Bản tin cải cách hành chính ngày 23/4/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Quảng Ninh sẽ tiếp tục dẫn đầu PCI năm 2019

2. PCI tỉnh Bạc Liêu: “trên nóng, dưới lạnh”

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Nhiều đột phá trong cải cách thủ tục hành chính về đất đai

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

4. Một số bộ, ngành còn chậm ban hành văn bản hướng dẫn

5. Hơn 2.900 công chức hải quan đã được đánh giá năng lực

6. Ninh Bình: Giảm 20 đơn vị sự nghiệp qua sắp xếp, sáp nhập

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần quyết liệt hơn

8. Doanh nghiệp mong nhiều hơn chuyện giảm thuế

9. Nhận thức đúng vai trò của HĐND

TIN THẾ GIỚI

10. Lãnh đạo Cơ quan chống tham nhũng Armenia bị cáo buộc tham nhũng

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Ninh sẽ tiếp tục dẫn đầu PCI năm 2019

Đó là mục tiêu mà chính quyền Quảng Ninh đặt ra tại Hội nghị phân tích chuyên sâu về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2018, phương hướng, giải pháp cải thiện bền vững PCI 2019.

Nhìn vào bảng xếp hạng 10 chỉ số thành phần PCI cho thấy, năm 2018 Quảng Ninh có 05 chỉ số tăng điểm gồm: Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Chi phí không chính thức, Cạnh tranh bình đẳng, Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự; 05 chỉ số giảm điểm gồm: Chi phí Gia nhập thị trường, Chi phí thời gian, Tính năng động, Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp, Đào tạo lao động.

Về thứ hạng, có 03 chỉ số tăng hạng gồm: Tiếp cận đất đai, Tính minh bạch, Chi phí không chính thức; Còn lại 07 chỉ số giảm hạng gồm: Chi phí Gia nhập thị trường, Chi phí thời gian, Cạnh tranh bình đẳng, Tính năng động, Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp, Đào tạo lao động, Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự.

Như vậy, so sánh với năm 2017, điểm các chỉ số thành phần PCI Quảng Ninh không có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên thứ hạng trong bảng tổng sắp lại có sự khác biệt rõ rệt.

Mặc dù năm 2018, PCI Quảng Ninh giữ vững ở vị trí số 01/63 tỉnh, thành phố và duy trì được 06 năm liên tiếp trong nhóm dẫn đầu cả nước về PCI, vẫn còn rất nhiều dư địa để cải cách và đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của cộng đồng doanh nghiệp và cũng là kỳ vọng của tỉnh.

Ông Nguyễn Văn Đọc, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh trăn trở, mặc dù hai năm liền Quảng Ninh đứng đầu chỉ số PCI cả nước nhưng với số điểm 70,36 mà Quảng Ninh đạt được trong năm 2018 thì khoảng cách đến thang điểm 100 vẫn còn rất lớn. Tổng điểm năm 2018 của Quảng Ninh thậm chí còn thấp hơn năm 2017 là 0,33 điểm và chỉ hơn Đồng Tháp 0,19 điểm. TP. Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cũng đã nỗ lực vươn lên tốp đầu cả nước. Điều đó cho thấy, nếu Quảng Ninh không nỗ lực cố gắng sẽ rất khó có thể giữ được ngôi vị đầu bảng.

Theo ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, để có những cải thiện vượt bậc và bền vững, năm 2019, Quảng Ninh cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đạt và vượt so với các chỉ tiêu đề ra của Chính phủ tại Nghị quyết số 02/NQ-CP và cần cải thiện mạnh mẽ hơn nữa các thủ tục hành chính, đáp ứng hơn nữa kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc cải thiện hơn nữa tổng điểm PCI.

Đặc biệt, cần cải thiện vượt bậc các chỉ số đã từng ở thứ hạng cao nhiều năm, nhưng bị giảm điểm trong năm 2018 như: Chỉ số Chi phí Gia nhập thị trường, Tính năng động, Dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp và Đào tạo lao động. Quảng Ninh cần đề ra các giải pháp hiệu quả, thiết thực để tiếp tục duy trì và cải thiện các chỉ số đang có xu hướng tăng điểm và tăng hạng như: Chi phí không chính thức, Tính minh bạch, Chi phí thời gian, Cạnh tranh bình đẳng và Tiếp cận đất đai. Tỉnh cũng cần tập trung các giải pháp sáng tạo, đổi mới để cải thiện chỉ số còn chưa đạt kỳ vọng như: Chỉ số Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 22/4, Thu Duyên - Lan Vũ)Về đầu trang

PCI tỉnh Bạc Liêu: “trên nóng, dưới lạnh”

Đó là ý kiến đánh giá của ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc VCCI Cần Thơ tại hội nghị phân tích PCI của tỉnh Bạc Liêu vào ngày 22/4. Tuy nhiên, cũng theo ông Lam: bên cạnh những mặt tích cực PCI của tỉnh Bạc Liêu cũng còn  nhiều điểm hạn chế, đáng lưu ý là có tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.

