Bản tin cải cách hành chính ngày 10/4/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội: Giải quyết chính sách cho cán bộ sau sắp xếp bộ máy

3. Hà Nội: Tiếp nhận, trả kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính để phòng, chống dịch Covid-19

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Liên thông thủ tục hành chính: tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân

5. Kết nối liên thông điện tử cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế

6. Kết nối liên thông phần mềm một cửa của địa phương với Hệ thống thông tin chuyên ngành các bộ, ngành

7. Bộ Công Thương đẩy mạnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Chuyển từ ''giấy trắng mực đen dấu đỏ' sang phương thức mới

9. Thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử - Bài 1: Chưa như kỳ vọng

10. Thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử - Bài cuối: Tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 47/2020/NĐ-CP quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.

Nghị định này quy định về các hoạt động quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước bao gồm: Quản lý, quản trị dữ liệu số; kết nối, chia sẻ dữ liệu số; sử dụng, khai thác dữ liệu số của cơ quan nhà nước; cung cấp dữ liệu mở của cơ quan nhà nước cho tổ chức, cá nhân; quyền và trách nhiệm trong kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.

Theo đó, giá trị pháp lý của dữ liệu được chia sẻ trong thông điệp dữ liệu được xác định theo giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu quy định tại Mục 1 Chương II Luật Giao dịch điện tử và quy định của pháp luật có liên quan. Nguyên tắc chung về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu là: Dữ liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước được chia sẻ phục vụ các hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng dữ liệu.

Cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; không cung cấp thông tin qua hình thức văn bản đối với thông tin đã được khai thác qua hình thức kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; không được thu thập, tổ chức thu thập lại dữ liệu hoặc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp thông tin, dữ liệu trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính nếu dữ liệu này đã được cơ quan nhà nước khác cung cấp, sẵn sàng cung cấp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu, trừ trường hợp dữ liệu đó không bảo đảm yêu cầu về chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, không được xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Dữ liệu chia sẻ phải bảo đảm tính cập nhật, chính xác theo quy định của  pháp luật; dữ liệu chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước là không thu phí, trừ trường hợp khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục được quy định trong Luật Phí và lệ phí.

Dữ liệu của cơ quan nhà nước chia sẻ cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo các nguyên tắc sau: Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác dữ liệu của mình hoặc dữ liệu của tổ chức, cá nhân khác khi được tổ chức, cá nhân đó chấp nhận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; các trường hợp ngoài quy định trên, dữ liệu của cơ quan nhà nước được chia sẻ cho tổ chức, cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và các quy định của pháp luật hiện hành. 

Nghị định cũng nêu rõ: Cơ quan nhà nước thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu phải thực hiện, tuân thủ các yêu cầu về chỉ định một cán bộ làm đầu mối phụ trách kết nối và chia sẻ dữ liệu; công khai số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, tên và vị trí, chức năng cán bộ đầu mối phụ trách. Cán bộ đầu mối phụ trách có trách nhiệm tiếp nhận, phối hợp, xử lý các vấn đề về kết nối, chia sẻ dữ liệu của cơ quan, đơn vị mình đối với cơ quan, đơn vị bên ngoài.

Cùng với đó, công khai thông tin về đầu mối phụ trách kết nối, chia sẻ dữ liệu; các thông tin về sự sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và các thông tin cần công bố khác theo quy định tại Nghị định này; tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin; các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến dữ liệu; quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân.

Đồng thời, bảo đảm dữ liệu chia sẻ phải có khả năng gửi, nhận, lưu trữ, xử lý được bằng thiết bị số; tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về trao đổi dữ liệu, về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước và các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Nghị định này; phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/5/2020. (Baotintuc.vn 10/4) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Giải quyết chính sách cho cán bộ sau sắp xếp bộ máy

Chiều 9-4, đồng chí Vương Ðình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội chủ trì phiên họp thứ 17 của Ban Chỉ đạo Quản lý, tổ chức bộ máy, biên chế TP Hà Nội đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo quý I, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II-2020.

Hiện, TP Hà Nội có 11 quận, huyện, thị xã; 515 xã, phường, thị trấn và 3.520 thôn, tổ dân phố sắp xếp xong người hoạt động không chuyên trách. Thành phố cũng hoàn thành việc sắp xếp các thôn, tổ dân phố không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định; sau sắp xếp giảm được 2.708 thôn, tổ dân phố (giảm 34%).

Phát biểu ý kiến kết luận cuộc họp, đồng chí Vương Ðình Huệ đánh giá cao việc các cấp, ngành của thành phố đã phối hợp, kịp thời tham mưu thực hiện các phương án, mô hình đổi mới sắp xếp, tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Nhờ quá trình đổi mới này, thành phố đã giảm tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước từ 58,8% năm 2016 xuống còn 51,2% năm 2020; tiết kiệm chi thường xuyên hơn 13 nghìn tỷ đồng trong giai đoạn 2016-2020, tạo thêm nguồn lực cho cải cách tiền lương và chi đầu tư phát triển.

Về các nhiệm vụ trọng tâm quý II-2020, đồng chí Vương Ðình Huệ yêu cầu Ban Chỉ đạo quan tâm giải quyết chính sách cho cán bộ sau sắp xếp; rà soát kỹ việc sắp xếp, thu hồi các cơ sở nhà đất; đưa việc sắp xếp kiện toàn các cơ quan báo chí theo quy hoạch vào kế hoạch công tác, tiếp tục nâng mức tự chủ tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập; xây dựng kế hoạch chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập sang tự chủ. Ðồng chí lưu ý, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế phải gắn với triển khai hiệu quả các đề án vị trí việc làm. (Nhandan.com.vn 10/4, PV) Về đầu trang

Hà Nội: Tiếp nhận, trả kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính để phòng, chống dịch Covid-19

Ngày 9-4, UBND thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 1187/UBND-KSTTHC, yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã và Bưu điện thành phố Hà Nội thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung, thực hiện một số giải pháp tiếp nhận, trả kết quả thủ tục hành chính để phòng, chống dịch Covid-19.

