Bản tin cải cách hành chính ngày 08/8/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Nâng hạng chỉ số B1 cần sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương

2. Chuyển đổi số làm nền tảng xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Đồng Tháp đổi mới quy trình giải quyết thủ tục hành chính

4. Quảng Ngãi giảm nhiều đầu mối sau tinh gọn bộ máy

5. Hà Nội: Hoàn thành cơ bản việc sắp xếp các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Đến năm 2030: Kho bạc Nhà nước phát triển kho bạc số dựa trên công nghệ kỹ thuật số

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Chồng chéo luật gây khó khăn cho doanh nghiệp

8. Tránh bệnh thành tích trong tinh giản biên chế

TIN THẾ GIỚI

9. Nhật Bản hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử tại Việt Nam

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Nâng hạng chỉ số B1 cần sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương

Nhiệm vụ nâng xếp hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (chỉ số B1) là nhiệm vụ mới không chỉ đối với cơ quan được giao chủ trì - Bộ Tư pháp mà còn mới với tất cả các bộ, ngành, địa  phương, lại có phạm vi thực hiện rộng, thời gian gấp nên Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương đều lúng túng trong việc triển khai. Mặc dù vậy, Bộ Tư pháp đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động thực hiện nhưng điều quan trọng là rất cần sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương.

Theo số liệu mới nhất, Bộ Tư pháp đã nhận được 11 báo cáo của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, 35 báo cáo của 63 địa phương. Về cơ bản UBND các tỉnh, thành phố đã quan tâm, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để giảm chi phí tuân thủ pháp luật, nâng xếp hạng chỉ số B1. Cụ thể, một số bộ, ngành, địa phương đã thực hiện hoạt động rà soát, đánh giá các quy định pháp luật liên quan đến chi phí tuân thủ pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của bộ, ngành, địa phương mình. 

Đa số bộ, ngành, địa phương đều đã chú trọng triển khai các nhiệm vụ cải cách hành chính, trong đó thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính (TTHC) liên quan đến doanh nghiệp để giảm gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp, đơn giản hóa TTHC, giảm số ngày thực hiện TTHC liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh. Nhiều địa phương đã thực hiện công khai các TTHC trên Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh, thực hiện tốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 và đổi mới phương thức tiếp nhận, trả kết quả TTHC qua dịch vụ bưu chính, công ích.

Nhiều các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp về những khó khăn, vướng mắc doanh nghiệp gặp phải trong quá trình hoạt động. Nhiều địa phương đã phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tăng tường công tác nắm bắt thông tin, theo dõi hoạt động của doanh nghiệp để chủ động tháo gỡ kịp thời những khó khăn của doanh nghiệp, thiết lập và duy trì hoạt động của các diễn đàn đối thoại với doanh nghiệp, thiết lập đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh để tiếp nhận phản ánh và hướng dẫn giải đáp cho doanh nghiệp.  

Về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong thực thi công vụ, xử lý nghiêm minh các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trong thi hành pháp luật, công tác này được thực hiện theo Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp. Theo đó, nhiều bộ, ngành, địa phương đã kịp thời ban hành các văn bản về việc chấn chỉnh hoạt động thanh, kiểm tra đối với doanh nghiệp, yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật trong công tác thanh tra, kiểm tra.

Tuy nhiên, vì đây là nhiệm vụ mới nên hầu hết các báo cáo của địa phương về kết quả thực hiện vẫn còn mang tính hình thức, chung chung mà chưa đánh giá cụ thể kết quả thực hiện việc cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật trong phạm vi thẩm quyền của mình. Ngoài ra, qua theo dõi, tổng hợp hoạt động triển khai của địa phương có thể thấy, nhiều địa phương chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, dẫn đến công tác chỉ đạo, điều hành chưa thực sự hiệu quả. Một số địa phương giao khoán nhiệm vụ cho Sở Tư pháp, trong khi đây là hoạt động cần có sự trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc của UBND tỉnh, sự phối hợp giữa các sở, ngành có liên quan, đặc biệt là các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thông tin truyền thông…

Để bảo đảm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp nâng xếp hạng chỉ số B1, Bộ Tư pháp đề nghị các bộ, ngành và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình khẩn trương ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành, giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm vi địa phương hoặc thuộc lĩnh vực quản lý triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan, địa phương mình theo nội dung hướng dẫn ban hành kèm theo Công văn 1083 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn nâng xếp hạng chỉ số B1; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện, yêu cầu báo cáo kết quả, thực hiện chế độ thưởng phạt nghiêm minh trong thực thi nhiệm vụ này, kịp thời biểu dương điển hình làm tốt. Đồng thời, thực hiện cấp kinh phí, bố trí sắp xếp cán bộ để thực hiện các công việc trọng tâm của năm 2019. (Pháp Luật Việt Nam 8/8, Thục Quyên) Về đầu trang

Chuyển đổi số làm nền tảng xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử

Sự chuyển đổi số được đánh giá là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng, phát triển nền kinh tế số của một quốc gia, cũng như hướng tới phát triển Chính phủ điện tử một cách bền vững.

Trong phiên đối thoại trực tiếp với các doanh nghiệp tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định năm 2019, Chính phủ sẽ phê duyệt Đề án chuyển đổi số quốc gia. Đây là căn cứ quan trọng để tất cả các đơn vị nhà nước, các doanh nghiệp và cá nhân cùng góp sức cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết chuyển đổi số, xã hội số là trọng tâm của Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

Số hóa là bước đầu tiên, quan trọng nhất của việc chuyển đổi số. Việc thay đổi từ một chiếc điện thoại thông thường sang sử dụng điện thoại thông minh có kết nối Internet được gọi là số hóa trang thiết bị.

Việc người dùng sử dụng được mọi tính năng, liên kết từ điện thoại thông minh đến các hoạt động của đời sống được coi là chuyển đổi số trong phương thức sống.

