Bản tin cải cách hành chính ngày 16/8/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Dịch vụ công trực tuyến là nền tảng xây dựng Chính phủ điện tử

2. Tham nhũng vặt như “tổ mối”, có thể làm vỡ con đê hùng vĩ

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Nét đẹp của cán bộ công chức Hà Nội - Kỳ 1: Phát huy sở trường ứng xử, linh hoạt trong ngôn từ

4. Bộ trưởng Thể mong Hậu Giang thí điểm Chủ tịch tỉnh đi làm bằng xe máy

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. BHXH Việt Nam ban hành Phần mềm Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra

6. Bộ Tài chính: Miễn, giảm nhiều loại lệ phí cho doanh nghiệp

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Không phân biệt văn bằng, chứng chỉ trong tuyển dụng

8. Công chức không nhận quà kể từ 15/8

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Chồng chéo luật

10. Nới hay thắt đăng ký doanh nghiệp?

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Dịch vụ công trực tuyến là nền tảng xây dựng Chính phủ điện tử

Năm 2019 được coi là năm bứt phá trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, Thủ tướng đã yêu cầu các cơ quan chức năng tập trung hoàn thiện thể chế, triển khai thử nghiệm và đưa vào vận hành một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử.

Trong đó, các cơ quan chính phủ, địa phương tập trung nguồn lực xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh... Việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến hoàn chỉnh được xem là khâu quan trọng trong chương trình cải cách hành chính làm nền tảng xây dựng Chính phủ điện tử.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết: Khi xây dựng các hệ thống chính phủ điện tử Việt Nam cần tuân theo 4 nguyên tắc: Thứ nhất là tương thích liên thông, thứ hai là có khả năng mở rộng, thứ ba là không trùng lắp tránh lãng phí và cuối cùng là vấn đề đảm bảo an toàn an ninh.

Mặt khác, khi xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử, các bộ ngành, địa phương cần đặt lên hàng đầu mục tiêu "sử dụng dịch vụ công một cách thuận lợi". Việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến mang lại nhiều lợi ích thiết thực, giúp các sở, ngành, địa phương, người dân và doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực thuận tiện hơn.

Do đó, tất cả các dịch vụ công đều hướng đến việc phục vụ người dân, việc thiết kế dịch vụ công phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, nội dung hiển thị phải dễ hiểu, dễ dùng, thuận tiện.

Sau hơn 3 tháng triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP, về một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2010, định hướng đến 2025, việc xây dựng Chính phủ điện tử tại các bộ, ngành, địa phương trong cả nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Trong đó, khung pháp lý đồng bộ về xây dựng Chính phủ điện tử từng bước được hoàn thiện; tháo gỡ được cơ chế đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin; các hệ thống thông tin quan trọng được nghiên cứu, xây dựng khẩn trương.

Có 10/16 nhiệm vụ được giao đã cơ bản hoàn thành, trong đó một số hệ thống có ý nghĩa trong quá trình triển khai Chính phủ điện tử đã được vận hành được như: Trục liên thông văn bản quốc gia phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước, thiết lập hệ thống thông tin phục vụ họp, xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet), một số nội dung lớn của Cổng Dịch vụ công quốc gia đang được tiếp tục hoàn thiện…

Đã có 100% các bộ, cơ quan ngang bộ và 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử; 100% các bộ, ngành và 32/63 địa phương ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 17/NQ-CP.

Các bộ, ngành, địa phương cũng đang nỗ lực xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh… Các bộ, ngành, địa phương đang triển khai nâng cấp hệ thống này, trong đó có một số đơn vị đã hoàn thành hoặc đang thử nghiệm như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương, các tỉnh Quảng Ninh, Đồng Nai, Tây Ninh...

Bộ Công Thương là đơn vị có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng báo cáo đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin năm 2018 (của Bộ Thông tin và Truyền thông). Trong 5 tháng đầu năm 2019, Bộ Công Thương đã xử lý hơn 672.800 bộ hồ sơ điện tử qua các cổng dịch vụ công trực tuyến (tương đương 99% tỷ lệ hồ sở xử lý);  kết nối 11 dịch vụ công trực tuyến với Cơ chế một cửa quốc gia.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết: Hiện nay, tất cả 292 thủ tục hành chính cấp Trung ương thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương đã được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 trở lên. Đã có gần 3.000 doanh nghiệp đăng ký sử dụng cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Công Thương.