Đi vào phân tích cụ thể, ông Lam cho biết: mặt mạnh của tỉnh Bạc Liêu là tốc độ tăng trường kinh tế trên 8% đứng thứ 3 của vùng, cao hơn bình quân cả nước. Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2018 tăng 200%, mức bình quân vốn/doanh nghiệp cũng thuộc hàng khá cao trong khu vực, tỷ lệ doanh nghiệp ngưng hoạt động, giải thể trong năm qua cũng thấp hơn các địa phương trong vùng.

Tổng điểm các chỉ số thành phần tăng từ 61,09 lên 62,53 xếp hạng 39/63 tỉnh, thành, (tăng 3 bậc), tính ổn định cao. Trong chỉ số về gia nhập thị trường thì chỉ tiêu đăng ký kinh doanh, đứng đầu cả nước; cán bộ thực hiện các thủ tục cho doanh nghiệp được đánh giá thân thiện, nhiệt tình; lĩnh vực tiếp cận đất đai cũng là điểm sáng, khi mà doanh nghiệp được cấp chứng nhận QSDĐ đứng thứ hai cả nước chỉ sau tỉnh Tây Ninh. Chỉ số về cạnh tranh bình đẳng cũng  được doanh nghiệp đánh giá cao và cho rằng chính quyền tỉnh không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, chỉ xếp sau Đồng Tháp, Bến Tre, hơn cả tỉnh dẫn đầu PCI là Quảng Ninh. Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại cũng được đánh giá cao.

Bên cạnh đó, ông Lam chỉ ra những điểm hạn chế: Tuy số doanh nghiệp được thành lập mới tăng so với các năm nhưng sử dụng rất ít lao động, kim ngạch xuất khẩu hơn 500 triệu USD/năm là thấp hơn các tỉnh trong khu vực.

Chi phí gia nhập thị trường có xu hướng tụt dốc, đây là thực trạng chung của nhiều tỉnh trong vùng chứ không riêng gì Bạc Liêu. Về đất đai: doanh nghiệp cần thêm đất mở rộng kinh doanh rất khó khăn; cung cấp thông tin về đất đai cũng rất chậm, Độ mở của trang website cũng thấp, chi phí không chính thức tăng, chủ yếu là lĩnh vực đấu thầu dự án. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp.

Trong khi chỉ số tính năng động tiên phong của lãnh đạo cấp tỉnh được đánh giá tốt nhưng cấp sở, ngành, quận, huyện còn hạn chế. Tòa Án các cấp chậm đưa vụ việc kinh tế ra xét xử, chỉ có 68% vụ việc mất cắp được Công An xử lý hiệu quả…

Để khắc phục những hạn chế trên, ông Lam khuyến nghị: Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng gia tăng, cơ sở hạ tầng cũng đang cải thiện, thì việc nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của từng địa phương sẽ quyết định tốc độ phát triển của mỗi địa phương. Do đó, các địa phương cần quyết liệt hơn trong cải cách hành chính, đổi mới phong cách tiếp cận, phục vụ doanh nghiệp. Để chữa căn bệnh “trên nóng, dưới lạnh” thì tỉnh cần phải ban hành bộ chỉ số đánh giá năng lực điều hành kinh tế cấp sở, ngành, quận, huyện (DDCI) để từ đó chỉ ra từng lĩnh vực cần cải thiện cho các đơn vị. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 23/4, Huỳnh Khởi)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Nhiều đột phá trong cải cách thủ tục hành chính về đất đai

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, thời gian qua, ngành quản lý đất đai có nhiều bước tiến trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính (TTHC) nhằm giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2013 và các Văn bản hướng dẫn thi hành, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014 về đẩy mạnh cải cách TTHC trong lĩnh vực quản lý đất đai, thời gian qua, Bộ TN&MT đã công bố bộ TTHC trong lĩnh vực đất đai.

Theo báo cáo từ các địa phương, đến nay, có 63/63 tỉnh, thành phố công bố bộ TTHC tại địa phương. Bộ thủ tục này được rà soát, cải cách, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các phương án đơn giản hóa theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, giảm tối đa chi phí tuân thủ TTHC của xã hội.

