Bản tin cải cách hành chính ngày 14/2/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội chuẩn bị tổng kết tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

2. Quận 12, TPHCM  tập trung phát triển 5 chỉ tiêu kinh tế xã hội

3. Năm 2020: Thanh Hóa bãi bỏ 14 thủ tục hành chính quản lý tài chính doanh nghiệp

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Cục Thuế TP Hồ Chí Minh: Số hóa để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính

5. Gỡ vướng an toàn thông tin cho cơ chế một cửa

6. Triển khai thí điểm phần mềm dự án quản lý và cơ sở dữ liệu về đất đai

7. Miễn, giảm phí dịch vụ trong thanh toán trực tuyến các dịch vụ công

8. Bộ Công Thương đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9. Thay đổi quy định về chế độ thôi việc đối với viên chức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Thể chế hóa các nội dung cải cách chính sách bảo hiểm

         

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội chuẩn bị tổng kết tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 28/KH-UBND, triển khai tổng kết Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ; Kế hoạch số 158/KH-UBND ngày 24-8-2016 về CCHC nhà nước của thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020.

Theo kế hoạch, về xây dựng báo cáo tổng kết của UBND thành phố xây dựng theo đề cương và phụ lục do Bộ Nội vụ hướng dẫn tại Công văn số 6503/BNV-CCHC ngày 24-12-2019; đối chiếu các chỉ tiêu của Kế hoạch số 158/KH-UBND để đánh giá mức độ hoàn thành công tác CCHC của thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2016 - 2020. Các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố căn cứ kế hoạch CCHC giai đoạn 2016 - 2020 của cơ quan, đơn vị để xây dựng báo cáo đánh giá kết quả và mức độ hoàn thành kế hoạch CCHC giai đoạn 2016 - 2020.

Các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố tổng kết và gửi báo cáo về UBND thành phố trước ngày 15-4-2020. Đối với cấp thành phố, tổng kết trong quý II/2020; báo cáo gửi Bộ Nội vụ trước 20-6-2020.

Thông qua tổng kết nhằm đánh giá toàn diện tình hình triển khai và kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn thành phố; xác định rõ những kết quả nổi bật đã đạt được, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, đề xuất với Chính phủ các định hướng, giải pháp, nhiệm vụ CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, đánh giá kết quả việc thực hiện kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 của thành phố Hà Nội, ngày 23-12-2019, của UBND thành phố; xác định phương hướng công tác CCHC của thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 - 2030; khen thưởng các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong công tác CCHC giai đoạn 2016 - 2020.

Để làm tốt công tác tổng kết, UBND thành phố yêu cầu việc tổng kết, đánh giá Chương trình tổng thể trên địa bàn thành phố Hà Nội và Kế hoạch số 158/KH-UBND theo đúng chỉ đạo của Bộ Nội vụ và UBND thành phố, đảm bảo yêu cầu về nội dung đánh giá, số liệu tổng hợp, tiến độ thực hiện. Kế hoạch này được triển khai thực hiện tại 100% các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố... (Phapluatxahoi.vn 13/2, Hải Phòng) Về đầu trang

Quận 12, TPHCM  tập trung phát triển 5 chỉ tiêu kinh tế xã hội

Sáng 13-2, Đoàn công tác số 5 UBND TPHCM do Phó Chủ tịch UBND TPHCM Ngô Minh Châu làm trưởng đoàn, đã có cuộc làm việc với UBND quận 12 về các nội dung triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2020.

Báo cáo với đoàn công tác, Chủ tịch UBND quận 12 Lê Trương Hải Hiếu cho biết, năm 2020 quận 12 đặt ra 5 chỉ tiêu kinh tế xã hội cần tập trung phát triển. Trong đó, chuyển dịch mạnh mẽ tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ lên trên 60% với tốc độ tăng trưởng đạt 18,2%, thu ngân sách 105% so với kế hoạch đề ra. Trong nhóm giải pháp thực hiện các mục tiêu phát triển, quận tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nâng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính đạt trên 80%.