Theo báo cáo đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc, năm 2018, Việt Nam xếp vị trí thứ 88/193 quốc gia, tăng 1 bậc so với năm 2017. Để đạt được kết quả này, nhiều tỉnh, thành phố đã triển khai hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu một cửa điện tử, giúp minh bạch hóa quá trình giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước.

Tại Thừa Thiên - Huế, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành và giải quyết công việc tại các cơ quan Nhà nước không chỉ giúp hiện đại hoá cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, mà còn tạo điều kiện nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công phục vụ cho người dân, doanh nghiệp. Tỉnh đã hình thành cơ bản các hệ thống thiết yếu phục vụ cho việc vận hành chính quyền điện tử, triển khai hệ thống phần mềm dùng chung, đặc biệt là hệ thống một cửa.

Tỉnh cũng chuyển đổi thành công mô hình phân tán qua mô hình tập trung về dịch vụ hành chính công. Thông qua đó, từ tỉnh đến xã đã triển khai được hệ thống thông tin dịch vụ công xuyên suốt, thống nhất, góp phần nâng cao tỷ lệ người dân tham gia sử dụng dịch vụ hành chính công...

Là địa phương nhiều năm đứng trong nhóm 10 các địa phương xếp hạng cao trong Báo cáo chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông, tỉnh Quảng Ninh có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng chính quyền điện tử cũng như khuyến khích sự tham gia sử dụng của người dân.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Duy Hậu chia sẻ: Sau 5 năm triển khai chính quyền điện tử, hệ thống công nghệ thông tin của tỉnh Quảng Ninh đã đáp ứng được nhu cầu điều hành của bộ máy và giao dịch dân sự giữa người dân với chính quyền hết sức bài bản.

Trong quá trình thực hiện Đề án xây dựng chính quyền điện tử, tỉnh Quảng Ninh đã tạo được môi trường làm việc liên thông, hiện đại và chuyên nghiệp, qua đó tiết kiệm được thời gian, chi phí, từng bước nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Quảng Ninh đang là tỉnh tiên phong đi đầu trong cả nước trong việc giải quyết văn bản liên thông 4 cấp từ Chính phủ đến cấp xã. Việc giải quyết các thủ tục hành chính tại các trung tâm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay theo phương châm 4 tại chỗ tức là việc tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt và trả kết quả đều tiến hành tại trung tâm.

Ngoài ra, việc cải cách các thủ tục hành chính đã giảm 50% - 60% thời gian để giải quyết, công khai minh bạch toàn bộ các thủ tục hành chính; đảm bảo nhanh gọn để không còn tình trạng nhũng nhiễu hoặc tiêu cực trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính từ cấp xã đến cấp tỉnh.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết tỉnh tăng cường công tác giám sát, kiểm tra đặc biệt là kiểm tra đột xuất không báo trước; rút kinh nghiệm theo từng quý để tìm ra cách vận hành hệ thống điện tử một cách tốt nhất.

Hoàn thiện hệ thống dịch vụ công là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đơn vị công nghệ thông tin, điều quan trọng nhất là khuyến khích người dân sử dụng các dịch vụ công. Về việc này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Huy Hậu khẳng định: "Việc làm này phải hết sức kiên trì". Điều đầu tiên là các cơ quan chức năng phải thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin trong đội ngũ cán bộ công chức và người dân; giúp người dân nắm rõ sự tiện lợi khi thao tác tốt công nghệ thông tin sẽ giúp giản tiện rất nhiều thời gian, công sức...

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh cũng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng Chính phủ điện tử, trong đó nhấn mạnh: Để thành công, lãnh đạo tỉnh phải có quyết tâm và tạo được sự đồng thuận cao trong cả hệ thống chính trị.