Trong thời gian qua, quá trình chuyển đổi số diễn ra trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam như tài chính, giao thông, du lịch... Chính phủ, chính quyền các cấp đang nỗ lực xây dựng Chính phủ điện tử. Hiện tại cả nước có hơn 30 tỉnh, thành phố xây dựng thành phố thông minh với các nền tảng công nghệ mới.

Liên quan đến việc chuẩn bị hạ tầng cho chuyển đổi số quốc gia, trong thời gian tới, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ cùng các đơn vị liên quan, các nhà mạng viễn thông... đẩy mạnh phát triển 4G và chuẩn bị triển khai thử nghiệm 5G.

Mục tiêu đặt ra là đến năm 2020, muộn nhất là năm 2022, mỗi người Việt Nam đều có một điện thoại thông minh, mỗi hộ gia đình Việt Nam có đường cáp quang đến tận nhà.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết: “Chuyển đổi số mở ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam. Đây là sự thay đổi mang tính toàn diện của các tổ chức, doanh nghiệp. Hạt nhân của quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam là các doanh nghiệp công nghệ thông tin. Việc chuyển đổi số không cần nhiều cơ sở vật chất bởi cái chính là sự thay đổi tư duy."

Theo khảo sát của Công ty Cổ phần Tập đoàn IDC, năm 2018, có 90% các doanh nghiệp được khảo sát đã bắt đầu thực hiện chuyển đổi số với các bước khác nhau từ tìm hiểu, nghiên cứu cho tới triển khai thục hiện. Hơn 30% lãnh đạo các doanh nghiệp được khảo sát xem xét chuyển đổi số là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), chia sẻ: “Chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích như cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn nữa trong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời qua đó nâng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh của tổ chức."

Ông Trương Gia Bình cũng khẳng định trong thời đại công nghệ thông tin, để các doanh nghiệp tăng trưởng, có khách hàng, có lợi nhuận thì một phần rất lớn phụ thuộc vào sự chuyển đối số của các doanh nghiệp.

Nếu không chuyển đổi số, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thua về thứ bậc và sớm muộn gì, những doanh nghiệp không bắt kịp trào lưu, xu hướng chuyển đổ số sẽ phải ra đi. Điều này đồng nghĩa với việc trong cách mạng công nghệ lần thứ tư, chuyển đổi số không chỉ mang đến sự hội nhập, phát triển của doanh nghiệp mà còn là yếu tố việc sống còn của mọi doanh nghiệp.

Theo dự thảo Đề án số hóa, mục tiêu đặt ra là đến năm 2025, Việt Nam nằm trong Top 4 ASEAN về xếp hạng số hóa quốc gia với 80.000 doanh nghiệp công nghệ số.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “Việt Nam muốn đi đầu trong cuộc cách mạng số thì đầu tiên phải phổ cập điện thoại thông minh (smart phone) để đưa các ứng dụng đến người dân; cấp phép 4G, thử nghiệm 5G để tăng dung lượng; tăng sử dụng dữ liệu trên mỗi người dân; tăng chất lượng mạng di động băng rộng; thí điểm tiền trên di động (mobile money) cho phép khách hàng chuyển tiền, mua sắm thông qua tài khoản viễn thông sẽ giúp thanh toán điện tử đến được với mọi người dân, kích thích kinh tế để tăng trưởng."

Để thực hiện được mục tiêu đề ra, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng kiến nghị: "Để đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin từ Chính phủ đến các địa phương, phải đẩy nhanh phân bố ngân sách phải có hạng mục chi cho công nghệ thông tin. Hạt nhân triển khai công nghệ thông tin tại các địa phương phải giao cho Sở Thông tin và Truyền thông. Các doanh nghiệp viễn thông lớn sẽ đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin nền tảng và chính phủ sẽ thuê lại dịch vụ."

Theo dự kiến, Đề án chuyển đổi số quốc gia sẽ được công bố vào tháng 8/2019. Hiện tại, đã có nhiều bộ, ngành, địa phương cùng các chuyên gia công nghệ thông tin đề xuất những giải pháp để Việt Nam có thể chuyển đổi số thành công.

Các giải pháp được nêu ra tập trung đầu tiên vào việc xây dựng nền tảng thể chế cho các mô hình kinh doanh kinh tế số; việc sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật cho các ngành đang có nhiều mô hình kinh doanh mới như thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số...

Cải cách thể chế để thu hút đầu tư cho các công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, đầu tư thiên thần theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua bán sáp nhập doanh nghiệp công nghệ số.

Thứ hai, Việt Nam cần phát triển hạ tầng kết nối Internet bằng việc khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng phát triển dịch vụ Internet di động 5G, đầu tư mở rộng mạng lưới cáp quang tốc độ cao và tăng băng thông Internet quốc tế với việc xây dựng “xa lộ Internet” cho các dịch vụ nhiều người dùng (ví dụ dịch vụ hành chính công, dịch vụ y tế, giáo dục…).

Vấn đề tiếp theo là cần xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu khác; xây dựng chính sách, thể chế cho hoạt động thu thập, quản lý, kết nối, chia sẻ và thương mại hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia trên cơ sở bảo đảm an toàn dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân...

Về vấn đề kết nối dữ liệu, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thành Hưng cho biết dữ liệu hiện nay được coi là “dầu mỏ” nhưng nguồn dầu mỏ này chỉ phát huy tác dụng trong xây dựng Chính phủ số khi nguồn dữ liệu được xây dựng bài bản và quan trọng hơn là có kết nối với nhau.

Cuối cùng, yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử thành công là cần chuẩn bị nguồn nhân lực các chuyên ngành an ninh mạng, công nghệ thông tin, truyền thông, giải trí... để sẵn sàng cho quá trình chuyển đổi sản xuất và việc làm gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.

Nằm trong xu hướng chuyển đổi số toàn cầu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam ở hầu hết các lĩnh vực (thương mại, tài chính ngân hàng, giáo dục, y tế, du lịch, logistics, công nghiệp chế tác,…) đã bắt tay vào công cuộc cải tổ chính mình theo xu hướng chuyển đổi số.