Thống kê cho thấy, tổng số TTHC về đất đai là 41 thủ tục đối với nơi đã thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp (giảm 30 thủ tục); 62 thủ tục đối với nơi chưa thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp (giảm 9 thủ tục). Đã rà soát, bãi bỏ một số thủ tục hoặc công việc không cần thiết trong giao đất, cho thuê đất và đăng ký, cấp Giấy chứng nhận (GCN) theo hướng bãi bỏ một số công việc thuộc thẩm quyền của cấp xã trước đây như xác nhận tình trạng tranh chấp đối với trường hợp đăng ký, cấp GCN mà người sử dụng có giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (đây là nội dung gây nhiều ách tắc nhất trong quá trình cấp GCN trước đây); lập phương án giao đất ở, lập Hội đồng Tư vấn giao đất của xã trong trường hợp giao đất cho hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn.

Thời gian thực hiện quy trình cấp giấy các loại đã giảm so với quy định trước đây, đặc biệt, thủ tục Đăng ký, cấp GCN giảm thời gian thực hiện từ 5 - 25 ngày so với trước đây khi thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ngày 6/1/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, trong đó, đã rút ngắn thời gian thực hiện TTHC từ 1/3 đến 1/2 thời gian thực hiện đối với các thủ tục khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất.

Thực tế, một số địa phương đã tích cực rà soát, công bố bộ TTHC theo hướng cắt giảm số lượng thủ tục, giảm thời gian thực hiện thủ tục như tỉnh Khánh Hòa đã cắt giảm 1/3 thời gian thực hiện TTHC; tỉnh Đà Nẵng cắt giảm 5 - 10 ngày đối với thủ tục liên quan đến cấp GCN; tỉnh Đồng Nai thời gian thực hiện thủ tục Đăng ký thế chấp thực hiện trong ngày.

Đặc biệt, tại TP. Hà Nội, căn cứ Luật Đất đai 2013 và các Văn bản hướng dẫn thi hành, UBND TP. Hà Nội đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 quy định một số nội dung về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn TP. Hà Nội; Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 ban hành một số quy định về đăng ký, cấp GCN; đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức trên địa bàn; Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND ngày 15/10/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND.

Theo đó, các TTHC về giao đất, cho thuê đất, cấp GCN đã được thực hiện đơn giản hóa, cắt giảm thời gian giải quyết. Đối với thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư là không quá 12 ngày làm việc; đối với thủ tục cấp GCN là không quá 14 ngày làm việc (hiện nay Sở TN&MT Hà Nội đang trình UBND TP. Hà Nội rút ngắn thời gian cấp GCN sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất còn 7 ngày làm việc). (Tài Nguyên & Môi Trường 23/4, Trường Giang)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Một số bộ, ngành còn chậm ban hành văn bản hướng dẫn

Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (TSC) có hiệu lực từ 1/1/2018. Qua 1 năm thực hiện cho thấy, nhiều bộ, ngành đã tích cực, chủ động, tạo lập cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ nhằm quản lý, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ TSC. Tuy nhiên, một số khác còn chậm ban hành các văn bản hướng dẫn luật thuộc thẩm quyền, gây khó khăn trong thực hiện.

Qua tổng kết cho thấy, các bộ: Tài chính, Quốc phòng, Công an đã tích cực trong việc xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật nhằm cụ thể hóa những nội dung được luật giao, tạo lập cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ trong công tác quản lý, sử dụng TSC theo hướng quản lý chặt chẽ, sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ TSC.

Các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý TSC, như: Bộ Tài chính; Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng; Cục Tài chính - Bộ Công an; sở tài chính, phòng tài chính - kế hoạch cấp huyện đã thực hiện mở tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước để quản lý số tiền thu được từ xử lý TSC theo quy định.

Bên cạnh đó, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành việc ban hành quy định về phân cấp trong quản lý TSC theo quy định tại Nghị định số 151/2017/NĐ-CP. Vì vậy, việc quyết định trong quản lý, sử dụng, xử lý TSC được thông suốt, tạo sự chủ động cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương cũng đã cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về TSC theo quy định. Đồng thời, để hỗ trợ cho việc quản lý tài sản cố định, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ động sử dụng các phần mềm khác (ngoài phần mềm quản lý đăng ký tài sản nhà nước) để quản lý tài sản cố định tại các đơn vị, trong đó bao gồm cả tài sản có nguyên giá dưới 500 triệu đồng/đơn vị tài sản.

Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, tiến độ ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích trụ sở chuyên dùng, công trình sự nghiệp, máy móc, thiết bị chuyên dùng còn chậm. Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương mới có khoảng 50% các đơn vị ban hành được tiêu chuẩn, định mức này. Đa số các bộ, ngành, địa phương chưa ban hành tiêu chuẩn, định mức diện tích chuyên dùng, diện tích công trình sự nghiệp trong cơ sở hoạt động sự nghiệp. Theo Bộ Tài chính, mới có 2 bộ, ngành (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) và 5 địa phương (Hậu Giang, Lào Cai, Quảng Ngãi, Cà Mau, Hà Giang) ban hành tiêu chuẩn, định mức nêu trên.