Để bảo đảm biện pháp cách ly xã hội đạt hiệu quả tối đa và không làm ảnh hưởng tới việc giải quyết các yêu cầu chính đáng của công dân tại các cơ quan hành chính nhà nước, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, khuyến khích, hướng dẫn người dân cân nhắc thời điểm để yêu cầu giải quyết các thủ tục hành chính cấp bách, cần thiết...

Các cơ quan, đơn vị ưu tiên lựa chọn việc thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường mạng, thông qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 hoặc thực hiện thủ tục hành chính thông qua dịch vụ bưu chính công ích của thành phố.

Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị chủ động xây dựng phương án bố trí cán bộ hướng dẫn, phân luồng công dân đến giao dịch; phân chia vị trí tiếp nhận, trả kết quả hợp lý, bảo đảm trong bộ phận “một cửa” không quá 10 người, bảo đảm việc giãn cách theo hướng dẫn của cơ quan y tế trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Chủ tịch UBND thành phố cũng yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã khai thác các kênh, thông tin: Cổng thông tin điện tử của đơn vị, của thành phố và Chính phủ; tổng đài điện thoại; hệ thống truyền thanh; sử dụng mạng xã hội hoặc các công cụ khác phù hợp với quy định để công dân đặt lịch hoặc xếp số thứ tự, hướng dẫn hồ sơ và hẹn thời gian tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả thủ tục hành chính.

Các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã phối hợp chặt chẽ với Bưu điện thành phố Hà Nội thực hiện việc tiếp nhận và chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho công dân qua hệ thống bưu chính công ích đối với những thủ tục hành chính không bắt buộc công dân phải đến nộp và nhận trực tiếp trong thời gian thực hiện các biện pháp cách ly xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; hạn chế thấp nhất số lượng công dân đến giao dịch trực tiếp tại bộ phận “một cửa”.

Liên quan đến nhiệm vụ trên, Bưu điện thành phố Hà Nội duy trì mở cửa các điểm giao dịch, đồng thời tăng cường phối hợp với các đơn vị trên địa bàn theo các hợp đồng và thỏa thuận hợp tác đã ký kết; việc tiếp nhận bưu phẩm là hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” của các đơn vị cũng như tiếp nhận và chuyển phát đến công dân phải bảo đảm các biện pháp an toàn về phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định. (Hanoimoi.com.vn 9/4, Thúy Nga) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Liên thông thủ tục hành chính: tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân

Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 của Bộ Tư pháp – Bộ Công an – Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi sau thời gian triển khai đã đạt nhiều kết quả quan trọng

Một trong những ưu điểm vượt trội nhất của Thông tư 05 chính là mở ra cho người dân sự lựa chọn mới với hình thức “3 trong 1” giảm thiểu thời gian, chi phí cho cá nhân trong việc thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Thông qua việc thực hiện liên thông cũng đảm bảo kịp thời, chính xác các thông tin về nhân thân của cá nhân, phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, cư trú và bảo hiểm y tế.

Trên thực tế tại nhiều địa phương việc triển khai đã đi vào nề nếp và đạt nhiều kết quả tích cực. Tại Bình Dương, để đảm bảo việc cấp Thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em được kịp thời, nhanh chóng, Sở Tư pháp đã phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh đề nghị Cục Công nghệ thông tin – Bộ Tư pháp và Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai việc kết nối liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh và cấp Thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương trên Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch với Hệ thống cấp Thẻ bảo hiểm y tế qua Trục NGSP (áp dụng từ ngày 01/11/2019). Tại Quảng Nam mới đây Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh đã tổ chức Lễ ký kết Quy chế phối hợp liên thông đăng ký khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh. Bằng việc xác định rõ trách nhiệm của các bên, đảm bảo phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả giữa các cơ quan; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh cũng như tạo điệu kiện thuận lợi cho người dân trong giải quyết các thủ tục hành chính. Ngoài ra, Quy chế còn quy định mức hỗ trợ kinh phí 7.000 đồng/người cho cá nhân thực hiện lập danh sách, nhập dữ liệu liên thông ĐKKS, cấp thẻ BHYT.

Tại Lạng Sơn UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã phân công 1 công chức tư pháp – hộ tịch làm đầu mối tiếp nhận, trả kết quả giải quyết yêu cầu đăng ký liên thông các TTHC tại bộ phận một cửa của UBND cấp xã. Hệ thống máy tính, máy in đã được trang bị cho đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch của 226/226 UBND cấp xã, hầu hết đã kết nối mạng internet. Các cơ quan bảo hiểm xã hội đã bố trí cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ làm đầu mối tiếp nhận và trả kết quả tại bộ phận một cửa…

Đặc biệt, ở Trung ương, để khai thác cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên ngành BHXH, trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp Bộ Tư pháp, BHXH Việt Nam thực hiện thí điểm việc kết nối, chia sẻ thông tin thông qua Hệ thống kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở trung ương và địa phương để kết nối, chia sẻ thông tin đăng ký khai sinh phục vụ cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới sáu tuổi theo quy định tại Thông tư liên tịch số 05. Trong một tháng thực hiện thí điểm liên thông dữ liệu trước khi chính thức kết nối dữ liệu tại 13 tỉnh đã có 15 nghìn trường hợp trẻ em được liên thông cấp giấy khai sinh và thẻ BHYT. Đến nay, đã có 38 địa phương trên phạm vi cả nước đăng ký và được Bộ Tư pháp hỗ trợ triển khai liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Thông tư 05 ở một số địa phương cũng còn một số vướng mắc như sự phối hợp giữa các cơ quan chưa thực sự nhuần nhuyễn dẫn đến chậm trả kết quả cho công dân; Mỗi nơi áp dụng một hình thức trả kết quả khác nhau; một số nơi do kỹ năng, trình độ của cán bộ còn hạn chế dẫn đến việc tiếp nhận hồ sơ, nhập thông tin còn lúng túng, mất thời gian…