FPT là một trong những tập đoàn công nghệ thông tin hàng đầu tại Việt Nam. Đại diện của Tập đoàn công nghệ FPT chia sẻ FPT là đơn vị tiên phong trong chuyển đổi số với việc cung cấp giải pháp cho Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, tham gia xây dựng thành phố thông minh, giao thông thông minh, y tế thông minh, giáo dục thông minh.

Nhằm chuẩn bị hạ tầng cho cuộc chuyển đổi số quốc gia, mới đây, Tập đoàn Công nghệ CMC đã giới thiệu hệ sinh thái hạ tầng mở C.OPEN cho doanh nghiệp nhằm tạo nền tảng kết nối, chia sẻ tài nguyên dữ liệu trên môi trường số.

Các hệ sinh thái hạ tầng mở đều hướng đến việc tạo ra nền tảng (platform) để liên kết các phần cứng kỹ thuật, phần mềm trên nền tảng Internet, hệ điều hành và các ứng dụng chạy trên các phần cứng đó.

Với hệ sinh thái hạ tầng mở C.OPEN, Tập đoàn CMC tin tưởng có thể giúp các doanh nghiệp kết nối với nhau, tạo thành hệ sinh thái khai thác và chia sẻ dữ liệu.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam cần nhiều hơn nữa các hệ sinh thái hạ tầng mở như thế, để tạo thành Digital Hub (tạm dịch là Trung tâm lưu trữ dữ liệu) cho các cơ quan, doanh nghiệp...

Trong mảng Fintech, Công ty ty tài chính FE CREDIT Việt Nam của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) đã ứng dụng nền tảng cho vay kỹ thuật số $NAP hoàn toàn tự động. Khách hàng được cung cấp quy trình cho vay hoàn chỉnh và khép kín, không cần đến sự can thiệp của con người, rút ngắn toàn bộ quá trình vay chỉ còn 10-15 phút và khách hàng được giải ngân tiền trong vòng vài giờ.

Ngoài ra, rất nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn như Viettel, Vietcombank, EVN… đều đã có những động thái tham gia tích cực công cuộc chuyển đổi số.

Trong tháng 8 này, Hiệp hội phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) sẽ tổ chức sự kiện Diễn đàn cấp cao Công nghệ thông tin, truyền thông (Vietnam ICT Summit 2019) để các chuyên gia quan sát hay đang tham gia thực hiện chuyển đổi số trong các tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm.

Tất cả những động thái của các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin đều hướng tới mục tiêu góp phần thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam và xây dựng nền kinh tế số vì một Việt Nam hùng cường trong tương lai không xa./. (VietnamPlus.vn 7/8, Ngọc Bích) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Đồng Tháp đổi mới quy trình giải quyết thủ tục hành chính

Để tiếp tục cải thiện chỉ số cải cách hành chính, năm 2019, tỉnh Đồng Tháp tăng cường đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo; quyết liệt trong khâu điều hành, chấn chỉnh hoạt động của cơ chế một cửa, một cửa liên thông; cải thiện tinh thần, thái độ phục vụ, kỷ cương công vụ trong quá trình tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính (TTHC).

Tỉnh đang chỉ đạo triển khai Đề án thí điểm chuyển giao các nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Đề án).

Giai đoạn 1 và 2 của Đề án được thực hiện tại Trung tâm Kiểm soát TTHC và Phục vụ hành chính công của tỉnh, sáu huyện, thị xã và 27 xã, phường. Giai đoạn 3 bắt đầu từ ngày 1-8, thực hiện tại Trung tâm Kiểm soát TTHC và Phục vụ hành chính công của tỉnh; bộ phận “một cửa” các huyện Tháp Mười, Cao Lãnh, Châu Thành, Lai Vung, Thanh Bình và TP Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự, xã Bình Hàng Trung (huyện Cao Lãnh), xã Thường Thới Hậu B (huyện Hồng Ngự).

Ngoài ra, bộ phận “một cửa” của xã Bình Hàng Trung (huyện Cao Lãnh) và Thường Thới Hậu B (huyện Hồng Ngự) tham gia hỗ trợ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, hỗ trợ các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; tiếp nhận và trả kết quả thực hiện các TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích, các TTHC theo mô hình hẹn giờ và thực hiện các TTHC tại nhà người dân. (Nhân Dân 8/8, PV) Về đầu trang

Quảng Ngãi giảm nhiều đầu mối sau tinh gọn bộ máy

Trong 4 năm, từ năm 2015 đến 2018, tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện cắt giảm được 1.424 biên chế, trong đó có 116 biên chế hành chính và1.308 biên chế sự nghiệp.

Theo báo cáo mới đây của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, sau 2 năm Nghị quyết số 18, 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, 04 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị và 01 năm thực hiện thí điểm xây dựng danh mục, bản mô tả vị trí việc làm, tổ chức bộ máy bên trong của các cơ quan, đơn vị được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đã đẩy mạnh thực hiện thí điểm kiêm nhiệm và hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND có chức năng, nhiệm vụ tương đồng cấp huyện (thí điểm 13/14 văn phòng cấp uỷ với văn phòng HĐND và UBND cấp huyện; 05/14 ban tổ chức cấp huyện với phòng nội vụ cấp huyện; 04/14 uỷ ban kiểm tra với thanh tra cấp huyện; thí điểm sáp nhập 02/14 Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện vào Ban Tuyên giáo Huyện ủy).

Bên cạnh đó, tỉnh cũng thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe tỉnh; xây dựng Đề án thống nhất Văn phòng Tỉnh ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy. Đã sắp xếp giảm 21 Ban Chỉ đạo, 14 Ban Quản lý dự án; thực hiện cơ bản mô hình Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND cấp huyện, cấp xã. Xây dựng phương án tổng thể sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã chưa đủ 2 chỉ tiêu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2019- 2021. Thực hiện bền vững mô hình 100% thôn, xóm, bản, tổ dân phố có chi bộ và đẩy mạnh khắc phục tình trạng trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố không phải là đảng viên. Đã thực hiện sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập vượt kế hoạch đề ra.