Nguyên nhân chủ yếu là do một số bộ, như: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chưa ban hành quy định chi tiết hướng dẫn về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo nên các bộ, ngành, địa phương không có cơ sở để xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, định mức cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Ngoài ra, do số lượng máy móc, thiết bị chuyên dùng, diện tích trụ sở chuyên dùng, diện tích công trình sự nghiệp nhiều, chủng loại đa dạng, mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu khác nhau nên việc tổng hợp, xây dựng tiêu chuẩn, định mức chưa được kịp thời. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 22/4, Minh Anh)Về đầu trang

Hơn 2.900 công chức hải quan đã được đánh giá năng lực

Từ nay đến cuối năm 2019, Tổng cục Hải quan tiếp tục tổ chức thi đánh giá năng lực công chức theo vị trí việc làm (VTVL), tại 28/35 cục hải quan tỉnh, thành phố, phục vụ cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa.

Theo Tổng cục Hải quan, việc đánh giá năng lực theo VTVL là nhiệm vụ quan trọng trong việc đổi mới phương pháp quản lý nguồn nhân lực, theo Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2016 - 2020 được ban hành tại Quyết định 1614/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.

Từ cuối năm 2018 và đầu năm 2019 đến nay, Tổng cục Hải quan đã liên tục tổ chức việc đánh giá năng lực công chức không giữ chức vụ lãnh đạo tại 6 vụ, cục thuộc cơ quan tổng cục và 7 cục hải quan tỉnh, thành phố có khối lượng công việc lớn nhất ngành, đó là: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương.

Kết quả, đã có 2.924 công chức hải quan được đánh giá năng lực, dựa trên 6 lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ chính: giám sát quản lý, thuế xuất nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan, điều tra chống buôn lậu, quản lý rủi ro, xử lý vi phạm.

Theo kế hoạch những tháng cuối năm 2019, Tổng cục Hải quan sẽ việc mở rộng phạm vi đánh giá năng lực trên tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ, các đơn vị và các đối tượng cán bộ công chức thừa hành của 8 lĩnh vực nghiệp vụ chính trên phạm vi 28 cục hải quan tỉnh, thành phố còn lại, phục vụ công tác đào tạo, bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển trong các năm tiếp theo… (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 22/4, Ngọc Linh)Về đầu trang

Ninh Bình: Giảm 20 đơn vị sự nghiệp qua sắp xếp, sáp nhập

Sở Tài chính Ninh Bình cho biết, tổng số đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh là 611 đơn vị. Thời gian qua, tỉnh Ninh Bình thực hiện sắp xếp, sáp nhập các đơn vị sự nghiệp, kết quả đã giảm 20 đơn vị.

Theo Sở Tài chính Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh sẽ sáp nhập các trường tiểu học với trường trung học cơ sở trên cùng một địa bàn. Đồng thời, sáp nhập trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh với trung tâm tin học, ngoại ngữ và hướng nghiệp.

Bên cạnh đó, tỉnh sẽ sáp nhập trường Trung cấp nghề Nho Quan với trường Trung cấp kinh tế-kỹ thuật và tại chức. Tỉnh sẽ giải thể Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên thành phố Ninh Bình. Đối với lĩnh vực y tế, tỉnh sẽ sáp nhập Trung tâm Dân số- Kế hoạch hóa gia đình cấp huyện vào Trung tâm y tế cấp huyện.

Lĩnh vực khoa học và công nghệ, tỉnh sẽ sáp nhập Trung tâm Thông tin và Thống kê  khoa học công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

Lĩnh vực văn hóa-thể thao và du lịch, tỉnh sẽ sáp nhập Trung tâm Văn hóa-Thông tin và Thể thao, nhà văn hóa, Đài truyền thanh… trên cùng địa bàn cấp huyện. Cùng với đó, tỉnh sẽ hợp nhất Trung tâm văn hóa tỉnh và Nhà hát chèo.

Đối với các lĩnh vực sự nghiệp khác, tỉnh sẽ sáp nhập Trung tâm Xúc tiến du lịch và Trung tâm hỗ trợ khách du lịch; sáp nhập Trung tâm Đầu tư phát triển cụm công nghiệp và Trung tâm Khuyến nông và Xúc tiến thương mại.