Nỗ lực khắc phục những hạn chế nêu trên đồng thời thực hiện nghiêm chỉ đạo của Văn phòng Chính phủ tại văn bản số 1471/VPCP-KSTT ngày 26/2/2020 về thực hiện một số nhiệm vụ vận hành Cổng Dịch vụ công Quốc gia, theo đó, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu, tổ chức tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia cũng sẽ đưa công tác đăng ký liên thông “  trong 1” được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi hơn.  (Baophapluat.vn 10/4, Hà Anh) Về đầu trang

Kết nối liên thông điện tử cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế

Kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế cần phải thực hiện triển khai mở rộng trên phạm vi cả nước nhằm chống thất thu thuế.

Đây là nội dung chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Minh Ngân tại cuộc họp trực tuyến về Đề án kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế do Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị trong Bộ tổ chức ngày 9/4, tại Hà Nội.

Thứ trưởng Lê Minh Ngân yêu cầu Tổng cục Quản lý đất đai cần sớm có công văn báo cáo Bộ trưởng về việc dừng Dự án nâng cấp, thí điểm triển khai kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan tài nguyên và môi trường và cơ quan thuế mà tập trung xây dựng Đề án kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế theo yêu cầu của Chính phủ.

Thứ trưởng Lê Minh Ngân yêu cầu Tổng cục tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan tập trung triển khai xây dựng cụ thể Đề án này, nhất là về mặt cơ chế, tài chính. Đặc biệt, phải mở rộng đối tượng từ cá nhân tới các tổ chức, liên thông điện tử thêm các loại thủ tục về tài chính đất đai.

Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Mai Văn Phấn cho biết việc kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế đã được thực từ năm 2014 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 5/8/2014 về việc tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan.

Theo đó, Tổng cục Quản lý đất đai đã phối hợp với Tổng cục Thuế ban hành quy chế phối hợp Quy định phương thức trao đổi thông tin theo hình thức điện tử để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của cá nhân, hộ gia đình giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký đất đai.

Từ năm 2016 đến nay, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thí điểm việc kết nối liên thông điện tử tại 8 tỉnh, thành phố là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, thay thế các công cụ trao đổi khác thông qua bản giấy, email...

Việc thí điểm này đã giúp giảm số ngày giải quyết hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất là cá nhân, hộ gia đình từ 5 ngày xuống còn 3 ngày. Bên cạnh đó, Tổng cục Quản lý đất đai đã phối hợp với các địa phương triển khai vận hành hệ thống trên địa bàn của 3 tỉnh gồm Bến Tre, Tiền Giang, Long An.

Tuy nhiên, theo ông Mai Văn Phấn, trong giai đoạn thí điểm, hệ thống kết nối, trao đổi thông tin thuế về đất đai giữa cơ quan đất đai với cơ quan thuế trên địa bàn các tỉnh, thành phố hiện nay mới chỉ thực hiện được đối với các thủ tục hành chính của hộ gia đình cá nhân, chưa thực hiện trao đổi kết nối, liên thông đối với các thủ tục hành chính về đất đai đối với các tổ chức.

Đồng thời, hệ thống hành lang pháp lý, trang thiết bị, công nghệ thông tin giữa 2 cơ quan chưa thống nhất, đồng bộ. Việc kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên và Môi trường chưa triển khai trên nền tảng trục tích hợp, liên thông chia sẻ quốc gia.

Các tỉnh thuộc phạm vi thí điểm đều dùng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu đất đai (ViLIS) để ứng dụng liên thông trao đổi thông tin giữa hai bên.

Hiện nay, Tổng cục đang triển khai xây dựng “Dự án nâng cấp, thí điểm triển khai kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan tài nguyên và môi trường và cơ quan thuế’’ theo Quyết định số 3027/QĐ-BTNMT ngày 27/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Danh mục nhiệm vụ chuyên môn mở mới năm 2020 trên phạm vi 8 tỉnh giai đoạn trước đây, thời gian thực hiện từ năm 2020-2022.

Ngoài ra, Công văn số 447/BTNMT-VP về việc ban hành Chương trình công tác năm 2020 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài Nguyên và Môi trường triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 20/1/2020 có nội dung giao cho Tổng cục Quản lý đất đai chủ trì Xây dựng đề án kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan Đăng ký đất đai và cơ quan thuế” để trình Bộ trong tháng 10 tới và trình Chính phủ tháng 11 tới.

Tại cuộc họp, các đại biểu đều nhất trí cho rằng cần thiết sớm triển khai xây dựng và thực hiện Đề án kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan thuế./. (Vietnamplus.vn 10/4) Về đầu trang

Kết nối liên thông phần mềm một cửa của địa phương với Hệ thống thông tin chuyên ngành các bộ, ngành

Ngày 9/4, Văn phòng Chính phủ có văn bản truyền đạt ý kiến Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình liên quan đến Báo cáo số 114/BC-MTTW-BTT về kết quả giám sát đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2019.