Cuộc họp Hội đồng nhân dân tỉnh mới đây cũng đã thông qua Tờ trình của UBND tỉnh đề nghị ban hành Nghị quyết Sắp xếp, sáp nhập, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, sau khi sắp xếp, sáp nhập 373 thôn, tổ dân phố và đổi tên 01 thôn, 02 tổ dân phố, tỉnh Quảng Ngãi còn lại 954 thôn, tổ dân phố (834 thôn, 120 tổ dân phố). Sau khi giảm 204 thôn, tổ dân phố, toàn tỉnh sẽ giảm được 715 người hoạt động không chuyên trách và 816 cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội ở thôn, tổ dân phố. Nhờ đó ngân sách tỉnh tiết kiệm được trên 20,8 tỷ đồng mỗi năm.

Tỉnh cũng thực hiện tốt việc xây dựng Đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức  trong các cơ quan hành chính khối Đảng, khối Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (100% các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập đã ược phê duyệt Đề án). Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã hành Quy định, Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị tỉnh, Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và thành lập Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị tỉnh. Thực hiện việc tinh giản và cắt giảm biên chế, đảm bảo theo lộ trinh đến năm 2021 giảm 10% theo kế hoạch đề ra. Tính trong 4 năm (2015 – 2018), tỉnh đã thực hiện cắt giảm 1.424 biên chế (biên chế hành chính là 116 và biên chế sự nghiệp là 1.308). (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 7/8, Dương Huệ) Về đầu trang

Hà Nội: Hoàn thành cơ bản việc sắp xếp các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp

Những năm gần đây, TP Hà Nội đã quyết liệt thực hiện chủ trương sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn bộ máy hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền TP.

Tinh gọn các cơ quan hành chính

Đến nay, có thể nói, bằng cách làm chủ động, bài bản và quyết liệt, TP Hà Nội đã đạt nhiều kết quả bước đầu tích cực trong việc thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về sắp xếp, tổ chức lại bộ máy chính quyền.

Ngay sau khi Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị T.Ư 6 khóa XII được ban hành, Thành ủy Hà Nội đã xây dựng kế hoạch với những nhiệm vụ cụ thể, giao cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

Trong nhiều phiên họp của Ban chỉ đạo Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế TP, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hoàng Trung Hải, Trưởng ban luôn yêu cầu các cấp, các ngành phải thống nhất nhận thức và hành động với quyết tâm chính trị cao, đổi mới, sáng tạo, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

Xác định việc sáp nhập, sắp xếp sẽ không đơn giản vì ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí việc làm, khó tránh khỏi tâm lý dao động, băn khoăn trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nên Thành ủy Hà Nội chủ trương thực hiện quyết liệt nhưng với bước đi thận trọng. Cùng với tuyên truyền, vận động, TP đã xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp để bảo đảm quyền lợi, tạo đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

“Với sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy, UBND TP, đến nay TP Hà Nội đã cơ bản sắp xếp, tinh gọn xong toàn bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc TP, được Trung ương và dư luận đánh giá cao”, Phó Giám đốc phụ trách Sở Nội vụ Hà Nội – ông Nguyễn Đình Hoa cho biết.

Cụ thể, TP đã hoàn thành sắp xếp tổ chức bộ máy 23 Sở và tương đương, sau sắp xếp giảm 1 cơ quan hành chính ngang Sở (cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo giải phóng mặt bằng), giảm 49 phòng (từ 208 phòng xuống 159 phòng), giảm 29 trưởng phòng, 120 phó trưởng phòng.

Đồng thời, thống nhất tổ chức 12 phòng chuyên môn tại 30 quận, huyện, thị xã; giảm 3 phòng Dân tộc tại các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, chuyển chức năng quản lý Nhà nước về dân tộc cho Văn phòng HĐND và UBND huyện. TP cũng thí điểm thành lập Đội Quản lý trật tự xây dựng đô thị trực thuộc UBND cấp huyện; kiện toàn, sắp xếp 102 Ban chỉ đạo thuộc UBND TP còn 28 Ban chỉ đạo, giảm 74 ban (72,5%).

Cùng với việc sắp xếp các cơ quan hành chính, UBND TP đã sắp xếp các đơn vị sự nghiệp tinh gọn, hiệu quả. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở giảm từ 401 đơn vị xuống 280 đơn vị, giảm 121 đơn vị (30,2%). Các đơn vị sự nghiệp công lập cấp huyện giảm từ 206 đơn vị còn 96 đơn vị, giảm 110 đơn vị (53,4%).

Cũng theo ông Nguyễn Đình Hoa, sau khi rà soát sắp xếp tổ chức bộ máy và biên chế, TP Hà Nội cũng đã phê duyệt xong toàn bộ đề án vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, làm cơ sở để các đơn vị rà soát, sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng quy chế, quy trình giải quyết công việc, nâng cao chất lượng đội ngũ, đảm bảo các cơ quan đơn vị sắp xếp sớm ổn định, đi vào hoạt động.

Cùng với đó, TP Hà Nội đã tinh giản được 1.141 biên chế công chức, chuyển 13.665 biên chế viên chức sang không hưởng lương ngân sách thông qua việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập sang tự chủ. Đồng thời, giải quyết nghỉ tinh giản biên chế 847 trường hợp theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.

Để đẩy mạnh tinh giản biên chế làm cơ sở cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức, UBND TP cũng đã hoàn thành xây dựng Cơ chế đặc thù khuyến khích đối tượng nghỉ tự nguyện tinh giản biên chế báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nội vụ nghiên cứu, xem xét. Ngày 31-8-2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 113/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về tinh giản biên chế, trong đó đã bổ sung 4/5 nhóm đối tượng tự nguyện tinh giản biên chế do TP Hà Nội đề xuất.

Sau khi rà soát sắp xếp tổ chức bộ máy và biên chế, TP cũng đã ban hành 23 Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Sở và tương đương, Quyết định hướng dẫn mẫu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các phòng chuyên môn thuộc 30 UBND quận, huyện, thị xã, theo nguyên tắc sắp xếp tinh gọn, nhưng đảm bảo đầy đủ, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước.