Đại diện lãnh các sở ngành thành phố đánh giá các chỉ tiêu mà quận đưa ra sát với tình hình thực tế và gắn với mục tiêu phát triển chung của thành phố. Là quận có tốc độ đô thị hóa cao, dân số tăng nhanh với hơn 600 ngàn người, trong khi hạ tầng đô thị còn thấp kém, chậm phát triển, tình hình an ninh trật tự, tội phạm hình sự chậm kéo giảm, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết tốt đã phát sinh khiếu kiện trong nhân dân… Đó là những vấn đề mà quận 12 cần tập trung vào giải quyết với tinh thần và cách thức sáng tạo nhất, nhằm huy động được nguồn lực xã hội và sự hỗ trợ, phối hợp tốt từ nhiều phía.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Ngô Minh Châu đề nghị các sở, ngành ghi nhận đầy đủ các kiến nghị của quận 12 để phối hợp giải quyết tốt các vướng mắc cản trở sự phát triển và thực hiện các mục tiêu mà quận đề ra. Quận cần tập trung vào các biện pháp giữ vững trật tự đô thị, giải quyết cho được tình trạng vi phạm trong quy hoạch, xây dựng.

“Dân số tăng nhanh, kéo theo là một loạt vấn đề về xã hội, nhà ở, đời sống của người dân mà các cấp chính quyền phải tập trung vào giải quyết. Nếu cứ để tình trạng phát triển đô thị tự phát, khó kiểm soát thì hệ quả mà chúng ta phải giải quyết về sau sẽ rất lớn. Chưa kể còn phát sinh ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp, khiếu kiện, mất trật tự xã hội, tội phạm gia tăng… Muốn phát triển nhanh, bền vững quận 12 cần sát thực, quyết liệt hơn nữa trong công tác quản lý đô thị, giữ vững trật tự xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã hội phát sinh và nâng cao chất lượng lãnh đạo, điều hành, quản lý của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội trên địa bàn”, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Ngô Minh Châu kết luận. (Sggp.org.vn 13/2, Hoài Nam) Về đầu trang

Năm 2020: Thanh Hóa bãi bỏ 14 thủ tục hành chính quản lý tài chính doanh nghiệp

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 5589/QĐ-UBND về việc công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản lý tài chính doanh nghiệp.

Theo đó, có 14 thủ tục hành chính bị bãi bỏ và có hiệu lực từ ngày 31/12/2019 bao gồm: Thủ tục quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh. Thủ tục phê duyệt phương án cổ phần hóa thuộc thẩm quyền quyết định của UBND tỉnh.

Thủ tục bổ sung vốn điều lệ cho các công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại các công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con. Thủ tục đề nghị hỗ trợ tiền thuê đất, thuê mặt nước. Thủ tục tạm ứng kinh phí đào tạo nguồn nhân lực và thủ tục thanh toán kinh phí đào tạo nguồn nhân lực.

Thủ tục tạm ứng kinh phí hỗ trợ phát triển thị trường và thủ tục thanh toán kinh phí hỗ trợ phát triển thị trường. Thủ tục tạm ứng kinh phí hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ và thủ tục thanh toán kinh phí hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ. Thủ tục tạm ứng kinh phí hỗ trợ hạng mục xây dựng cơ bản và thủ tục thanh toán kinh phí hỗ trợ hạng mục xây dựng cơ bản. Thủ tục thanh toán hỗ trợ chi phí vận chuyển và thủ tục miễn giảm tiền thuê đất.

Việc bãi bỏ các thủ tục trên nằm trong chương trình cải cách thủ tục hành chính của tỉnh Thanh Hóa với mục tiêu sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ những thủ tục không còn phù hợp, rườm rà, phức tạp, chồng chéo. Các thủ tục bị bãi bỏ trên được Sở Tài chính Thanh Hóa rà soát, kiến nghị và đề xuất. (Enternews.vn 13/2, Sĩ Chức) Về đầu trang 

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cục Thuế TP Hồ Chí Minh: Số hóa để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính

Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện kê khai, nộp, hoàn thuế nhanh chóng và thuận lợi hơn, mới đây Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai ứng dụng thuế điện tử eTax. Với ứng dụng này, người nộp thuế có thể tiếp cận và quản lý tất cả các dịch vụ thuế điện tử trên một hệ thống duy nhất thay vì phải đăng nhập nhiều ứng dụng khác nhau như trước đây.

Một số tính năng nổi bật của hệ thống dịch vụ eTax có tính tương tác cao như đăng nhập một hệ thống để sử dụng tất cả các dịch vụ, quản lý tất cả các hồ sơ thuế mà không cần thay đổi địa chỉ trang web hay đăng nhập lại hệ thống, giúp người nộp thuế dễ dàng thực hiện đầy đủ các bước trong các quy trình kê khai thuế, nộp và hoàn thuế, tra cứu thông tin hồ sơ, nghĩa vụ thuế..., từ đó giúp quy trình kê khai, nộp thuế qua mạng ngày càng tối ưu theo hướng số hóa và công nghệ cao.