Theo văn bản này, Phó Thủ tướng chỉ đạo Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu phương án kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa phần mềm một cửa của địa phương với Hệ thống thông tin chuyên ngành của các bộ, ngành trong các lĩnh vực: Kế hoạch và đầu tư, môi trường, tư pháp, công an, bảo hiểm xã hội, kho bạc nhà nước... qua Cổng Dịch vụ công quốc gia nhằm phục vụ công tác giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính, dịch vụ công theo cơ chế một cửa liên thông từ tỉnh đến các bộ, ngành, phát huy hiệu quả của Trung tâm hành chính công cấp tỉnh, tạo thuận lợi trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tổ chức.

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính hàng năm đề ra nhiệm vụ, giải pháp nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức nói riêng, thực hiện có kết quả công tác cải cách hành chính nói chung; đồng thời, có biểu dương, khen thưởng cụ thể đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân đạt kết quả tích cực trong công tác cải cách hành chính.

Bộ Nội vụ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiên cứu, triển khai thực hiện kiến nghị của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng kết quả đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Bộ Nội vụ nghiên cứu, triển khai các giải pháp tăng cường thông tin, tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức triển khai đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức nhằm nâng cao hiểu biết và tinh thần trách nhiệm của người dân, tổ chức trong việc tham gia đánh giá kết quả cải cách hành chính. (Baotintuc.vn 9/4) Về đầu trang

Bộ Công Thương đẩy mạnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001

Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 1083/QĐ-BCT về Kế hoạch xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001.

Mục tiêu chung của Quyết định trên nhằm triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 tại các đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống quy trình thực hiện thủ tục hành chính, xử lý công việc phù hợp với quy định của pháp luật nhằm công khai, minh bạch trong giải quyết công việc; giúp lãnh đạo các cơ quan kiểm soát được quá trình giải quyết công việc và công chức, viên chức và người lao động thực thi công vụ hiệu quả.

Đồng thời, đề ra mục tiêu cụ thể, đó là triển khai duy trì, cải tiến và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 hoặc 9001:2015 đối với các đơn vị trực thuộc Bộ. Bộ Công Thương xây dựng mô hình khung hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015; chuyển đổi từ hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc gia phiên bản TCVN ISO 9001:2008 sang phiên bản TCVN ISO 9001:2015 đối với các Cục đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008.

Quyết định cũng nêu rõ, đối tượng triển khai chuyển đổi từ hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc gia phiên bản TCVN ISO 9001:2008 sang xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 gồm: Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Cục Công tác phía Nam, Cục Xúc tiến thương mại, Cục Công Thương địa phương, Cục Xuất nhập khẩu, Cục Kỹ thuật An toàn và Môi trường công nghiệp, Cục Hóa chất.

Đối tượng triển khai duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 gồm các Vụ, Văn phòng và Thanh tra Bộ Công Thương, Tổng cục Quản lý thị trường, Cục Điều tiết Điện lực, Cục Công nghiệp, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Cục Phòng vệ thương mại, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số.

Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý được thực hiện theo bốn bước cơ bản như sau: Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng: Cơ quan được quy định tại Điều 2 Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 5/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ xây dựng hệ thống văn bản, tài liệu và các quy trình xử lý công việc hợp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao.

Thứ hai, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng: Áp dụng trên thực tế hệ thống văn bản, tài liệu và quy trình khi được người đứng đầu cơ quan phê duyệt; thực hiện đánh giá nội bộ, khắc phục các điểm không phù hợp; tiến hành xem xét của lãnh đạo, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng, bảo đảm phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001, quy định của pháp luật và thực tế tại cơ quan; người đứng đầu cơ quan xác nhận hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng.

Thứ ba, công bố hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001: Cơ quan áp dụng hệ thống quản lý chất lượng công bố hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 hoặc TCVN ISO 9001:2015, thông báo bằng văn bản đến đơn vị chủ trì quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 12 Quyết định 19/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để theo dõi, tổng hợp; niêm yết tại trụ sở cơ quan và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan (nếu có).

Thứ 4, duy trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng: Cập nhật các thay đổi của văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý công việc vào hệ thống quản lý chất lượng để áp dụng trong thời gian chậm nhất là ba tháng kể từ khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành; thực hiện đánh giá nội bộ và xem xét của lãnh đạo tối thiểu một năm một lần để bảo đảm hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001, quy định của pháp luật và thực tế công tác tại cơ quan.

Ngoài ra, tại Quyết định còn nêu, các cơ quan, đơn vị thực hiện kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin với hệ thống quản lý chất lượng như sau: Số hóa các tài liệu hệ thống, quy trình hệ thống và các quy trình nghiệp vụ đã ban hành trong hệ thống quản lý chất lượng. Đăng các tài liệu, quy trình này lên trang thông tin điện tử hoặc hệ thống văn phòng điện tử của các cơ quan, đơn vị để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có thể dễ dàng truy cập và áp dụng; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đối với các thủ tục hành chính đã được quy trình hóa trong hệ thống quản lý chất lượng… (Congthuong.vn 9/4, Quỳnh Nga) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Chuyển từ ''giấy trắng mực đen dấu đỏ' sang phương thức mới

Nghị định 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử vừa được Chính phủ ban hành, có hiệu lực từ ngày 22/5/2020 nêu rõ “việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử có giá trị pháp lý như các hình thức khác theo quy định của pháp luật”.

Tối đa hóa thực hiện TTHC trên môi trường điện...

Nghị định cũng nêu rõ “tối đa hóa các bước thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của tổ chức, cá nhân và cơ quan có thẩm quyền”.

Như vậy, các thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ không chỉ là “giấy trắng mực đen dấu đỏ” mà còn được thể hiện và chấp nhận dưới dạng điện tử. Điều này sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong phương thức giải quyết thủ tục hành chính.