Quyết tâm cải cách tổ chức bộ máy hành chính của chính quyền TP Hà Nội đã giúp bộ máy hành chính tinh gọn, chủ trương quản lý đa ngành, đa lĩnh vực bước đầu đã đi vào ổn định. Kết quả này, bên cạnh chỉ đạo sát sao của Thành ủy, có thể nói đến sự quyết liệt của lãnh đạo UBND TP khi “chọn” Văn phòng UBND TP – nơi được coi là “khó” nhất, để sắp xếp giảm từ 12 phòng xuống còn 10 phòng chuyên môn. Từ “điểm nhấn” này, các cơ quan, đơn vị khác nhìn vào để xác định cần chủ động, bởi việc tinh giản, sáp nhập, sắp xếp là tất yếu. (Pháp Luật Xã Hội 8/8, Hải Lý) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Đến năm 2030: Kho bạc Nhà nước phát triển kho bạc số dựa trên công nghệ kỹ thuật số

Trong xu hướng phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đang nỗ lực từng ngày để hiện đại hoá công tác quản lý quỹ ngân sách nhà nước, hướng tới mô hình “kho bạc số” theo định hướng chiến lược phát triển KBNN giai đoạn 2021-2030. 

Thời gian qua, nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, KBNN đã tích cực, chủ động cải cách, hiện đại hóa một cách đồng bộ cả về cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin theo đúng định hướng Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo số liệu thống kê của KBNN, nếu như năm 2007, số lượng khách hàng của KBNN chỉ dưới 95 nghìn người thì đến năm 2018, KBNN đã phục vụ tới gần 120 nghìn khách hàng. Công tác thu ngân sách ngày càng hoàn thiện nhờ việc kết nối, trao đổi dữ liệu thu ngân sách nhà nước điện tử giữa cơ quan Thuế/Hải quan – KBNN- Ngân hàng thương mại. KBNN cũng mở rộng tài khoản chuyên thu, triển khai các hình thức thanh toán điện tử trong thu ngân sách nhà nước (Internet Banking, ATM, POS…). Đáng chú ý, KBNN cũng hướng tới tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế với việc cho phép giao dịch 24/5, giảm thời gian giao dịch xuống chỉ còn 5 phút/giao dịch. Đến nay, 98% thu ngân sách nhà nước đã được thanh toán qua ngân hàng, từ đó tập trung nhanh nguồn thu, tiết kiệm chi phí tổ chức thu.

Riêng về công tác chi, theo thống kê, số tiền chi thường xuyên kiểm soát qua KBNN ngày một tăng. Nếu như năm 2007, KBNN chỉ thực hiện chi thường xuyên khoảng 150 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2018 đã thực hiện chi thường xuyên hơn 850 nghìn tỷ đồng. Công tác chi ngân sách nhà nước tại KBNN luôn được kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định. Bình quân số từ chối thanh toán trong giai đoạn 2007-2018 là 149 tỷ đồng/năm. KBNN cũng đã từng bước đơn giản hoá quy trình kiểm soát chi, rút ngắn thời gian kiểm soát (chi đầu tư giảm từ 7 ngày xuống còn 3 ngày; chi thường xuyên chỉ còn 1 ngày). Đến nay, KBNN đang từng bước chuyển từ kiểm soát trước, thanh toán sau sang thanh toán trước kiểm soát sau.

“Đến nay, KBNN đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc cải cách quản lý tài chính công, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, minh bạch, khả năng kiểm tra, giám sát ngân sách và các hoạt động tài chính Nhà nước, trách nhiệm giải trình và chất lượng hoạt động quản lý tài chính vĩ mô của Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính”, ông Tạ Anh Tuấn, Tổng giám đốc KBNN khẳng định.

Năm 2019 – 2020 có ý nghĩa trong việc nhìn lại chặng đường 10 năm phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 cũng như xác định tầm nhìn, phương hướng cho chặng đường 10 năm tiếp theo. Những kết quả mà toàn hệ thống KBNN đã đạt được đến nay là tiền đề quan trọng để KBNN tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển KBNN giai đoạn 2021-2030.

Tổng giám đốc KBNN Tạ Anh Tuấn cho biết, tầm nhìn của KBNN đến năm 2030 là xây dựng kho bạc hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tổ chức bộ máy thống nhất với 3 trụ cột chính: Mô hình tinh gọn theo hướng mô hình kho bạc khu vực hoặc kho bạc 2 cấp; nâng cao chất lượng dịch vụ kho bạc, góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ và hướng tới hình thành kho bạc số.

Để làm được điều này, KBNN định hướng tiếp tục gắn kết chặt chẽ các khâu của quá trình phân bổ, thực hiện, quyết toán ngân sách nhà nước trên cơ sở liên thông dữ liệu điện tử; hoàn thiện cơ chế kiểm soát cam kết chi, kiểm soát chi nhằm củng cố quy trình chi tiêu ngân sách qua các khâu, vừa nâng cao hiệu quả quản lý tài chính – ngân sách, vừa góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính quốc gia.

KBNN cũng đặt mục tiêu nâng cao tính hiệu quả, chủ động của công tác quản lý ngân quỹ nhà nước và huy động vốn; qua đó, tối ưu chi phí liên quan đến phát hành và vay nợ của Chính phủ. Đồng thời, xây dựng một bộ “sổ cái” chung cho Chính phủ nhằm cải thiện tính minh bạch của thông tin, dữ liệu và rút ngắn thời gian lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước và báo cáo tài chính nhà nước.

Đáng chú ý, KBNN sẽ hình thành cơ sở dữ liệu tập trung và kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành, đơn vị liên quan; xây dựng và hoàn thiện nền tảng kho bạc số, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ của KBNN; phát triển kho bạc số dựa trên công nghệ kỹ thuật số; đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin. KBNN cũng sẽ hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và hiện đại hóa tổ chức bộ máy KBNN theo mô hình kho bạc khu vực hoặc kho bạc 2 cấp và phát triển đội ngũ cán bộ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu cải cách.

