồng/1.000 tấn gạo... (Người lao động 24/10, Thái Phương)Về đầu trang

Phải loại khỏi bộ máy

Trong báo cáo của Bộ Nội vụ gửi đến Quốc hội tại Kỳ họp thứ Tám về việc tiếp tục thực hiện các nghị quyết về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn cho biết, tính đến ngày 25.9.2019, vẫn còn 2.694 công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Trong khi đó, đối với viên chức, con số ấy lớn hơn rất nhiều, 6.240 người chưa hoàn thành nhiệm vụ. Câu hỏi đặt ra là, chúng ta có quyết liệt để đưa những người “không hoàn thành nhiệm vụ” ra khỏi bộ máy hay không?.

Cụ thể hơn, tổng hợp số liệu báo cáo kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức năm 2018 của 30 bộ, ban, ngành ở Trung ương và 61 địa phương, tính đến ngày 25.9.2019 có tổng số 469.035 công chức. Trong đó, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: 132.573 người, chiếm tỷ lệ 28,27%; hoàn thành tốt nhiệm vụ: 320.660 người, chiếm tỷ lệ 68,37%; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực: 10.686 người, chiếm tỷ lệ 2,28%. Đáng chú ý là, số người không hoàn thành nhiệm vụ có 2.694 người, chiếm tỷ lệ 0,57%.

Trong khi đó, số viên chức là 1.659.979 người, số người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: 457.550 người, chiếm tỷ lệ 27,56%. Số người hoàn thành tốt nhiệm vụ là 1.098.137 người, chiếm tỷ lệ 66,15%. Số viên chức hoàn thành nhiệm vụ: 97.043 người, chiếm tỷ lệ 5,85%. Có 6.240 người, chiếm tỷ lệ 0,37% viên chức không hoàn thành nhiệm vụ.

Số liệu tổng hợp chưa phản ánh hết thực tế bởi cho đến thời điểm tổng hợp số liệu, vẫn còn 2 bộ và 2 địa phương chưa có báo cáo gửi về Bộ Nội vụ. Tuy vậy, nhìn vào số liệu báo cáo của 30 bộ ngành và 61 địa phương cho thấy, bên cạnh số đông những người hoàn “thành xuất sắc nhiệm vụ”, vẫn còn những người “không hoàn thành nhiệm vụ”.

Dù chiếm tỷ lệ khá “khiêm tốn” trong số công chức, viên chức nhưng những người “không hoàn thành nhiệm vụ” đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của bộ máy, kéo lùi cải cách nền công vụ vì dân mà Chính phủ đang nỗ lực thực hiện. Một trong những đối tượng phải gánh chịu hậu quả của việc cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ gây ra chính là người dân và doanh nghiệp.

Chúng ta sẽ phải làm gì khi có gần 3 nghìn công chức, hơn 6 nghìn viên chức không hoàn thành nhiệm vụ vẫn ăn lương và ngồi trong bộ máy?.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ. Đó có thể là trình độ của công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc. Hay nói cách khác, vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn của người đó. Ngoài ra, dù có năng lực trình độ nhưng cán bộ, công chức, viên chức cố tình không thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao. Một trong những biểu hiện của tình trạng này là vì lý do này, lý do khác, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm nào đó, trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức, viên chức cố tình phớt lờ các quy định pháp luật, bỏ qua đạo đức công vụ, chậm trễ trong việc giải quyết công việc gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Thời gian qua, có một số công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ đã bị điều chuyển hoặc đưa ra khỏi bộ máy, nhưng số này không nhiều, bởi việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức của chúng ta còn tình trạng nể nang, hình thức.

Liên quan đến nội dung này, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức trình QH cho ý kiến tại kỳ họp này quy định: “cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cho thôi việc đối với công chức có 2 năm liên tiếp được phân loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ”. Dự thảo Luật vẫn đang trong quá trình thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, tuy nhiên, quy định của dự thảo Luật được đánh giá là cơ sở pháp lý quan trọng, trên cơ sở kết quả đánh giá cán bộ, công chức để đưa những người “không hoàn thành nhiệm vụ” ra khỏi bộ máy.

Việc áp dụng cho thôi việc đối với công chức phải trên cơ sở người đó “không hoàn thành nhiệm vụ” trong thời gian luật định. Việc cho thôi việc ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, việc làm của công chức, viên chức. Do đó, đòi hỏi việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức của người đứng đầu phải thực sự khách quan, công tâm. Muốn vậy, người đứng đầu phải thực sự quyết tâm, bản lĩnh vượt qua sự nể nang, duy tình trong đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.