Ngoài ra, các địa phương cần triển khai đồng bộ hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến có hiệu quả, gắn liền với cải cách thủ tục hành chính, thành lập trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, huyện và bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã để tập trung, thống nhất việc giải quyết thủ tục hành chính.

Tiếp đến, việc phát triển hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông hiện đại phải đi trước một bước; tuyên truyền sâu rộng nâng cao nhận thức toàn thể cán bộ công chức, doanh nghiệp và người dân. Việc phát triển nhân lực cả về cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật vận hành, cán bộ công chức trực tiếp phục vụ người dân tại các Trung tâm phục vụ hành chính công, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đạị cần được quan tâm đào tạo, tập huấn và phát triển... (Baotintuc.vn 16/8, Ngọc Bích) Về đầu trang

Tham nhũng vặt như “tổ mối”, có thể làm vỡ con đê hùng vĩ

Chiều 15/8, khép lại phần trả lời chất vấn của các Bộ trưởng, trưởng ngành, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã phát biểu giải trình thêm một số vấn đề mà đại biểu quan tâm như: công tác xây dựng pháp luật, bố trí nguồn lực thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông…

Tại phiên họp, nêu câu hỏi chất vấn Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, đại biểu Nguyễn Thị Thủy – Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Tư pháp cho rằng trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã triển khai rất nhiều giải pháp để chống tham nhũng vặt, tuy nhiên, hiệu quả trên thực tế chưa có nhiều chuyển biến. Người dân vẫn rất bức xúc, nhất là những người dân có công việc liên quan đến các cơ quan công quyền.

“Đề nghị Phó Thủ tướng cho biết nguyên nhân chính của việc chưa cải thiện đáng kể tình trạng nêu trên là do đâu? Giải pháp quan trọng có tính đột phá mà Chính phủ sẽ tiến hành trong thời gian tới để chống tham nhũng vặt là gì?” – đại biểu Nguyễn Thị Thuỷ chất vấn.

Trả lời đại biểu, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho hay, bên cạnh công tác đấu tranh phòng chống đại án về kinh tế, tham nhũng thì chủ trương của Đảng, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, cũng như Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đều nhấn mạnh vấn đề này.

Phó Thủ tướng nhận định, tham nhũng vặt là tệ nạn gây bức xúc, nhức nhối trong xã hội và nhân dân; liên quan đến đạo đức công vụ của công chức, viên chức. “Tuy là tham nhũng vặt nhưng tác động của nó không hề vặt. Người ta ví con đê rất cao to, rất hùng vĩ có thể bị vỡ bất cứ lúc nào do những tổ mối rất nhỏ”, Phó Thủ tướng nói.

Theo Phó Thủ tướng, tham nhũng vặt làm băng hoại đạo đức của cán bộ công chức, viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, làm xói mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, làm tăng chi phí không chính thức của doanh nghiệp và người dân.

Vì vậy, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, chủ trương của Trung ương, Chính phủ đề ra nhiều giải pháp trong vấn đề này. Trước hết là hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế, đảm bảo thống nhất, rõ ràng không chồng chéo để vừa cản được sự tùy tiện trong thực thi pháp luật của cả người thực thi và cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định về quy trình trong thực thi công vụ, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai minh bạch, cố gắng ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công cấp độ 4. Mặt khác, theo Phó Thủ tướng, chúng ta cần hệ thống kiểm tra giám sát bằng công nghệ thông tin.

Cuối cùng, theo Phó Thủ tướng, cần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, trong công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm luân chuyển; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

“Trong vấn đề này phải đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, kể cả của người được cung cấp dịch vụ công và người cung cấp dịch vụ công là cán bộ công chức, viên chức. Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc và tổ chức Hội nghị toàn quốc. Chúng tôi nghĩ sắp tới sẽ tạo ra một số chuyển biến trong vấn đề này” – Phó Thủ tướng chốt lại.