Với phương châm “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ”, thời gian qua chính quyền địa phương, cùng nhiều cơ quan, đơn vị tại thành phố đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối tiếp nhận, cải tiến quy trình kết hợp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hạ tầng và tiến tới số hóa các chương trình, công cụ quản lý nhằm giúp quá trình cải cách TTHC nhanh và hiệu quả hơn. Thí dụ như UBND quận 1 triển khai thực hiện quy trình “hồ sơ không giấy” áp dụng cho các lĩnh vực kinh tế, quản lý đô thị, lao động - thương binh và xã hội, không chỉ giúp đơn giản tối đa thủ tục, văn bản giấy trong việc tiếp nhận TTHC của người dân và doanh nghiệp; giúp công khai minh bạch và kiểm soát quy trình tiếp nhận và giải quyết TTHC mà cách làm này chính là “bước đệm” để quận tiến tới số hóa tất cả các hồ sơ, văn bản đã thụ lý, phục vụ cho việc truy xuất nội bộ cũng như lưu trữ tại địa phương. Hay như Sở Xây dựng thành phố đã triển khai ứng dụng “Sở Xây dựng trực tuyến” trên điện thoại thông minh (App SXD247) kết hợp số hóa dữ liệu, qua đó giúp người dân, doanh nghiệp, đơn vị có thể tra cứu được các thông tin, tình trạng pháp lý của các dự án nhà ở thương mại trên địa bàn thành phố, đồng thời hạn chế nguy cơ giao dịch nhầm “dự án ma”. Ứng dụng App SXD247 còn có chức năng tiếp nhận và giải quyết các phản ánh, góp ý của người dân về trật tự xây dựng, hạ tầng đô thị; tra cứu hồ sơ, chứng chỉ hành nghề, giấy phép xây dựng…

Bên cạnh những kết quả đạt được về cải cách TTHC, vẫn còn không ít bất cập cần được các đơn vị chức năng, sở, ngành, UBND quận, huyện của thành phố quan tâm đầu tư, giải quyết như cần đồng bộ hơn trong việc xây dựng hạ tầng mạng, sử dụng các phần mềm vừa tạo sự tương thích, thông suốt trong cả hệ thống, qua đó tránh sự trùng lắp về công nghệ gây lãng phí ngân sách nhà nước. Đồng thời, từng đơn vị cần chú trọng đơn giản hóa TTHC và hoàn thiện danh mục, cơ sở dữ liệu về TTHC. Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, tiếp nhận và xử lý phản ánh, khiếu nại, tố cáo các hoạt động liên quan công tác cải cách hành chính, giải quyết TTHC cần bảo đảm yếu tố thường xuyên và sớm giải quyết sự vụ đột xuất. Khi phát hiện yếu tố hay hành vi sai phạm, nhũng nhiễu đối với doanh nghiệp, tổ chức và công dân thì phải xử lý nghiêm những cá nhân, cơ quan, đơn vị liên quan... (Nhandan.com.vn 13/2, Võ Lê) Về đầu trang

Gỡ vướng an toàn thông tin cho cơ chế một cửa

Việc triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, một cửa quốc gia còn chậm so với kế hoạch, một phần do ách tắc trong quá trình thực hiện, thẩm định cấp độ an toàn thông tin.

Điểm nổi bật trong điện tử hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành thời gian qua là 13 bộ, ngành đã tham gia kết nối với 188 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia và tổng số hồ sơ hành chính được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia đạt trên 2,8 triệu bộ hồ sơ.

Tuy nhiên, xét riêng năm 2019, số thủ tục được triển khai chính thức và kết nối Cơ chế một cửa quốc gia chỉ đạt 72,6% (37/51 thủ tục, trong đó mới triển khai được 15/51 thủ tục).

Một trong những nguyên nhân chính nằm ở khâu thẩm định cấp độ an toàn thông tin cho hệ thống công nghệ thông tin phục vụ Cơ chế một cửa quốc gia.

Dẫn quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 về đảm bảo an toàn thông tin theo cấp độ và các văn bản liên quan, Bộ Tài chính cho biết, để phê duyệt dự án, phải thẩm định hồ sơ đề xuất cấp độ an toàn thông tin.