Ngân sách nhà nước không đủ sức để “nuôi” những cán bộ, công chức khi họ không hoàn thành nhiệm vụ. Phải quyết tâm loại bỏ những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy. Đó cũng là biện pháp hữu hiệu để bộ máy hành chính hoạt động trơn tru, hiệu quả hơn. (Đại biểu nhân dân 25/10, Hà An)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương: Tốc độ cải cách môi trường kinh doanh chậm lại

Đó là nhận định của Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2020 của Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) vừa được công bố.

Báo cáo cho thấy, trong năm vừa qua, các nền kinh tế khu vực Đông Á–Thái Bình Dương đã tiến hành 33 chương trình cải cách về môi trường kinh doanh. Mặc dù nhiều nền kinh tế trong khu vực được đánh giá có môi trường thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ so với mặt bằng chung thế giới nhưng xét về tổng thể tốc độ cải cách đang chậm lại.

Số cải cách trong khu vực đã giảm đi 10 cải cách trong vòng 12 tháng qua tính đến ngày 1/5/2019 và chưa tới một nửa số nền kinh tế (12/25) có thực hiện cải cách. Mặc dù vậy, trong số 25 nền kinh tế đứng đầu thế giới về môi trường kinh doanh vẫn có 5 đại diện của khu vực Đông Á–Thái Bình Dương, bao gồm Singapore (thứ 2), Hồng Kông, Trung Quốc (thứ 3); Malaysia (thứ 12); Đài Loan, Trung Quốc (thứ 15); và Thái Lan (thứ 21). Đây là năm thứ hai liên tiếp Trung Quốc nằm trong top 10 nền kinh tế cải thiện nhiều nhất.

Bà Rita Ramalho, Giám đốc Cấp cao Nhóm chỉ số toàn cầu WB cho biết, “Những động lực cải cách ở khu vực Đông Á–Thái Bình Dương tiếp tục được duy trì, trong đó có một số quốc gia đạt những thành tích nổi bật như Trung Quốc. Cải cách liên tục là chìa khóa để cải thiện môi trường kinh doanh trong nước và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân”. 

Với 8 cải cách, Trung Quốc đã cải thiện quy định trong hầu hết các lĩnh vực được đánh giá trong Báo cáo Môi trường kinh doanh và là nền kinh tế thực hiện nhiều cải cách nhất trong khu vực. Bắc Kinh đã đơn giản hóa các yêu cầu đối với xây dựng cơ bản và thủ tục cấp thoát nước, đồng thời cắt giảm thời gian xử lý các thủ tục cấp phép thêm 44 ngày. Công tác xây dựng hiện nay được đảm bảo an toàn hơn nhờ thi hành chặt chẽ các quy định về giám sát kỹ thuật. Bên cạnh đó, quy trình kết nối lưới điện cho kho bãi cũng được cải thiện, biểu giá điện được minh bạch hóa.

Trung Quốc cũng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận thị trường quốc tế thông qua triển khai cơ chế khai báo hàng hóa trước, nâng cấp cơ sở hạ tầng cảng biển, tối ưu hóa thủ tục hải quan và công khai biểu phí.

Indonesia và Myanmar đã thực hiện 5 cải cách, đa phần đều liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể, Indonesia bắt đầu áp dụng hệ thống nộp đơn và thanh toán trực tuyến đối với các loại thuế phổ biến và triển khai hệ thống quản lý hồ sơ điện tử cho thẩm phán. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng tăng cường xử lý trực tuyến tờ khai hải quan xuất khẩu, giảm thời gian hoàn thành thủ tục xuất khẩu tại cửa khẩu thêm 7 giờ.

Trong khi đó, Myanmar tăng cường kiểm soát chất lượng xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng nước sạch vệ sinh và tăng cường hiệu quả quy trình xin cấp phép xây dựng, đưa nước này lên vị trí thứ 46 về chỉ số cấp phép xây dựng. Ngoài ra, Myanmar cũng bắt đầu công bố các báo cáo đo lường hiệu suất để giảm tranh chấp hợp đồng và áp dụng đăng ký doanh nghiệp trực tuyến.

Với 3 lĩnh vực cải cách trong năm qua, Philippines tiếp tục giữ vững đà phát triển. Một trong số những cải cách đã được thực hiện là xóa bỏ yêu cầu vốn tối thiểu đối với các doanh nghiệp trong nước. Quốc gia này cũng đơn giản hóa quy trình cấp giấy chứng nhận sử dụng đất.

Brunei, Lào, Papua New Guinea và Việt Nam đều tiến hành 2 cải cách. Brunei bắt đầu công bố các báo cáo đo lường hiệu suất của Tòa phúc thẩm Bandar Seri Begawan. Trong khi đó, Lào đã cải thiện chỉ số tiếp cận điện năng thông qua việc triển khai hệ thống Kiểm soát giám sát và thu thập dữ liệu tự động (SCADA) nhằm theo dõi tình trạng mất điện và khôi phục kết nối. Việt Nam nâng cấp hạ tầng thông tin của Tổng cục Thuế, hỗ trợ doanh nghiệp nộp thuế dễ dàng hơn.