Về công tác xây dựng pháp luật, Phó Thủ tướng cho biết, công tác này đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Đó là tình trạng trình còn chậm, một số dự án còn hạn chế, tình trạng rút dự luật giảm mạnh nhưng vẫn còn; tình trạng nợ đọng văn bản giảm mạnh nhưng vẫn còn... Đến nay, các bộ ngành còn nợ 18 văn bản, trong đó có 2 nghị định hướng dẫn 2 luật có hiệu lực từ 1/1/2018, 16 văn bản hướng dẫn các luật có hiệu lực từ 1/1/2019 và 1/7/2019.

Phó Thủ tướng chỉ ra các nguyên nhân cơ bản là chưa tuân thủ quy trình, trình tự theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; sự quan tâm chỉ đạo của một số tư lệnh ngành chưa sát sao. Ngoài ra, một số vấn đề chưa đánh giá kỹ khi xây dựng, thời gian cho phép ban hành ngắn, trong khi phần lớn là vấn đề khó, phức tạp nên soạn thảo còn khó khăn; sự phối hợp giữa các cơ quan trong bộ, liên bộ còn hạn chế...

Thời gian tới, Chính phủ sẽ chấp hành nghiêm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định: “Chính phủ sẽ cập nhật công khai rộng rãi tình trạng nợ đọng văn bản của các bộ, ngành”.

Ngoài ra, sẽ tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc của Chính phủ; tiếp tục sẽ tăng cường năng lực xây dựng, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành.

Làm rõ thêm về các chính sách, nguồn lực bố trí các chương trình phát triển dân tộc, dân số và miền núi, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ thông tin: “Về căn cơ, Chính phủ sẽ trình Quốc hội ban hành nghị quyết về chương trình mục tiêu quốc gia thứ ba về phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số và dân tộc miền núi, trong đó có riêng hợp phần cho dân tộc ít người và rất ít người. Chúng tôi hi vọng sẽ tạo ra chuyển biến tích cực, sẽ tích hợp 186 chính sách về dân tộc hiện tại thành một bộ chính sách trong chương trình mục tiêu quốc gia”./. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 15/8, Kim Thanh) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Nét đẹp của cán bộ công chức Hà Nội - Kỳ 1: Phát huy sở trường ứng xử, linh hoạt trong ngôn từ

Từ xưa, người Việt ta đã đề cao lời ăn tiếng nói như một phần rất quan trọng để đánh giá phong cách, đạo đức, thậm chí cả nhân phẩm của con người. Trong thời hiện đại, nét đẹp truyền thống ấy càng cần phải phát huy và nhân rộng. Bộ Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động TP Hà Nội sau hai năm được triển khai, áp dụng đã có những chuyển biến rất rõ.

Trong đó, ngôn từ ứng xử trong mọi hoàn cảnh của cán bộ công chức với nhân dân là một nhân tố hết sức quan trọng để lấy được sự hài lòng của nhân dân trước phong cách phục vụ vì dân của cả một thế hệ công chức mới.

Nở nụ cười thường trực trên môi, chị Đỗ Thị Quế, cán bộ của UBND phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm luôn miệng chào và đặt những câu hỏi rất chi tiết với những người dân đang có mặt tại bộ phận một cửa của phường.

Cơ thể nặng nề và chiếc bụng sắp đến ngày khai hoa nở nhụy đôi lúc khiến người dân nhìn chị thoáng e ngại, nhưng tác phong chuyên nghiệp, những lời nói đúng mực tạo cảm giác dễ gần khiến câu chuyện của chị với mọi người khiến nơi công sở như nhẹ nhàng, thoải mái hơn.

Tây Mỗ vốn là một phường mới, bắt nguồn từ quần thể làng xã truyền thống, thế nên các mối quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ họ hàng được đan xen rất chặt chẽ. Chính vậy nên lối xưng hô truyền thống là một đặc thù của cán bộ phường khi giao tiếp với bà con khi giải quyết công việc. Nhưng đôi khi chính những truyền thống ấy cũng gây những rắc rối nho nhỏ, khi mà “bất ngờ” bà con lên phường làm việc nhưng lại lạm dụng cái quyền là cô, bác trong nhà để sử dụng, chị Quế cho biết.