Theo đó, đối với các hệ thống được đề xuất cấp độ 4 như hệ thống công nghệ thông tin phục vụ Cơ chế một cửa quốc gia, quá trình thực hiện thẩm định phức tạp và mất nhiều thời gian do phải xin ý kiến của Bộ Thông tin và Truyền thông cùng các bộ, ngành hữu quan như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng... Trên thực tế, yêu cầu triển khai Cơ chế một cửa hiện nay rất gấp, trong khi quy trình và nguồn lực để thẩm định cấp độ an toàn các hệ thống thông tin của Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ không đáp ứng được yêu cầu về tiến độ phê duyệt dự án, dẫn đến chậm triển khai các thủ tục hành chính theo các yêu cầu và nhiệm vụ mà Chính phủ giao.

Trao đổi tại cuộc họp mới đây của Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban Chỉ đạo 1899), Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thành Hưng cho biết: “Vấn đề ở đây không quá lớn, có thể bộ phận kỹ thuật của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) chưa nắm rõ hướng dẫn về cấp độ an toàn thông tin cho Cơ chế một cửa quốc gia, nên hồ sơ xin ý kiến của Bộ Thông tin và Truyền thông còn thiếu và Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu bổ sung”.

Lý giải việc thẩm định an toàn thông tin cấp độ 4 trở lên phải có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho rằng, nguyên tắc đảm bảo an toàn thông tin là không thừa, không thiếu.

“Trong quá trình triển khai, thẩm định hồ sơ an toàn thông tin cấp độ 4, chúng tôi chưa thấy bộ, ngành nào đề nghị sửa Nghị định số 85/2016/NĐ-CP. Do vậy, tôi đề nghị phía cơ quan chuẩn bị hồ sơ để thẩm định an toàn thông tin cấp độ 4 làm lại hồ sơ để chúng tôi giải quyết theo đúng quy trình thủ tục và không gây khó khăn”, ông Hưng khẳng định.

Cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan theo hướng điện tử hóa, hướng tới hải quan điện tử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ giao Bộ Tài chính ngay đầu năm theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2020.

Về triển khai Cơ chế một cửa ASEAN và kết nối ngoài ASEAN, Bộ Tài chính đang chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để sẵn sàng trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN (với Indonesia và Thái Lan) và chứng nhận kiểm dịch thực vật với Indonesisa.

Ngoài ra, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Công thương tiến hành đàm phán để hoàn thiện các nghị định thư, thống nhất yêu cầu kỹ thuật và xây dựng hệ thống để trao đổi chứng nhận xuất xứ với Liên minh kinh tế Á - Âu; đàm phán về trao đổi thông tin về xuất xứ hàng hóa (C/O) điện tử với Hàn Quốc và phối hợp thử nghiệm công nghệ blockchain trong tiếp nhận thông tin chứng nhận xuất xứ từ Hải quan Hàn Quốc.

Theo PGS-TS Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) việc áp dụng công nghệ thông tin vào số hóa thủ tục hành chính là xu hướng không thể đảo ngược, vừa tăng cường an toàn thông tin, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính và tiết kiệm chi phí. Ước tính sơ bộ cho thấy, số hóa thủ tục hành chính có thể giúp tiết kiệm đến 2/3 chi phí thông thường cho doanh nghiệp. 

Lợi ích từ việc số hóa, kết nối các thủ tục hành chính lên hệ thống một cửa ở các nước là không phải bàn. “Còn với Việt Nam, chúng ta có đủ tiềm lực về hạ tầng và trình độ công nghệ thông tin để đẩy nhanh tiến độ kết nối Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN. Vấn đề là ta có muốn đẩy nhanh quy trình kết nối đó hay không?”, PGS-TS Ngô Trí Long nêu.

Một trong các giải pháp được Bộ Tài chính đưa ra để thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN thời gian tới là tiếp tục thực hiện các thủ tục về xây dựng, trình phê duyệt và chuẩn bị triển khai Đề án Tổng thể về xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN theo hướng xử lý tập trung. Đặc biệt, tổ chức nghiên cứu và thí điểm thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích cho cả doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước để thực hiện thủ tục hành chính thông qua hai cơ chế này. (Baodautu.vn 13/2, Lê Quân) Về đầu trang

Triển khai thí điểm phần mềm dự án quản lý và cơ sở dữ liệu về đất đai

Tại cuộc họp báo cáo về tiến độ triển khai dự án "Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai (Dự án VILG)" diễn ra sáng 13/2, tại Hà Nội, do Ban Quản lý dự án VILG Trung ương, Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nhấn mạnh cần triển khai thí điểm phần mềm vào tháng 3/2020 nhằm đảm bảo đúng cam kết theo tiến độ với Ngân hàng Thế giới.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết dự án tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi cơ sở dữ liệu đất đai là 1 trong 5 cơ sở dữ liệu được Chính phủ ưu tiên xây dựng.

Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, do đó việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai trên cả nước có ý nghĩa quan trọng thực hiện mục tiêu này.

Vì vậy, cuộc họp này sẽ xem xét, đánh giá và quyết định các tiêu chí để xây dựng phần mềm nhằm lưu trữ và vận hành dữ liệu đất đai, phân công, phối hợp… trong đó gồm cả giải pháp cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai tại Trung ương và địa phương; đồng thời thống nhất những vấn đề như thủ tục pháp lý, cơ chế chính sách…

Ông Chu An Trường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Giám đốc Ban Quản lý Dự án VLIG Trung ương cho rằng dự án được Chủ tịch nước phê duyệt Hiệp định Tài trợ từ ngày 23/12/2016, có hiệu lực từ tháng 3/2017 với tổng kinh phí 180 triệu USD thực hiện trong thời gian 5 năm (2017-2021).

Tính đến thời điểm hiện nay, Ban Quản lý Dự án đã lập thiết kế kỹ thuật - dự toán xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho 105/297 huyện, trong đó có 62 huyện đã được phê duyệt; đã giao 32 gói thầu cho Văn phòng đăng ký đất đai các tỉnh; đã tổ chức 25 huyện thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

Về tiến độ giải ngân của toàn bộ Dự án là hơn 4 triệu USD, trong đó nguồn vốn vay không lãi suất hơn 2,5 triệu USD, vốn đối ứng hơn 1,5 triệu USD.

Tuy vậy, tiến độ thực hiện dự án còn chậm, tỷ lệ giải ngân còn thấp, đặc biệt phần liên quan đến tiến độ triển khai các gói thầu cơ sở dữ liệu tại các địa phương.

Do vậy, thời gian tới, Ban Quản lý sẽ đôn đốc, phối hợp với các địa phương đảm bảo tiến độ giải ngân theo cam kết với nhà tài trợ; phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi sửa đổi của dự án.

Đại diện hai Tập đoàn Viettel và VNPT cho rằng, để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chung cho 63 tỉnh, thành phố trong thời gian tới, cần giải bài toán xây dựng nền tảng dữ liệu (tính mở phần mềm) nhằm đáp ứng yêu cầu địa chính, đảm bảo đúng tiêu chuẩn dữ liệu cơ sở, dữ liệu không gian, quản lý hồ sơ, hệ thống tọa độ; đảm bảo an toàn thông tin, phục vụ quy trình nghiệp vụ…

Hơn nữa, Ban Quản lý cần lựa chọn mô hình tập trung 2 cấp Trung ương và địa phương để tăng tính chủ động cho việc vận hành và khai thác sử dụng, trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ quản lý chung dữ liệu cả nước.

Theo ông Nguyễn Đình Thọ, Cục trưởng Cục Kinh tế và phát triển quỹ đất, Tổng cục Quản lý đất đai, điều quan trọng nhất trong xây dựng dự án cần dựa trên cơ sở nền địa chính, qua đó xây dựng cơ sở quy hoạch, dẫn tới định giá đất hàng loạt nhằm giải quyết các cơ sở dữ liệu quản lý đất đai.

Do đó, để đưa vào triển khai tại địa phương cần đảm bảo tính liên thông, chuyển giao dữ liệu địa phương vào cơ sở dữ liệu quốc gia, duy trì triển khai ở các địa phương.

Đồng thời, các tập đoàn công nghệ nên phối hợp với Ban Quản lý để hoàn thành kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất trong năm 2020.

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề nghị, Ban Quản lý cần thống nhất quy chuẩn dữ liệu tập trung, kế thừa tích hợp các công nghệ cũ; xem xét cơ sở dữ liệu nền địa chính để định giá đất hàng loạt, cập nhật số liệu về địa chính…; đồng thời tiếp tục có kế hoạch hoàn thiện và bổ sung các địa phương đã thí điểm thực hiện phần mềm, qua đó xem xét hiệu quả khi xử lý và chia sẻ dữ liệu phần mềm đảm bảo an ninh; cần quy định phân quyền trong quản trị phần mềm để giải quyết yêu cầu cơ bản của Ngân hàng Thế giới; đảm bảo nguồn nhân lực để đưa phần mềm vào thực tiễn, áp dụng tại các địa phương.