Tỉnh sẽ hợp nhất các trạm chăn nuôi và thú y, trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật, trạm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, trạm quản lý chất lượng nông, lâm và thủy sản. Tỉnh sẽ sắp xếp lại các ban quản lý rừng phòng hộ cấp huyện thuộc các huyện Nho Quan, Yên  Mô, Gia Viễn, Kim Sơn, thành phố Tam Điệp và Ban quản lý rừng đặc dụng Vân Long-Hoa Lư. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 22/4, Bùi Tư)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần quyết liệt hơn

Bản Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp (DN) vừa được cập nhật. Theo đó, cơ quan xây dựng Luật đề xuất cắt giảm 17 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định trong Luật Đầu tư thay vì hơn 20 ngành, nghề được đề xuất trước đó. Góp ý về nội dung này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, đề xuất cắt giảm như vậy vẫn chưa đủ mạnh và cần quyết liệt hơn.

Theo ông Quách Ngọc Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) - đơn vị chủ trì xây dựng Dự thảo Luật, đề xuất bãi bỏ 17 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện dựa trên 4 tiêu chí chính. Đó là, bãi bỏ ngành, nghề không liên quan trực tiếp hoặc không chứng minh được có ảnh hưởng trực tiếp tới quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Hai là bãi bỏ ngành, nghề đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn. Ba là bãi bỏ ngành, nghề mà chất lượng đầu ra của ngành nghề đó do thị trường, khách hàng lựa chọn, sàng lọc và quyết định. Bốn là bãi bỏ ngành nghề cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích có thể lựa chọn, kiểm soát thông qua đấu thầu, đặt hàng của Nhà nước.

Cùng với việc đề xuất cắt giảm 17 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, Dự thảo Luật đề xuất sửa đổi 6 ngành, nghề và bổ sung 2 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (đăng kiểm tàu cá; kinh doanh dịch vụ phát hành báo chí nhập khẩu).

Đánh giá cao về đề xuất bãi bỏ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Dự thảo Luật, nhưng ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng: “Đó là con số khiêm tốn. Cải cách chưa đủ mạnh”. Bởi theo ông Cung, qua nghiên cứu cho thấy, trong số 243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện hiện hành, nên bỏ ít nhất một nửa. Muốn làm được điều này, chúng ta không nên chờ các bộ kiến nghị việc sẽ cắt giảm đủ mạnh, đủ lớn, vì họ chỉ kiến nghị bỏ những thứ không mang lại lợi ích cho mình.

Luật sư Lê Nết, Công ty Luật TNHH LNT và thành viên nêu quan điểm: “Con số 17 ngành, nghề đầu tư kinh doanh được đề xuất bãi bỏ là quá ít so với 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện nay. Nhưng đó chỉ là danh mục với ngành, nghề kinh doanh nói chung chứ không phải danh mục về ngành, nghề đầu tư”.

Nhìn về đề xuất cắt giảm ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nêu trên, ông Lê Xuân Hiền, Trưởng phòng Đấu thầu, Thẩm định và Giám sát đầu tư thuộc Sở KH&ĐT Hải Dương, Thành viên Tổ công tác thi hành Luật DN và Luật Đầu tư đánh giá, đây là nỗ lực lớn, đáng khen ngợi của cơ quan xây dựng Dự thảo Luật.

Theo ông Hiền, việc Luật Đầu tư đưa ra Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là nhằm hạn chế các bộ đưa ra điều kiện kinh doanh nằm ngoài điều kiện được quy định trong Luật Đầu tư để hành dân, hành DN. Tuy nhiên, trên thực tế, cho dù có Danh mục, song tại các luật chuyên ngành (thậm chí ở mức nghị định, thông tư...) vẫn chứa đựng rất nhiều điều kiện kinh doanh mà Luật Đầu tư không quy định. “Nếu ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đó được bãi bỏ ở Luật Đầu tư, nhưng luật chuyên ngành vẫn quy định thì không có ý nghĩa”, ông Hiền nhấn mạnh.

Để việc tuân thủ danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện dễ dàng, thuận lợi, ông Hiền cho rằng, các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cần rõ ràng, minh bạch để người dân dễ dàng thực hiện. Thứ hai, các bộ cần tuân thủ nghiêm quy định việc cắt giảm ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ở Luật Đầu tư, tránh việc ban hành giấy phép con, cháu… Thứ ba, cán bộ của cơ quan công quyền cần công tâm.

Nhấn mạnh yêu cầu cải cách, xóa bỏ rào cản cho DN, ông Nguyễn Đình Cung kiến nghị, ngoài việc cắt giảm mạnh số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện hiện hành thì tư duy quản lý nhà nước phải thay đổi. “Chúng ta vẫn có thói quen bắt mọi người làm theo quy định và tiến theo quy trình. Khi làm như vậy, không thể có sáng tạo, sáng tạo bao giờ cũng chết ngay từ đầu. Quản lý nhà nước phải nâng đỡ đổi mới sáng tạo, theo kịp đổi mới sáng tạo và thúc đẩy vì phát triển”, ông Cung nói. (Baodauthau.vn 23/4, Việt Anh)Về đầu trang

Doanh nghiệp mong nhiều hơn chuyện giảm thuế

Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) giảm vài điểm phần trăm không quan trọng bằng việc các chi phí sản xuất kinh doanh hợp lý được chấp nhận khi tính thuế, mối quan hệ với cơ quan chức năng minh bạch, thực chất, thay vì phải lách bằng mọi cách như hiện nay.