Góp ý cho Chiến lược phát triển KBNN giai đoạn 2021-2030, ông Mike Williams, Chuyên gia cố vấn ngân quỹ, IMF cho rằng, KBNN năm 2030 phải trở thành một kho bạc điện tử hoàn thiện trên mọi phương diện. Cụ thể, TABMIS được phát triển thành kho dữ liệu duy nhất tập trung toàn bộ thông tin tài chính của khu vực Chính phủ chung, được tích hợp với các phân hệ khác. Mọi đơn vị sử dụng ngân sách đều được tiếp cận hệ thống này. Bên cạnh đó, việc xử lý, giao dịch được số hoá, ghi nhận mọi bước của một giao dịch với các cơ chế kiểm soát điện tử đã thiết lập sẵn trong hệ thống. KBNN cũng cần xây dựng một TSA (Tài khoản Kho bạc tập trung) toàn diện tại Ngân hàng Nhà nước hợp nhất, tập trung toàn bộ nguồn lực quản lý ngân quỹ nhà nước, nhất là xây dựng quy trình thu ngân sách hiệu quả, dễ dàng, thuận lợi cho người nộp ngân sách nhà nước (lý tưởng nhất là qua một cổng điện tử duy nhất) và thu ngân sách được tập trung vào TSA ngay trong ngày.

Ông Tạ Anh Tuấn khẳng định, KBNN Việt Nam sẽ hoàn thiện mục tiêu, định hướng phát triển tài chính công nói chung và KBNN nói riêng cho giai đoạn tiếp theo, đảm bảo phù hợp với thông lệ tốt trên thế giới, tình hình thực tế của Việt Nam và xu hướng phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. (Hải Quan 8/8, Thùy Linh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Chồng chéo luật gây khó khăn cho doanh nghiệp

Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ để tạo môi trường thông thoáng cho đầu tư kinh doanh, tạo động lực mới cho sự phát triển của đất nước.

 Tuy nhiên, hiện tình trạng chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các quy định pháp luật vẫn tồn tại, gây khó khăn và phiền hà cho doanh nghiệp, đặc biệt là tác động rất lớn đến các dự án đầu tư, do không rõ các trình tự để thực hiện các thủ tục cũng như không rõ quan hệ của các đạo luật; làm mất thời gian, lỡ cơ hội đầu tư, làm tăng chi phí và rủi ro đối với hoạt động kinh doanh. Theo các chuyên gia, tình trạng này một phần bắt nguồn từ việc cát cứ quyền lực của các bộ, ngành. Tâm lý thêm quy định này, quy định kia “quyền anh, quyền tôi” để tăng quyền quản lý cho bộ, ngành mình mà không để tâm đến (hoặc bất chấp) sự xung đột với các quy định khác đã và đang diễn ra khá phổ biến.

Trước khi phiên họp chuyên đề của Chính phủ về công tác xây dựng pháp luật diễn ra hôm 5-8, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã báo cáo Thủ tướng về 20 điểm xung đột, chồng chéo của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, đấu thầu, như: xung đột về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án xây dựng nhà ở giữa Luật Đầu tư và Luật Nhà ở; xung đột về đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong dự án có sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất giữa Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và Luật Đất đai; xung đột về thủ tục giới thiệu địa điểm đầu tư, địa điểm xây dựng giữa Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Đầu tư; chồng chéo thủ tục xin phép chuyển nhượng dự án bất động sản giữa Luật Đầu tư và Luật Kinh doanh bất động sản; không thống nhất về quyền chuyển nhượng dự án bất động sản giữa Luật Đầu tư, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở và Luật Đất đai; có sự khác nhau về trình tự, thủ tục đầu tư dự án quy mô 5.000 tỷ đồng trở lên giữa Luật Đầu tư, Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Luật Xây dựng...

Trên đây mới chỉ là những điểm chồng chéo trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh và đất đai, vẫn chưa thể rà soát hay thống kê hết được những mâu thuẫn, chồng chéo của luật, văn bản dưới luật về hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước hiện nay. Ví dụ có đến 4 bộ cùng tham gia quản lý rau củ, thịt cá. Cụ thể: Bộ NN-PTNT, Bộ KH-CN kiểm tra, quản lý thực phẩm trong giai đoạn sản xuất hay nhập khẩu; Bộ Công Thương chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa thực phẩm lưu thông trên thị trường; Bộ Y tế chịu trách nhiệm về chất lượng y tế, chăm sóc sức khỏe người dân, hay tình trạng 7 bộ cùng quản cây xúc xích và chất thải rắn… Do vậy, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính trùng lặp, đi lại mất nhiều thời gian, nộp nhiều loại hồ sơ giống nhau cho các cơ quan nhà nước khác nhau, chi phí giao dịch tốn kém. Đã vậy, trong quá trình thực thi, doanh nghiệp phải tiếp nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra từ các cơ quan khác nhau nhưng lại có nội dung trùng nhau.

Về nguyên tắc, luật ban hành sau được ưu tiên so với luật ban hành trước, nhưng trên thực tế, bộ ngành nào khi giải quyết công việc cũng thường viện dẫn luật của bộ ngành mình. Việc xử lý của cơ quan thanh kiểm tra cũng thường thiếu nhất quán, cho nên vẫn còn hiện tượng né tránh, sợ sai, lo an toàn cho mình và đẩy khó khăn về phía người dân và doanh nghiệp.