Trong quá trình soạn thảo Nghị định 45, Văn phòng Chính phủ (VPCP) đã tổ chức nhiều cuộc họp, lấy ý kiến Ban Soạn thảo và Tổ biên tập; nhiều lần tham vấn các chuyên gia chính phủ điện tử, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Cơ quan Phát triển Pháp; lấy ý kiến nhân dân trên Cổng TTĐT Chính phủ và lấy ý kiến bằng văn bản với bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Nghị định 45 được đánh giá là tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên môi trường điện tử từ vấn đề xác thực, định danh cá nhân đến quy trình thực hiện, giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, trách nhiệm của các cơ quan trong xây dựng và thực hiện giải pháp bảo đảm phương thức, kiểm soát chất lượng thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử... để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân, tổ chức trong giao dịch trực tuyến, từng bước nâng cao tỷ lệ giao dịch trực tuyến trong các cơ quan hành chính Nhà nước.

Làm rõ hơn về vấn đề này, ông Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (VPCP) cho biết Nghị định có 4 nội dung chính sách đáng chú ý. Trong đó, đặc biệt quan trọng là việc quy định khung pháp lý cho việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Bởi hiện nay các quy định thủ tục hành chính thực hiện theo cách thức trực tuyến mới chỉ có ở một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực cụ thể như ngân hàng, tài chính, y tế, lao động…

Do thiếu một quy định khung về việc thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên môi trường điện tử, nên trong cách tiến hành thực hiện thủ tục hành chính còn nhiều điểm bất hợp lý, bao gồm quy định về việc chứng minh tính chính danh của người thực hiện; tính chính xác, hợp pháp của tài liệu; việc công nhận và sử dụng lại kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử; hỗ trợ lưu trữ thông tin trên hệ thống Cổng dịch vụ công. Điều này dẫn đến tâm lý không tin tưởng, yên tâm khi giao dịch điện tử đối với công dân, tổ chức.

Giải quyết vấn đề này, Nghị định 45 đã quy định khung pháp lý cho việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử bao gồm việc đăng nhập và công nhận tính pháp lý của chủ thể trong thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến; các hình thức của hồ sơ trong thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến; kho lưu trữ điện tử của cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến; việc cung cấp kết quả giải quyết điện tử có giá trị pháp lý tương đương kết quả giải quyết theo cách thức truyền thống.

Trên cơ sở các nguyên tắc chung đó, giao các bộ, ngành, địa phương xây dựng và thực hiện giải pháp bảo đảm phương thức thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Nghị định 45 quy định về quy trình và cơ chế kiểm soát chất lượng cung cấp phương thức thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến cho tổ chức, cá nhân.

Theo ông Ngô Hải Phan, hiện nay, mỗi bộ, ngành, địa phương tự xây dựng các dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết, không có cơ chế kiểm soát chất lượng dẫn đến tình trạng cùng một thủ tục hành chính song việc cung cấp thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến có sự khác biệt giữa các địa phương...

Việc lựa chọn đúng các thủ tục hành chính phù hợp với nhu cầu thực tế để cung cấp trực tuyến sẽ góp phần giảm lãng phí về thời gian, công sức của các cơ quan nhà nước trong quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Qua đó, cung cấp đúng những thủ tục hành chính mà công dân, tổ chức cần nhất, nhu cầu giao dịch lớn, giúp tạo thuận lợi cho công dân, tổ chức trong thực hiện các thủ tục hành chính. Khi quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc xây dựng, lựa  chọn giải pháp và cung cấp dịch vụ trực tuyến sẽ giúp kiểm soát được chất lượng dịch vụ trước khi vận hành, tránh lãng phí nguồn lực.

Một chính sách quan trọng nữa tại Nghị định 45 là quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc số hóa hồ sơ, tài liệu và cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử cho người dân; việc khai thác thông tin của các cơ quan để giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức mà không yêu cầu người dân phải cung cấp lại.

“Cơ quan quản lý Nhà nước sẽ phải thay đổi cách quản lý dữ liệu từ thủ công truyền thống sang quản lý điện tử, số hóa các dữ liệu quản lý. Cần xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên để đáp ứng phương thức quản lý hiện đại, rất quan trọng giúp tạo một nền tảng dữ liệu để quản lý và phát triển. Kinh nghiệm của các nước triển khai chính phủ điện tử cho thấy đây là một trong những nhiệm vụ cần thực hiện càng sớm càng hỗ trợ tiết kiệm chi phí cho công tác quản lý nhà nước”, ông Ngô Hải Phan nhấn mạnh.

Từ đó, sẽ tạo tiền đề cho sự thay đổi về phương thức phục vụ, hướng đến phương thức phục vụ tại nhà, qua các thiết bị điện tử thông minh để đáp ứng các giao dịch giữa người dân và cơ quan nhà nước. Quy định này cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp song song kết quả giải quyết thủ tục hành chính dưới dạng điện tử với kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định; công nhận giá trị pháp lý của kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử.

Nghị định 45 cũng quy định về việc cấp bản sao điện tử có giá trị pháp lý thông qua giải pháp chứng thực từ bản chính hoặc cấp từ sổ gốc. Thay vì cấp bản sao bằng giấy như trước, tổ chức, cá nhân khi thực hiện chứng thực có thể yêu cầu cấp bản sao bằng hình thức điện tử. Bản sao điện tử được ký số, bảo đảm tính pháp lý, nguyên vẹn của dữ liệu. 

Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh (Cục Kiểm soát thủ tục hành chính) nêu ví dụ, nếu tính trung bình thực hiện 1 hồ sơ chứng thực với độ dày 5 trang tài liệu, chi phí xã hội một người dân, tổ chức phải bỏ ra là 50.000 đồng (theo cách tính chi phí tuân thủ kiểm soát thủ tục hành chính, bao gồm việc sao chụp, đi lại, phí chứng thực), và người dân thường phải thực hiện rất nhiều lần trong một năm. Tuy nhiên nếu được cấp bản sao điện tử, người dân, tổ chức có thể dùng lại được, do vậy sẽ chỉ phát sinh 1 lần đi thực hiện chứng thực trong nhiều năm.