Bà Đồng Như Anh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đào tạo và Tư vấn thuế Việt Nam (VTAX), đơn vị làm dịch vụ kế toán - thuế cho nhiều doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ nhận xét với thực tế đang xảy ra là không ít doanh nghiệp không có lợi nhuận để nộp thuế như hiện tại thì hiệu quả của việc giảm thuế không lớn, thậm chí không thiết thực.

Mối quan tâm của doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ lúc này là mức phí đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Tổng mức đóng cho ba khoản mục này tới 21,5% trên thu nhập thực nhận của người lao động, thêm 2% phí công đoàn, cao hơn nhiều nước trong khu vực, đang là một sức ép nặng nề với doanh nghiệp, “đánh thẳng” vào giá thành sản xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh.

Chị Lê Thị Hiền, người làm dịch vụ kế toán cho nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ tại TPHCM, cho biết trong 10 công ty chị biết thì có đến tám, chín nơi không có lợi nhuận để nộp thuế, hoặc nếu có thì con số cũng rất nhỏ. Nguyên nhân rất đơn giản là phần lớn doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ không có áp lực phải có lãi để làm đẹp hồ sơ vay vốn ngân hàng, kêu gọi đầu tư, lên sàn chứng khoán như doanh nghiệp lớn do phần nhiều kinh doanh bằng vốn tự có hoặc không đủ điều kiện về tài sản thế chấp... để vay.

Vì vậy, theo chị Hiền, giảm thuế TNDN với đối tượng này, mới nghe thì có vẻ là hỗ trợ nhưng thực tế không mang ý nghĩa gì.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan thì nhìn nhận, trong bối cảnh các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ trong thời gian qua luôn có thêm nhiều điều kiện nhiêu khê, đối tượng nhắm đến của chính sách không tiếp cận được thì đề xuất giảm thuế TNDN của Bộ Tài chính cũng đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên, với doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ, mối quan tâm không phải là thuế TNDN. Bởi lẽ, theo chính thống kê của Bộ Tài chính, chỉ 50% trong số doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay có đóng thuế. “50% còn lại, tôi chắc chắn phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ”, bà Lan nói.

Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ đang đối mặt với nhiều khó khăn. Chi phí đầu vào tăng liên tục và đang ngày càng trở nên rất cao nếu so với mặt bằng chung trong khu vực. Trong đó, đáng kể là chi phí lao động khi mức đóng bảo hiểm, công đoàn được doanh nghiệp phản ánh là vượt khả năng chịu đựng của họ.

Việc đóng bảo hiểm cao và đóng trên thu nhập thực nhận của người lao động có thể giúp ích cho người lao động khi về hưu, nhưng lại đang khiến doanh nghiệp không dám thuê mướn, không dám mở rộng công ty, không có động lực tăng lương, thêm việc làm...

Bên cạnh đó, đáng sợ hơn là các chi phí không chính thức, các loại phí không tên để “bôi trơn” bộ máy hành chính khổng lồ thường xuyên “chọc” vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Chị Nguyễn Tuyết Nhung, phụ trách tài chính một doanh nghiệp nhỏ ở quận 2, TPHCM cho rằng các quy định pháp luật về thuế không hợp lý và trao quyền lực quá lớn cho người thực thi. Theo đó, có rất nhiều khoản chi phí là hợp lý với doanh nghiệp, họ đã thực chi nhưng lại không được coi là hợp lệ với cơ quan thuế. Các quy định có thể được hiểu, diễn giải theo những cách khác nhau...

“Nhiều khoản không được đưa vào chi phí để tính thuế thì tất nhiên, doanh thu cũng không được kê khai đầy đủ. Đơn giản, đó là mối quan hệ hai chiều. Nếu Nhà nước tạo điều kiện thì doanh nghiệp sẽ trung thực. Còn nếu Nhà nước làm khó thì doanh nghiệp phải tính. Vì không tính thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ chết tại chỗ với tình hình cạnh tranh, chi phí các kiểu như hiện nay”, chị Nhung nói. Và đây cũng chính là lý do thực sự khiến các hộ kinh doanh không chuyển đổi thành doanh nghiệp dù được vận động, cam kết hỗ trợ thuế trong thời gian qua.

Bà Đồng Như Anh cũng đồng tình, nếu được minh bạch chi phí thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ tuân thủ tốt, không phải tìm mọi cách lách thuế như hiện nay.