Theo các chuyên gia, để giải quyết vấn đề này cần có giải pháp căn cơ. Cụ thể, cần có cơ quan độc lập tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện về thực trạng xung đột pháp luật, đưa ra các giải pháp cụ thể để sửa đổi trong các kỳ họp của Quốc hội. Đối với những đạo luật ban hành trong tương lai, cần giao cho các cơ quan có năng lực chuyên môn soạn thảo, tiến hành nghiêm túc và thực chất các khâu tham vấn, phản biện xã hội độc lập. Về phía Quốc hội, cần làm tốt khâu pháp điển hóa (hệ thống hóa các văn bản đã có sẵn) và rà soát một cách chặt chẽ hệ thống pháp luật hiện hành, bảo đảm tính hệ thống, thông suốt, không cắt khúc trong quá trình xây dựng pháp luật. Có như vậy, cải cách thể chế mới tạo ra được động lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. (Sài Gòn Giải Phóng 8/8, Hàm Luông) Về đầu trang

Tránh bệnh thành tích trong tinh giản biên chế

Thông tin từ UBND thành phố Hà Nội cho biết, 6 tháng đầu năm 2019, đã phê duyệt quyết định 107 người thực hiện chế độ tinh giản biên chế. Trong 107 người được tinh giản thì chỉ có 7 trường hợp thôi việc, còn lại là người nghỉ hưu trước tuổi. Tinh giản biên chế nếu vẫn chỉ dừng ở những trường hợp nghỉ hưu sớm làm sao đạt được mục tiêu gọn nhẹ bộ máy, cùng đó nâng cao chất lượng đội ngũ đã đặt ra.

Cần nhắc lại, 6 tháng đầu năm nay Hà Nội đã giảm được 107 biên chế. Trước đó, năm 2018, Hà Nội cũng đã tinh giản được gần 700 biên chế. Đây được xem là  một nỗ lực nhưng hiệu quả của công cuộc tinh giản này chưa cao. Chưa cao là bởi hiệu quả của tinh giản không dừng lại ở số lượng người đã giảm, mà mục tiêu của tinh giản biên chế là tìm ra được ai là công chức “cắp ô” trong nền công vụ. Vậy trong số 800 biên chế đã được tinh giản kia thì ai trong số họ là người không hoàn thành nhiệm vụ, năng lực kém?

Câu chuyện giảm biên chế chủ yếu là người sắp nghỉ hưu không phải chỉ xảy ra ở Hà Nội. Theo Bộ Nội vụ giai đoạn 2016-2018, cả nước chỉ giảm được 86.300 biên chế, trong đó giảm 12.400 công chức và 73.900 viên chức, người lao động. Trong đó, người về hưu, thôi việc ngay theo Nghị định số 108/2014 về chính sách tinh giản biên chế là khoảng 40.500 người. Trong số 40.500 biên chế được tinh giản theo Nghị định 108/2014 thì có 86,3% hưởng chính sách nghỉ hưu trước tuổi, số biên chế hưởng chính sách thôi việc ngay khoảng 13,5%, số biên chế chuyển sang khu vực không hưởng lương ngân sách chỉ khoảng 0,1%, và nghỉ đi học khoảng 0,07%! 

Như vậy, quá trình tinh giản biên chế vẫn phụ thuộc quá nhiều vào số người nghỉ hưu. Mới đây nhất, từ tháng 10/2018 đến ngày 30/6/2019 toàn quốc đã tinh giản được 1.015 người, bao gồm: Cơ quan đoàn thể 1 người, cơ quan hành chính 22 người; đơn vị sự nghiệp công lập là 285 người; cán bộ công chức xã là 57 người, số còn lại thuộc hợp đồng lao động chiếm cao nhất là 650 người và việc tinh giản vẫn theo lối mòn cũ: Chủ yếu tinh giản đối tượng về hưu trước tuổi mà không phải là đưa ra khỏi bộ máy những người hoạt động không hiệu quả.

Tinh giản biên chế, cần phải hiểu rằng đó không chỉ đơn thuần là đưa một số tỷ lệ nhất định ra khỏi đội ngũ, mà còn là việc thu hút những người có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực vào trong các cơ quan, tổ chức… qua đó bảo đảm nâng cao chất lượng đội ngũ. Và muốn đưa người yếu kém ra, thu hút người giỏi vào rất cần sự đánh giá chính xác nhất, nhưng đáng tiếc nếu trông chờ vào bản đánh giá chất lượng công chức cuối năm hiện nay chắc chúng ta sẽ chẳng tìm ra được ai là người không hoàn thành nhiệm vụ.

Vì sao chưa đánh giá đúng chất lượng cán bộ có lý do là nhiều nơi đã có đề án việc làm, nhưng trong thực tế triển khai vẫn phát sinh những nội dung mới cần linh hoạt điều chỉnh. Do đó, việc tinh giản biên chế phụ thuộc rất lớn vào cá nhân người đứng đầu, đòi hỏi họ phải nêu gương, đặt lợi ích chung lên trên; phải thực sự công tâm, trong sáng, gạt bỏ những lợi ích riêng, gạt bỏ mối quan hệ thân hữu. Nếu không vì lợi ích chung thì có thể dẫn đến việc tinh giản không đúng đối tượng. Hơn nữa, để bảo đảm công bằng, tránh những nghi ngại không đáng có, nên tổ chức kỳ thi tuyển minh bạch. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh sòng phẳng, ai đạt yêu cầu thì ở lại trong bộ máy để tiếp tục cống hiến, còn ai không bảo đảm yêu cầu thì ra khỏi bộ máy, tìm công việc khác phù hợp hơn với trình độ, chuyên môn của mình. Nói cách khác, để có bộ máy gọn nhưng tinh, cần vượt qua rào cản, cũng là khuyết điểm hiện nay là tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, vì lợi ích riêng.

Song cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về cải cách bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, hiệu quả; khẩn trương sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và quản lý biên chế. Từ đó, làm cơ sở pháp lý cho việc cải cách bộ máy hành chính nhà nước.

Tóm lại, tinh giản biên chế muốn hiệu quả là phải giảm đi những người thừa, để xác định được người thừa phải căn cứ vào vị trí việc làm. Không phải muốn cắt ở đâu, cắt thế nào cũng được, cắt bừa bãi sẽ dẫn tới tình trạng người làm được việc thì đi, người không làm được việc thì ở lại, hoặc chỉ tinh giản với đối tượng sắp nghỉ hưu để báo cáo thành tích. Nếu tinh giản vẫn theo kiểu đối phó, nặng về thành tích số lượng, sẽ không thể nâng cao chất lượng bộ máy được.               (Đại Đoàn Kết 8/8, Lục Bình) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Nhật Bản hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử tại Việt Nam

Chiều 7/8, Văn phòng Chính phủ Việt Nam, Văn phòng Nội các Nhật Bản và Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản (MIC) đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác về việc triển khai chính phủ điện tử tại Việt Nam.