Với giả định do tái sử dụng nên giảm được 20% số lượng hồ sơ chứng thực bản sao từ bản chính trong 1 năm trên toàn quốc, với số liệu hồ sơ chứng thực trung bình phát sinh trong 1 năm, chi phí tiết kiệm được cho xã hội sẽ là: 140 triệu hồ sơ * 20% * 50.000 đồng = 1.400 tỷ đồng/năm.

Với các bản sao điện tử đã được ký số và lưu trên Kho lưu dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân tại Cổng Dịch vụ công quốc gia, người thực hiện dễ dàng khai thác bản sao điện tử đã thực hiện. Các bản sao điện tử đã được ký số bảo đảm được tính pháp lý và nguyên vẹn và dễ dàng tái sử dụng.

 “Cải cách hành chính không phải là chạy theo thành tích mà quan trọng nhất là phục vụ và làm hài lòng người dân. Đó là tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng.

Với Nghị định 45, VPCP kỳ vọng những chính sách mới được ban hành sẽ kịp thời tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, sự tham gia của cá nhân, tổ chức trong giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính, hỗ trợ việc xây dựng Chính phủ điện tử”, ông Ngô Hải Phan nhấn mạnh. (Baochinhphu.vn 9/4, Hoàng Giang-Gia Huy) Về đầu trang

Thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử - Bài 1: Chưa như kỳ vọng

Những năm gần đây, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, song vẫn chưa như kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi cần có bước thay đổi đột phá trong thời gian tới.

Trong những năm qua, công tác kiểm soát thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Các quy định thủ tục hành chính được kiểm soát, đơn giản hóa thành phần hồ sơ, quy trình thực hiện thủ tục hành chính và quy định cách thức thực hiện theo hướng dễ tiếp cận cho người dân, doanh nghiệp. Nhiều thủ tục đã được quy định theo hướng có thể thực hiện trực tuyến trên môi trường điện tử. Theo Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hiệp quốc năm 2018, chỉ số cung cấp dịch vụ công trực tuyến được đánh giá cao nhất trong các chỉ số thành phần của Việt Nam, đạt 0,74/1,0.

Các bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ công để giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình. Điều này được thể hiện qua số lượng dịch vụ công trực tuyến ngày càng tăng. Số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 do các bộ, cơ quan ngang bộ cung cấp trong năm 2016 là 828 dịch vụ, đã tăng lên con số 1.578 dịch vụ vào năm 2018. 

Tính đến quý III/2019, các bộ, cơ quan ngang bộ đã cung cấp 1.720 dịch vụ. Trung bình mỗi dịch vụ, tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận và xử lý trực tuyến đạt 80,55%. Trong khối các cơ quan thuộc Chính phủ, chỉ có Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan có cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp. Số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 do các tỉnh, thành phố cung cấp trong các năm 2016 là: 11.409 dịch vụ, đến năm 2018 đã là 47.774 dịch vụ.

Tuy vậy, kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp chưa đạt được như kỳ vọng. Tại cả hai công đoạn thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến của người dân, doanh nghiệp và giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước, việc ứng dụng công nghệ thông tin vẫn còn nhiều hạn chế.

Theo Văn phòng Chính phủ, qua theo dõi kết quả triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và rà soát văn bản quy định liên quan đến các cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thủ tục hành chính theo phương thức trực tuyến trên môi trường điện tử cho thấy còn nhiều tồn tại hạn chế và hiệu quả chưa cao. Lượng hồ sơ tiếp nhận, giải quyết trực tuyến còn thấp.

Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết quý II/2019, các bộ, ngành đã cung cấp 1.758 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, trong đó có 506 dịch vụ phát sinh hồ sơ trực tuyến (đạt 28,78%). Các địa phương đã cung cấp 43.369 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4, trong đó có 6.575 dịch vụ có phát sinh hồ sơ trực tuyến (đạt 15,16%). Đến hết quý III/2019, tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến của các bộ, ngành là 47,7%, địa phương là 17,3%.

Mặc dù đã có các quy định thủ tục hành chính thực hiện theo cách thức trực tuyến, tuy nhiên, mới chỉ đề cập đến phương thức này mà chưa có những quy định cụ thể, chi tiết cách thức thực hiện, trừ một số thủ tục thuộc lĩnh vực ngân hàng, tài chính, y tế, lao động. Bên cạnh đó, việc tổ chức cung ứng dịch vụ công qua ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều tồn tại như: mỗi bộ, ngành, địa phương có nhiều cổng dịch vụ công cho những lĩnh vực riêng lẻ; các cổng dịch vụ công thiếu tính thống nhất, khó tìm, khó tiếp cận, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục hành chính của cá nhân, tổ chức.

Việc lựa chọn, xây dựng các dịch vụ công để giải quyết theo phương thức trực tuyến còn mang tính tự phát, hình thức và quan tâm đến số lượng. Thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến trên môi trường điện tử mới chỉ là những thủ tục đơn giản, chủ yếu là ở bước khai báo, trao đổi thông tin phối hợp và không hoàn thành toàn bộ quy trình trực tuyến. Tình trạng cung cấp các dịch vụ công chồng chéo giữa các bộ, ngành và các địa phương, dẫn đến một dịch vụ công thực hiện thủ tục hành chính do cả bộ và cả địa phương cung cấp.

Thực tế cho thấy, việc triển khai dịch vục công trực tuyến mức độ 3, 4 chưa bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông của hệ thống thông tin, khả năng sử dụng chung thông tin về quản lý, điều hành, phối hợp công tác và những thông tin khác một cách đồng bộ, thông suốt giữa các cơ quan nhà nước. Điều này dẫn tới những lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính như công nhận và sử dụng lại kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử; hỗ trợ lưu trữ thông tin đều đạt hiệu quả rất thấp.