Bên cạnh đó, Ban Quản lý cần tiếp tục phối hợp Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên trong thời gian chưa thiết lập hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu để cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai và liên kết cơ sở dữ liệu đất đai với trục kết nối liên thông công nghệ thông tin của Chính phủ./. (VietnamPlus.vn 13/2, Diệu Thúy) Về đầu trang

Miễn, giảm phí dịch vụ trong thanh toán trực tuyến các dịch vụ công

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành văn bản số 727/NHNN-TT về việc áp dụng chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán.

Cụ thể, nhằm triển khai các giải pháp về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và đẩy mạnh thanh toán điện tử đối với dịch vụ công theo Nghị quyết số 01 và 02 năm 2020 của Chính phủ, Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (NAPAS) đã xây dựng chương trình miễn, giảm phí dịch vụ.

Theo đó, NAPAS miễn phí chuyển mạch đối với các giao dịch thanh toán trực truyến (online) các dịch vụ công (dự kiến áp dụng đến hết tháng 12/2020); giảm phí chuyển mạch đối với các giao dịch chuyển tiền nhanh liên ngân hàng có giá trị nhỏ (từ 500.000 đồng/giao dịch trở xuống) từ 1.800 đồng/giao dịch xuống 500 đồng/giao dịch (dự kiến áp dụng từ ngày 25/2/2020).

Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khẩn trương nghiên cứu, xây dựng kế hoạch áp dụng các chính sách miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ, phù hợp với chương trình miễn, giảm phí của NAPAS.

Cụ thể, các tổ chức tiến hành xây dựng kế hoạch miễn phí đối với các giao dịch thanh toán online các dịch vụ công thực hiện trên cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dịch vụ công của các bộ, ngành, địa phương; giảm phí dịch vụ chuyển tiền nhanh liên ngân hàng có giá trị nhỏ cho người sử dụng dịch vụ.

Thời gian áp dụng, mức phí giảm tối thiểu tương đương với thời gian, mức phí giảm mà NAPAS áp dụng đối với các ngân hàng thành viên (1.300 đồng/giao dịch); khuyến khích các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện mức phí giảm lớn hơn mức phí giảm của NAPAS nhằm hỗ trợ thị trường, thực hiện tốt Nghị quyết số 01 và 02 năm 2020 của Chính phủ.../. (VietnamPlus.vn 13/2, Thúy Hà) Về đầu trang

Bộ Công Thương đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến

Bộ Công Thương đã có nhiều đề xuất tham mưu cho Chính phủ cũng như có văn bản chỉ đạo các đơn vị chức năng rà soát để đơn giản, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh hiện đại hóa hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Theo Báo cáo của Bộ Công thương tại Hội nghị trực tuyến Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử (CPĐT) với các Ban chỉ đạo (BCĐ) xây dựng CPĐT, chính quyền điện tử ngày 12/2, sau khi các điều kiện kinh doanh được cắt giảm, TTHC được đơn giản hóa đã tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng cho tất cả các thành phần kinh tế tại Việt Nam.

Bộ Công Thương đã đẩy mạnh thực hiện việc áp dụng CPĐT, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý điều hành, thực hiện nhiệm vụ để thuận lợi hóa cho doanh nghiệp.

Tại thời điểm hiện tại, tất cả 292 TTHC cấp Trung ương thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương đã được triển khai dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 2 trở lên; trong đó có 166 DVCTT mức độ 3 và mức độ 4 (122 DVCTT mức độ 3 và 44 DVCTT mức độ 4).

Tất cả các DVCTT này đang được triển khai tại Cổng Dịch vụ công (Cổng DVC) của Bộ Công thương. Đến nay, đã có hơn 31.000 doanh nghiệp đăng ký sử dụng Cổng DVC của Bộ này.

Hội nghị trực tuyến Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử (CPĐT) với các BCĐ xây dựng CPĐT, chính quyền điện tử ngày 12/2.

Trong năm 2019, Bộ Công thương đã xử lý hơn 1.540.792 bộ hồ sơ điện tử qua các DVCTT mức độ 3, 4 (trong đó số lượng hồ sơ trực tuyến được gửi qua các DVCTT mức độ 3 là 1.314.217, hồ sơ được gửi qua DVCTT mức độ 4 là 225.465), tương ứng 99% tổng số hồ sơ được gửi đến Bộ.