Nhìn chung, các nền kinh tế trong khu vực đều tập trung cải cách lĩnh vực cấp phép xây dựng với 7 cải cách và khởi sự kinh doanh với 5 cải cách.

Các nền kinh tế Đông Á–Thái Bình Dương đạt kết quả tương đối tốt trong các chỉ số tiếp cận tín dụng, tiếp cận điện năng và cấp phép xây dựng. Thủ tục cấp nối điện cho một cơ sở mới xây dựng trong khu vực này là 63 ngày, ít hơn gần 12 ngày so với mức trung bình của các nền kinh tế OECD. Tương tự, quy trình cấp phép xây dựng ở các quốc gia Đông Á–Thái Bình Dương ngắn hơn 20 ngày so với các nền kinh tế OECD.

Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn ghi nhận nhiều yếu kém trong một số lĩnh vực như giải quyết tranh chấp hợp đồng, đây là lĩnh vực cần áp dụng các thông lệ quốc tế bao gồm các hệ thống thay thế giúp giải quyết tranh chấp và thành lập các tòa án thương mại chuyên biệt. Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua tòa án sơ thẩm địa phương có chi phí trung bình lên tới 47,2% giá trị khiếu nại, cao hơn gấp đôi mức trung bình là 21,5% của các nền kinh tế OECD. (Thanh Tra 24/10, TQ)Về đầu trang

Bộ trưởng Bộ Thương mại Nhật Bản mất chức vì khoản tiền viếng 180 USD

Bộ trưởng Bộ Thương mại Nhật Bản Isshu Sugawara từ chức ngày 25/10 vì cáo buộc nói rằng văn phòng của ông đã viếng tiền mặt và tặng quà cho người ủng hộ - một hành động vi phạm luật bầu cử của nước này.

Theo thông tấn Kyodo, vụ từ chức đột ngột của ông Sugawara là một trở ngại đối với Thủ tướng Shinzo Abe - người trao cho ông Sugawara ghế Bộ trưởng Bộ Thương mại trong cuộc cải tổ nội các diễn ra cách đây mới chỉ 1 tháng. Các đảng đối lập đã gia tăng sức ép đòi ông Sugawara phải từ chức nếu những cáo buộc nhằm vào ông là sự thật.

Phát biểu trước báo giới sáng 25/10, ông Abe nói rằng ông Hiroshi Kajiyama, cựu Bộ trưởng phụ trách cải cách quy chế, sẽ thay thế ông Sugawara trên cương vị người đứng đầu Bộ Thương mại.

Ông Sugawara, 57 tuổi, trở thành người phụ trách chính sách thương mại và công nghiệp của Nhật Bản đúng vào lúc căng thẳng leo thang trong quan hệ song phương giữa nước này với Hàn Quốc, sau khi Nhật áp hạn chế xuất khẩu các vật liệu chiến lược sang Hàn.

Nhiệm kỳ của ông Sugawara kết thúc chóng vánh sau khi tạp chí ra hàng tuần Shukan Bunshun viết trong số ra ngày 24/10 rằng thư ký của ông Sugawara đã trao số tiền viếng 20.000 Yên, tương đương 180 USD, tới tang gia một người ủng hộ ông ở Tokyo vào giữa tháng 10. Văn phòng của ông Sugawara cũng gửi hoa viếng đám ma tới một số tang gia trong năm nay, tờ tạp chí cho hay.

Luật bầu của của Nhật Bản cấm các chính trị gia tài trợ cho cử tri tại khu vực bầu cử của họ. Tuy nhiên, các chính trị gia được phép dùng tiền cá nhân để viếng, mừng trong các lễ ma chay, cưới hỏi.

Trong một cuộc họp báo thường kỳ ngày 25/10 sau khi họp nội các, ông Sugawara nói rằng ông vẫn đang xác định xem ông có vi phạm luật bầu cử như bị cáo buộc hay không. Nhưng ông cũng nói ông quyết định từ chức vì không muốn vụ bê bối này khiến một phiên họp Quốc hội bị hoãn.

Trước bài báo mới nhất của Shukan Bunshun, ông Sugawara đã bị chỉ trích sau khi tạp chí này đăng một bài viết nói rằng ông đã phát dưa hấu và cua cho người ủng hộ. Phe đối lập đã kêu gọi ông phải ra trước Quốc hội để giải thích. (Vneconomy.vn 25/10, An Huy)Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.036.684 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này