Do vậy, theo bà Anh, để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ thực sự thì cần có những giải pháp tổng thể, giải quyết những khó khăn, những vấn đề chằng chịt phức tạp sâu bên trong chứ không đơn giản là giảm vài phần trăm thuế TNDN. Quan trọng không kém là các quyết sách phải thực sự đến được với đối tượng thụ hưởng, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận. Có như vậy, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ mới có cơ hội tồn tại, phát triển và lớn lên để đóng góp cho ngân sách. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 22/4, Minh Tâm)Về đầu trang

Nhận thức đúng vai trò của HĐND

Phiên họp vừa qua của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải kể, một Phó Chủ tịch HĐND tỉnh chia sẻ rất thật với bà rằng, về đến nhà, ông thường nói với vợ là rất run, rất lo. Bởi lẽ, HĐND biểu quyết thông qua các nghị quyết, chủ trương, chính sách, đề án... nhưng việc tham mưu, ký thông qua là Thường trực HĐND, là các Ban của HĐND.
Nếu 5 - 10 năm sau, các chủ trương được quyết định hôm nay có vấn đề gì xảy ra thì lại bảo HĐND thông qua chưa đủ cơ sở, chưa đủ thủ tục hay chưa đủ thuyết phục. Nếu chậm một ngày không thông qua vì HĐND xem xét kỹ quá, mất thời gian quá, thì lại ảnh hưởng tới chủ trương thu hút đầu tư của tỉnh.

Những nhận xét, câu chuyện thực tế của “người trong cuộc” như vậy, tiếc rằng, không phải là cá biệt. Sau những cuộc tranh luận kịch liệt suốt mấy chục năm trong lịch sử cải cách tổ chức bộ máy của Nhà nước, đã thí điểm lên thí điểm xuống về việc bỏ HĐND ở cấp này, cấp kia, nhưng cả về phương diện lý luận, khoa học và thực tế đều đã phải khẳng định HĐND là thiết chế không thể thiếu trong tổ chức chính quyền địa phương và chỉ có làm cho HĐND mạnh lên chứ không thể ngược lại. Hiến pháp năm 2013, tiếp đó là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã mạnh mẽ khẳng định vai trò, quyền lực không thể chối bỏ, không thể xóa mờ của HĐND với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương.

Những tưởng, sau Hiến pháp 2013, sau Luật Tổ chức chính quyền địa phương, những đề xuất có thể làm suy giảm vai trò, quyền lực của HĐND sẽ không có cơ hội xuất hiện nữa. Nhưng rõ ràng, không phải vậy.

Mới đây, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương lại tiếp tục đưa ra 3 đề xuất mà như đánh giá của các Ủy viên UBTVQH là rất “kỳ lạ”, “xoay như chong chóng”. Đề xuất đầu tiên là giảm số lượng đại biểu HĐND các cấp ở từng loại đơn vị hành chính từ 10 - 15%. Đề xuất thứ hai là giảm số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện từ 2 xuống còn 1. Và đề xuất thứ ba là, quy định 1 Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách thay vì 2 Phó Trưởng ban hoạt động chuyên trách như hiện hành.

Và lý do được nêu trong Tờ trình dự án Luật này đơn giản đến mức có lẽ cũng không thể đơn giản hơn được nữa. Như với việc giảm 1 Phó Chủ tịch HĐND các cấp, cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng, việc tăng số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là chưa phù hợp với tình hình tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương; việc quy định số lượng Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách đã làm tăng biên chế của chính quyền địa phương trong bối cảnh cả nước thực hiện Nghị quyết của Trung ương về tinh giản biên chế.

Nhiều Ủy viên UBTVQH phải ngạc nhiên mà nhận xét rằng, những đề xuất có thể làm đảo lộn cả tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương nhưng lại không dựa trên cơ sở, nguyên tắc, nguyên lý nào cả. Ngay cả việc “dựa” vào Nghị quyết của Trung ương về tinh giản biên chế thì đó cũng là lý do khiên cưỡng và đi chệch tinh thần của Nghị quyết này, bởi cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn toàn không chứng minh được việc giảm số lượng Phó Chủ tịch HĐND, giảm Phó Trưởng ban chuyên trách của HĐND thì quản lý nhà nước có hiệu quả hơn không, có được giám sát chặt chẽ hơn không.