Trong cách cung cấp dịch vụ thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử còn nhiều điểm bất hợp lý, thiếu thống nhất và mang tính tùy nghi. Chẳng hạn, việc chứng minh tính chính danh của người thực hiện, hình thức của tài liệu, quy trình thực hiện... dẫn đến cùng một thủ tục hành chính nhưng cách tiếp cận, triển khai của từng địa phương là khác nhau, tạo thành những phiên bản khác nhau.

Quá trình thực hiện thủ tục hành chính cũng tồn tại tình trạng chưa bảo đảm tính định danh chính xác người dùng, chưa bảo đảm bí mật nhà nước, thông tin cá nhân; an toàn, an ninh thông tin. Về hình thức, các thủ tục hành chính còn phức tạp gây phiền hà cho dân. Về thẩm quyền giải quyết, các thủ tục còn nặng nề, nhiều cửa và khâu trung gian, chưa rõ ràng trong một số các quy định về thẩm quyền của các cơ quan trong quản lý một số lĩnh vực.

Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập trên, theo phân tích của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ), là do các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng, ban hành thủ tục hành chính và tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính chưa thực sự coi trọng các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin. Thủ tục còn mang nặng tính hành chính, quy trình chưa thống nhất, phương thức thực hiện cơ bản vẫn theo hình thức truyền thống bằng giấy tờ. Thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính còn nhiều khâu chưa rõ ràng. Cá nhân, tổ chức và ngay cả cơ quan quản lý cũng chưa thật sự tin tưởng vào việc chuyển đổi sang ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết thủ tục hành chính, còn mang tính kinh nghiệm và thói quen lạc hậu, chưa phù hợp với nhu cầu trong điều kiện hội nhập.

Các quy định về việc giải quyết thủ tục trực tuyến trên môi trường điện tử chưa đồng bộ, còn rời rạc ở từng văn bản cụ thể và chưa đủ các quy định cụ thể để triển khai thống nhất trên toàn quốc. Việc thiết lập các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin của các bộ, ngành còn rất chậm, làm hạn chế khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Một nguyên nhân quan trọng khác, đó là trình độ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của người dân còn hạn chế, việc truyền thông, hướng dẫn trực tiếp người dùng chưa được triển khai mạnh mẽ, chất lượng dịch vụ công trực tuyến được cung cấp chưa thực sự vì người dùng dẫn đến tình trạng e ngại và khó khăn trong việc tiếp cận các thiết bị công nghệ thông tin cũng như dịch vụ công trực tuyến. (Baotintuc.vn 9/4, Chu Thanh Vân) Về đầu trang

Thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử - Bài cuối: Tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất

Tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến trên môi trường điện tử, từ vấn đề xác thực, định danh cá nhân đến quy trình thực hiện, giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, trách nhiệm của các cơ quan trong xây dựng và thực hiện giải pháp bảo đảm phương thức, kiểm soát chất lượng thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử... là điều cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân, tổ chức trong giao dịch trực tuyến, từng bước nâng cao tỷ lệ giao dịch trực tuyến trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Trước đây, do chưa có một quy định khung về việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử nên dẫn đến tình trạng tùy nghi trong cung cấp dịch vụ công, thiếu cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ công và bất cập trong việc bảo đảm tính pháp lý của các hồ sơ, tài liệu lưu trữ điện tử.

Trong Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hiệp quốc năm 2018, chỉ số cung cấp dịch vụ công trực tuyến được đánh giá cao nhất trong các chỉ số thành phần của Việt Nam, số lượng dịch vụ công cung cấp tương đối lớn. Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến của nước ta còn nhiều hạn chế.

Kết quả chỉ số mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương năm 2016 - 2017 cho thấy, 68,42% đạt mức độ khá và 31,58% ở mức độ trung bình, không nơi nào đạt mức độ tốt (chỉ số từ 0,8 trở lên). Đối với địa phương, không có tỉnh/thành phố nào đạt mức độ tốt, 79,37% đạt mức độ khá, 20,63% ở mức độ trung bình. Kết quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên thang điểm chỉ số ở mức độ yếu (trung bình đạt 0,32 ở các bộ, cơ quan ngang bộ) và kém (trung bình đạt 0,11 ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).

Nhiều dịch vụ công trực tuyến được cung cấp không phải những dịch vụ mang tính phố biến, có số lượng hồ sơ phát sinh thực tế cao, không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nên không được người dân, doanh nghiệp sử dụng, dẫn đến tình trạng không phát sinh hồ sơ hoặc phát sinh rất ít, không phát huy được hiệu quả trong cung ứng. Một số dịch vụ công trực tuyến không được nâng cấp kịp thời với những thay đổi trong quy định thủ tục hành chính, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong ngành, lĩnh vực, cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác kiểm soát thủ tục hành chính. 

Để giải quyết những tồn tại, hạn chế này, thiết lập hành lang pháp lý thống nhất cho việc tổ chức, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, tạo điều kiện thuận lợi và cắt giảm chi phí cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện thủ tục hành chính, thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 17/NQ-CP (về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025), Văn phòng Chính phủ đã chủ trì nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ nghị định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 8/4 (Nghị định số 45/2020/NĐ-CP). Nghị định này thiết lập hành lang pháp lý thống nhất cho việc tổ chức, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, tạo điều kiện thuận lợi và cắt giảm chi phí cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện thủ tục hành chính.