Trong năm 2019, Bộ Công thương đã xử lý hơn 192.000 hồ sơ điện tử thông qua cơ chế một cửa quốc gia. Riêng đối với thủ tục Cấp giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) kết nối thành công và đã trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử với 6 nước bao gồm: Indonesia, Thái Lan, Singapore, Malaysia và Bruinei, Campuchia.

Trong năm 2019, tổng số hồ sơ điện tử đã trao đổi với các nước là 137.580 hồ sơ. Đây là chứng từ điện tử đầu tiên của Việt Nam được gửi ra nước ngoài, tạo tiền đề, đòn bẩy để Việt Nam tiếp tục trao đổi, xử lý trực tuyến các chứng từ thương mại khác dưới dạng điện tử khác với các nước, khối - cộng đồng kinh tế theo các thỏa thuận và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bộ Công Thương ngay từ bước khởi đầu đã lựa chọn những TTHC có số lượng hồ sơ lớn để triển khai thành DVCTT cụ thể như: Hệ thống cấp Giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi (mức độ 3, trung bình khoảng 1 triệu bộ hồ sơ/năm, được đưa vào sử dụng từ năm 2006); Hệ thống khai báo hóa chất nhập khẩu (mức độ 4 đầu tiên trong cả nước, trung bình 50,000 bộ hồ sơ/năm, được đưa vào sử dụng từ năm 2008), Cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử (mức độ 4, trung bình 7,000 bộ hồ sơ/năm, được đưa vào sử dụng từ năm 2013)…

Với quan điểm và thực tiễn lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, Bộ Công thương chủ động lựa chọn những dịch vụ công thuộc thẩm quyền của Bộ có số lượng hồ sơ lớn, có tác động trực tiếp người dân, doanh nghiệp đưa lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Ngay trong tháng 11 năm 2019 (trước khi khai trương Cổng Dịch vụ công quốc gia - Cổng DVCQG), Cổng DVC của Bộ Công thương đã kết nối kỹ thuật thành công 2 nhóm dịch vụ công với Cổng DVCQG bao gồm: Cấp giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi; Đăng ký hoạt động khuyến mại.

Đây là các nhóm thủ tục có số lượng hồ sơ trực tuyến lớn nhất hiện tại của Bộ Công Thương. Hiện có khoảng 30.000 doanh nghiệp khai báo dưới hình thức trực tuyến trong những năm vừa qua đối với các nhóm thủ tục này.

Đối với thủ tục Thông báo thực hiện khuyến mại, mặc dù đã được phân cấp về các địa phương, Bộ cũng đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ làm đầu mối, triển khai thủ tục này trên Cổng DVCQG để tạo điều kiện cho doanh nghiệp chỉ khai báo một lần duy nhất cho tất cả các tỉnh trên toàn quốc, kết nối, liên thông dữ liệu điện tử đến các Hệ thống một cửa điện tử của các tỉnh(thay vì khai báo trên từng tỉnh như hiện nay).

Đến cuối tháng 12 năm 2019, Bộ Công Thương đã đưa tổng cộng 131 DVCTT mức độ 3, 4 của Bộ Công Thương lên Cổng DVCQG. Đến thời điểm này, các nhiệm vụ liên quan đến phát triển CPĐT, xây dựng DVCTT do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Quốc gia về CPĐT đều đã được Bộ Công Thương nghiêm túc triển khai đầy đủ và vượt kế hoạch đã đề ra. (Infonet.vn 13/2, Nguyễn Tuân) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Thay đổi quy định về chế độ thôi việc đối với viên chức

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã được thông qua và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1-7-2020.

Theo đó, sẽ có nhiều chính sách mới tác động trực tiếp đến mọi cán bộ, công chức, viên chức từ năm 2020.

Luật cán bộ công chức và luật viên chức sửa đổi 2019 đã bổ sung thêm một trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, là: "Viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự".

Hiện nay, quy định này cũng đã được đề cập tại Nghị định 29/2012/NĐ-CP về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với người tập sự, tuy nhiên chưa được chính thức quy định trong Luật.

Như vậy, từ 1-7-2020 sẽ có 6 trường hợp viên chức bị cắt hợp đồng làm việc.