Đại diện cho phía Việt Nam tại lễ ký kết là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, trong khi đại diện cho phía Nhật Bản là Bộ trưởng Nội vụ và Truyền thông (MIC) Masatoshi Ishida.

Theo biên bản này, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong việc xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam. Cụ thể, hai bên sẽ chia sẻ các kinh nghiệm trong việc xây dựng khung pháp lý, thể chế và các thực tiễn tốt nhất khác cho chính phủ điện tử; nâng cao năng lực của các bộ quản lý công nghệ thông tin và sử dụng hệ thống thông tin của chính phủ điện tử.

Bên cạnh đó, hai bên sẽ xem xét thúc đẩy hợp tác thông qua các phương thức như cử chuyên gia, tổ chức hội thảo, hội nghị và hội thảo đào tạo.

Cũng trong chuyến công tác tại Nhật Bản từ ngày 5 đến 7/8, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã gặp Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản; Chủ tịch Liên minh Nghị sỹ Hữu nghị Nhật-Việt; Chủ tịch Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời tham dự các hội thảo chuyên đề về cải cách hành chính, xây dựng chính phủ số.

Tại cuộc gặp với Chánh Văn phòng Nội các Suga Yoshihide, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết mục đích chuyến thăm Nhật Bản lần này của đoàn công tác Văn phòng Chính phủ là nhằm hiện thực hóa kết quả hội đàm giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản vào ngày 1/7/2019. Trong thời gian tại Nhật Bản, đoàn mong muốn tìm hiểu kinh nghiệm của Nhật Bản trong cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử hướng đến chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.

Bên cạnh đó, nhằm thúc đẩy quan hệ Việt-Nhật phát triển hơn nữa, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đề nghị Chánh Văn phòng Nội các Suga Yoshihide quan tâm thúc đẩy hợp tác giữa Văn phòng Chính phủ Việt Nam và Văn phòng Nội các Nhật Bản, triển khai có hiệu quả các thỏa thuận đạt được trong chuyến tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20 và thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; tăng cường giao lưu, trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tiếp tục hỗ trợ Việt Nam cải cách, nâng cao hiệu quả bộ máy hành chính, xây dựng chính phủ điện tử hướng đến chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.

Về phần mình, Chánh Văn phòng Nội các Suga Yoshihide bày tỏ mong muốn hợp tác với Văn phòng Chính phủ Việt Nam trên mọi lĩnh vực để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt-Nhật. Bên cạnh đó, ông cho biết Nhật Bản sẽ xem xét tích cực đề nghị của Văn phòng Chính phủ Việt Nam về việc cung cấp viện trợ không hoàn lại liên quan đến gói kỹ thuật trong xây dựng chính phủ điện tử.

Tại cuộc gặp với ông Nikai Toshihiro, Tổng Thư ký Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền, Chủ tịch Liên minh Nghị sỹ Hữu nghị Nhật-Việt, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng chúc mừng Nhật Bản đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh G20, đồng thời chia sẻ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất hài lòng về kết quả chuyến thăm, làm việc tại Nhật Bản và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20. Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng cảm ơn tình cảm và những đóng góp quý báu của ông Nikai Toshihiro cùng với các thành viên trong Liên minh Nghị sỹ Hữu nghị Nhật-Việt cho sự phát triển của Việt Nam và của quan hệ Việt-Nhật.

Về phần mình, ông Nikai Toshihiro nhấn mạnh quan hệ Việt-Nhật đang rất tốt đẹp, đồng thời cam kết sẽ đóng góp nhiều hơn nữa cho mối quan hệ giữa hai nước. Bên cạnh đó, với tư cách Tổng Thư ký LDP, ông bày tỏ mong muốn tăng cường giao lưu giữa LDP và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc gặp với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Toshiko Abe, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đã cảm ơn những đóng góp của Nhật Bản trong phát triển chính phủ điện tử tại Việt Nam. Để đưa quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước lên tầm cao mới, toàn diện và thực chất, Bộ trưởng đề nghị Bộ Ngoại giao Nhật Bản phối hợp chặt chẽ chuẩn bị cho các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo hai nước trong thời gian tới; tiếp tục thúc đẩy liên kết kinh tế, tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư; thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực cải cách hành chính, đào tạo cán bộ chiến lược... Trong khi đó, Thứ trưởng Toshiko Abe cho biết Nhật Bản sẽ tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật như đào tạo và hội thảo, hợp tác với Chính phủ Việt Nam để phát triển chính phủ điện tử tại Việt Nam.

Tại buổi làm việc với ông Sinichi Kitaoka, Chủ tịch Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ trưởng Mai Tiến Dũng khẳng định quan điểm của Chính phủ Việt Nam là luôn coi trọng và thực hiện nghiêm túc các cam kết về dự án ODA giữa hai nước trên cơ sở bảo đảm hiệu quả và phù hợp với lợi ích, luật pháp của hai nước. Bên cạnh đó, Bộ trưởng đề nghị JICA tiếp tục hỗ trợ Văn phòng Chính phủ cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử hướng đến chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; hỗ trợ chuyên gia tư vấn giỏi về lĩnh vực này và hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý 

Đáp lại, Chủ tịch JICA Sinichi Kitaoka nhấn mạnh Nhật Bản muốn tăng cường mối quan hệ hữu nghị với Việt Nam về mọi mặt. Đặc biệt, năm nay, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chính sách tiếp nhận thực tập sinh, lao động từ nước ngoài, trong đó Việt Nam là thị trường lao động nước ngoài đến Nhật Bản rất lớn./. (TTXVN 8/8, Đào Tùng-Bùi Hà) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.038.007 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này