Đặc biệt, với việc huy động sự tham gia của các cơ quan trong nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến thông qua việc kiểm soát quy trình lựa chọn, xây dựng, rà soát, đánh giá dịch vụ thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết số 17/NQ-CP. Theo đó, giai đoạn 2019 - 2020, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của từng bộ, ngành, địa phương đạt từ 20% trở lên, tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến thực hiện ở mức độ 4; có 50% Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh cung cấp giao diện cho các thiết bị di động; 20% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số trên nền tảng di động để thực hiện thủ tục hành chính; 50% dịch vụ công trực tuyến xử lý bằng hồ sơ điện tử; 20% thông tin của người dân được tự động nhập vào biểu mẫu trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp.

Nghị định ban hành khung pháp lý quy định việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, qua đó, giúp giảm các chi phí cho việc chuẩn bị và thực hiện thủ tục hành chính thông qua ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức, cá nhân giảm thời gian, chi phí cho việc chuẩn bị, gửi hồ sơ và nhận kết quả của các tổ chức, cá nhân, tiết kiệm được chi phí in ấn, photo tài liệu giấy, công chứng, chứng thực, chi phí văn phòng phẩm... do kế thừa các kết quả chính sách liên quan đến định danh và xác thực điện tử.

Khi có quy định cụ thể về việc thực hiện thủ tục hành chính bằng phương thức trực tuyến, xác định rõ từng bước quy trình, sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện của tổ chức, cá nhân, góp phần thay đổi thói quen giao dịch của người dân với cơ quan nhà nước từ trực tiếp sang trực tuyến, góp phần xây dựng công dân điện tử, làm nền tảng cho xây dựng kinh tế số, xã hội số trong tương lai; đồng thời nâng cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn và kiến thức về công nghệ thông tin của cán bộ, công chức được phân công xử lý hồ sơ thủ tục hành chính...

Với việc quy định trách nhiệm của các bộ, ngành chủ động thực hiện số hóa các tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải thay đổi cách quản lý dữ liệu từ thủ công truyền thống sang quản lý điện tử, đáp ứng phương thức quản lý hiệu đại, giúp tạo một nền tảng dữ liệu để quản lý và phát triển. Kinh nghiệm của các nước triển khai Chính phủ điện tử cho thấy, đây là một trong những nhiệm vụ cần thực hiện càng sớm càng hỗ trợ tiết kiệm chi phí cho công tác quản lý nhà nước.

Phương án triển khai số hóa sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt trong nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin của cả cán bộ, công chức và người dân trong thực hiện thủ tục hành chính. Các hồ sơ, giấy tờ không chỉ là “giấy trắng, mực đen, con dấu” mà được thể hiện và chấp nhận dưới dạng điện tử sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong phương thức giải quyết thủ tục hành chính, từ đó tạo tiền đề cho sự thay đổi về phương thức phục vụ, hướng đến phục vụ tại nhà, qua các thiết bị điện tử thông minh để đáp ứng các giao dịch giữa người dân và cơ quan nhà nước. Phương án này cũng sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp song song kết quả giải quyết thủ tục hành chính dưới dạng điện tử với kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định và công nhận giá trị pháp lý của kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử. Theo đó, các văn bản chuyên ngành về thủ tục hành chính không cần sửa đổi, bổ sung về vấn đề này.

Một điểm mới được kỳ vọng tạo thuận lợi lớn cho người dân, doanh nghiệp, đó là việc cấp bản sao điện tử có giá trị pháp lý thông qua giải pháp chứng thực từ bản chính hoặc cấp từ sổ gốc. Thay vì cấp bản sao bằng giấy như trước, tổ chức, cá nhân khi thực hiện chứng thực có thể yêu cầu cấp bản sao bằng hình thức điện tử. Bản sao điện tử được ký số, bảo đảm tính pháp lý, nguyên vẹn của dữ liệu. Cơ quan thực hiện chứng thực có trách nhiệm gửi bản sao điện tử vào kho lưu dữ liệu của tổ chức, cá nhân trên Cổng dịch vụ công quốc gia (trong trường hợp đã có tài khoản) hoặc tới địa chỉ thư điện tử do tổ chức, cá nhân cung cấp.

Đây là giải pháp phù hợp cho giai đoạn hiện nay để tạo các giấy tờ điện tử trong khi các cơ quan nhà nước chưa hoàn thành việc số hóa dữ liệu thuộc thẩm quyền quản lý, đặc biệt là các kết quả giải quyết thủ tục hành chính để kết nối, chia sẻ với nhau trong giải quyết thủ tục hành chính. Việc cấp bản sao điện tử được ghi nhận giá trị pháp lý cũng giúp đơn giản hóa thủ tục chứng thực, giảm bớt nhu cầu chứng thực giấy tờ của người dân, tổ chức do đặc tính của tập tin điện tử có thể dễ dàng lưu trữ, chia sẻ, tái sử dụng, từ đó giảm bớt các chi phí xã hội cho việc chứng thực.

Tính toán của Văn phòng Chính phủ cho thấy, nếu trung bình thực hiện một hồ sơ chứng thực với độ dày 5 trang tài liệu, chi phí xã hội một người dân, tổ chức phải bỏ ra là 50.000 đồng, người dân có thể thực hiện rất nhiều lần trong một năm. Tuy nhiên, nếu được cấp bản sao điện tử, người dân, tổ chức có thể dùng lại được, do vậy sẽ chỉ phát sinh một lần đi thực hiện chứng thực trong nhiều năm. Giả định, do tái sử dụng nên giảm được 20% số lượng hồ sơ chứng thực bản sao từ bản chính, với số liệu hồ sơ chứng thực trung bình phát sinh trong một năm là 140 triệu hồ sơ, chi phí tiết kiệm được cho xã hội sẽ là 1.400 tỷ đồng/năm. (Baotintuc.vm 9/4, Chu Thanh Vân) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.029.628 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này