Cụ thể, theo Khoản 6 Điều 2 Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức sửa đổi 2019 sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 45 Luật viên chức 2010 thì viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội khi đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức, hết thời hạn của hợp đồng nhưng người sử dụng lao động không ký kết tiếp hợp đồng làm việc, viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng do ốm đau, bị tai nạn theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật viên chức 2010 hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Luật viên chức 2010 trừ các trường hợp sau đây:

- Bị buộc thôi việc;

- Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 29 của Luật Viên chức 2010 ;

- Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật Viên chức 2010 .

Như vậy, Luật này đã quy định rõ chế độ thôi việc đối với viên chức khi bị đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc chứ không quy định chung chung là chế độ đối với viên chức khi chấm dứt hợp đồng làm việc như hiện nay.

Cụ thể, theo Khoản 18 Điều 1 Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức sửa đổi 2019 sửa đổi, bổ sung Điều 84 Luật cán bộ, công chức 2008 thì mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật.

Như vậy, kể từ ngày 1-7-2020, cán bộ, công chức mặc dù đã nghỉ hưu nhưng nếu có hành vi vi phạm trước đó vẫn sẽ bị xử lý kỷ luật theo một trong 3 hình thức nêu trên. (Nld.com.vn 14/2, T.Ngôn) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Thể chế hóa các nội dung cải cách chính sách bảo hiểm

Sau khi đi vào cuộc sống, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã bộc lộ một số hạn chế như vướng mắc gây khó khăn trong quá trình giải quyết chế độ và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Thực tế cho thấy, cần có những giải pháp cho những hạn chế này.

Đơn cử như việc thực hiện chế độ thai sản trong thực tiễn bộc lộ một số hạn chế như Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) 2014 đã mở rộng quy định chế độ thai sản đối với trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ, người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội không nghỉ việc chăm sóc con. Điều 6, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã quy định “người lao động (NLĐ) nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2 Điều 31 của luật này thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ”. Song, luật lại chưa có quy định đối với trường hợp NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng nhưng không nghỉ việc để chăm sóc con.

Hay như quy định để xác định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động đang không thực sự rõ ràng; việc tổ chức thực hiện không thống nhất. Do đó, luật cần hướng dẫn cụ thể hơn để đảm bảo căn cứ cho việc điều tra, kết luận và giải quyết chế độ đối với NLĐ đảm bảo đúng bản chất của sự việc, cũng như quyền lợi của NLĐ và doanh nghiệp.

Cụ thể: Trường hợp bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc nhưng không gắn với thực thi công việc, nhiệm vụ được phân công. Mặc dù trường hợp tai nạn trên xảy ra tại nơi làm việc và trong giờ làm việc nhưng do không gắn với công việc nhiệm vụ của NLĐ được phân công nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động, trường hợp bị tai nạn khi không thực hiện các công việc khác mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép thì không thuộc đối tượng giải quyết.

Trong một cuộc tọa đàm gần đây do Tổng LĐLĐVN tổ chức, sau khi phân tích về những hạn chế của Luật BHXH có ảnh hưởng tới quyền lợi của NLĐ, TS Nguyễn Huy Khoa (Trường Đại học Công đoàn) đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm cho NLĐ. Theo đó, một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện cải cách chính sách bảo hiểm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, BHXH, BHTN, BHYT và pháp luật có liên quan để thể chế hóa các nội dung cải cách chính sách bảo hiểm trong đó có việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm nhằm đảm bảo các mục tiêu mà Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23.5.2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về cải cách chính sách BHXH đã đề ra.

Hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BH, nhất là đối với các hành vi trốn đóng, nợ đóng, trục lợi BH theo hướng cơ quan quản lý nhà nước về BH và cơ quan quản lý quỹ BH có thẩm quyền xử phạt các doanh nghiệp trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi BH. Đồng thời, các doanh nghiệp và NLĐ có quyền khiếu nại, hoặc khởi kiện cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý quỹ BH nếu phát hiện có sai phạm trong thực hiện chính sách BH để đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi thụ hưởng bảo hiểm của NLĐ.

TS Nguyễn Huy Khoa cũng đề xuất cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về BH nhằm nâng cao ý thức của các bên trong quan hệ lao động. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động bảo hiểm nhằm giải quyết nhanh chóng các thủ tục. Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ BH ở các cấp. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động thực hiện pháp luật về BH… (Laodong.vn 13/2, Linh Nguyên) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.030.257 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này