Ở đâu có quyền lực ở đó phải có giám sát việc thực hiện quyền lực. Sức mạnh của chính quyền nhân dân thể hiện sinh động nhất, đậm đặc nhất chính là ở sự giám sát công khai, minh bạch của người dân đối với hoạt động của tất cả cơ quan, cá nhân trong bộ máy chính quyền. Phương thức quan trọng nhất để thực hiện quyền giám sát đó chính là thông qua HĐND. Nhưng làm thế nào để HĐND thực hiện được sứ mệnh đó khi mà các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của thiết chế này cứ luôn trong tình trạng nhăm nhe bị “đẽo” bớt như với 3 đề xuất kể trên? Và đến khi nào, cơ quan “gác cổng”, tham mưu cho Chính phủ về tổ chức, bộ máy nhà nước mới nhận thức đúng về vai trò, quyền lực của HĐND? (Đại Biểu Nhân Dân 23/4, tr2, Lam Anh)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Lãnh đạo Cơ quan chống tham nhũng Armenia bị cáo buộc tham nhũng

Cuối tuần qua, Cơ quan An ninh Quốc gia Armenia (NSS) có thông báo về việc ông Davit Sanasaryan - lãnh đạo Cơ quan Kiểm tra Nhà nước - đang bị cáo buộc về tội thiếu trách nhiệm, lạm dụng quyền lực trong việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có mối quan hệ thân thiết với mình.

Ông Sanasaryan là một đồng minh thân cận của Thủ tướng Nikol Pashinyan và là một nhà hoạt động trong phong trào biểu tình phản đối cựu Tổng thống Armenia Serzh Sargsyan (phong trào “Reject Serzh”), dẫn tới sự sụp đổ của Chính phủ cũ và khiến ông Serzh Sargsyan phải chính thức tuyên bố từ chức ngày 23/4/2018 (cách đây tròn 1 năm).

Kể từ khi lên nắm chính quyền (tháng 5/2018), Thủ tướng Pashinyan đã đặt cuộc chiến chống tham nhũng vào trọng tâm của chương trình nghị sự và chủ trương thu hút những người có cùng quyết tâm chống tham nhũng làm việc cho mình. "Chúng tôi đã tìm cách để tiêu diệt tận gốc nạn tham nhũng đã mang tính hệ thống ở Armenia" - ông Pashinyan nói với các nghị sỹ châu Âu hồi đầu tháng này.

NSS không cung cấp chi tiết về các cáo buộc tham nhũng đối với ông Davit Sanasaryan, tuy nhiên, trang tin tức điều tra Hetq có thông tin cho biết, vụ việc có liên quan đến công tác đấu thầu thiết bị lọc máu cho một bệnh viện công ở thành phố Vanadzor, phía Bắc Armenia.

Theo nguồn tin của Hetq, một người có tên Samvel Adyan, từng là nhân viên của Cơ quan Kiểm tra Nhà nước phụ trách việc mua sắm, đã có hành vi thay đổi các điều khoản đấu thầu để tạo thuận lợi cho một công ty có mối liên quan tới anh trai của mình.

Adyan và 2 nhân viên khác của Cơ quan Kiểm tra Armenia đã bị bắt giữ hồi tháng 2. Tuy nhiên, trong diễn biến mới của vụ việc, các cáo buộc cho rằng kế hoạch xuất phát từ ông Sanasaryan - người đứng đầu Cơ quan này.

Ông Sanasaryan hiện không bị bắt giữ, nhưng bị cấm rời khỏi đất nước. Ông tạm thời bị đình chỉ chức vụ. Song, người phát ngôn của Thủ tướng nói với Hãng thông tấn Armenpress rằng, ông Davit Sanasaryan không bị sa thải và Thủ tướng tin rằng ông vô tội.

Trong một cuộc họp báo sau khi bị cáo buộc tham nhũng, ông Sanasaryan cho biết, mình bị cáo buộc vì “có những người muốn tạo không gian cho tham nhũng chen vào”.

"Tôi muốn nói với những người đang giễu cợt tôi rằng, thậm chí ở dưới mồ, tôi cũng vẫn chiến đấu chống tham nhũng", ông Sanasaryan nhấn mạnh và cho rằng, mình là nạn nhân của một "trò chơi chính trị nội bộ". Nhiều người muốn ông rời khỏi vị trí này, bởi Cơ quan Kiểm tra Nhà nước thực sự là một bộ máy "thiện chiến", nơi có nhiều chức năng, quyền lực quan trọng.

Ông Sanasaryan cũng bày tỏ niềm tin Thủ tướng sẽ không theo đuổi một cuộc đàn áp chính trị chống lại mình.

Daniel Ioannisian, một nhà hoạt động, điều phối viên của Liên minh Công dân Hiểu biết cho rằng: “Nếu David Sanasaryan phạm tội, ông phải chịu trách nhiệm theo Luật Hình sự Armenia... Nhưng NSS không nên theo đuổi vụ việc này, bởi một cơ quan khác - Ban Điều tra Đặc biệt - mới là nơi xử lý các quan chức cấp cao". (Thanh Tra 23/4, Hoài Phương)Về đầu trang./.

 

More

Lượt truy cập: 12.039.809 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này