“Lúc ấy, người cán bộ phải sử dụng rất linh hoạt. Đành rằng quan hệ hàng xóm láng giềng, là cô, là bác, nhưng khi lên phường lại là mối quan hệ khác. Lúc ấy cán bộ bọn em là đại diện cho cơ quan để giải quyết công việc cho người dân, chứ không phải là con, là cháu làm theo những sai bảo của bề trên. Linh hoạt trong ngôn ngữ, đúng mực trong tác phong nhưng không đánh mất những tình cảm vốn có”, theo chị, đó là điều mà cán bộ công chức ở những địa bàn đặc thù như chị phải làm được.

Làm việc ở phường, chị thường xuyên tiếp xúc với nhân dân thuộc các đối tượng được bảo trợ, đối tượng chính sách. “Ở đây cũng có cái khó, cái dễ. Dễ là các cán bộ phường người địa phương đã đi trước, nắm hầu hết các tâm tư nguyện vọng của các bác, cũng gần như hiểu tâm tính, lối suy nghĩ của các bác nên khi gặp các bác bọn em không bị mắc nhiều.

Nhưng cũng có cái khó, khó vì hầu hết những bác thuộc diện chính sách đôi khi chưa thực sự hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Và cũng khó khi quần chúng nhân dân thuộc đối tượng được bảo trợ, lúc này, đôi khi những lời nói, những cử chỉ chuẩn mực lại chưa hẳn có tác dụng.” Chị cười vui vẻ, để giải quyết công chuyện, đôi khi các chị phải vận dụng hết “vốn liếng” trong ứng xử, phân tích để giải quyết công việc, cũng như lấy được sự hài lòng của dân.

Vừa ra khỏi bộ phận một cửa, chị Hương trú tại làng Miêu Nha, Tây Mỗ cho biết, chị ít lên UBND phường vì ít có việc phải đến đó. Trong tâm trí chị, suy nghĩ cán bộ UBND sẽ rất khó gần, hoặc ít nhiều sẽ khiến chị khó khăn trong việc xin xác nhận hoặc chứng thực. Nhưng hôm nay, thực tế lại hoàn toàn khác: “Em thấy mọi việc rất đơn giản và nhanh chóng. Các anh chị ở đây cũng gần gũi, nhiệt tình hướng dẫn em từng bước để em nộp hồ sơ cho đúng chuẩn. Em thực sự bất ngờ chị ạ”.

Còn bác L, 56 tuổi ở Tây Mỗ thì: Đa phần cán bộ ở UBND phường là con em của người dân trong làng, thế nên đến đây giải quyết công việc cũng thoải mái. Là cán bộ, nhưng họ đều có lối xưng hô rất biết trên, biết dưới. Mặc dù phải xếp hàng chờ đến lượt, nhưng bác L cũng không cảm thấy bức xúc vì: “Cán bộ đã giải thích ngay từ đầu, người nhà là lúc ở nhà, còn ở trên đây các cháu đại diện cho Nhà nước”.

Cuối giờ trưa, khi mà mọi người đã sắp đến giờ nghỉ thì Phó Chủ tịch UBND phường Tây Mỗ Trần Văn Hoàn mới có thời gian trao đổi với tôi. Anh cho biết, vừa đi cưỡng chế về sai phạm xây dựng về. Trao đổi về câu chuyện ứng xử trong công việc, anh cũng “đóng góp” tình huống anh vừa gặp.

Chuyện sai phạm trong xây dựng xảy ra là không hiếm ở các phường xã, nhưng để xử lý thì không hề đơn giản. Thời buổi tấc đất, tấc vàng, việc sai phạm cũng bởi do nhu cầu dân sinh, thế nhưng chính quyền thấy sai thì phải xử lý. Nhưng khi cùng các ban ngành xuống để thực thi thì anh Hoàn lại gặp đúng trường hợp… thân quen. Anh dí dỏm: “Mới nhìn thấy đoàn công tác xuống, chủ nhà bị cưỡng chế đã nhanh nhảu: Ôi, “thằng” Hoàn đấy à. Tao chơi với bố mày…”.

“Lúc đó phủ nhận quan hệ cũng không được, mà cũng không thể phủ nhận. Nhưng làm thế nào cho đúng mà lại không đánh mất tình cảm vốn được gìn giữ, vun đắp từ xưa và không được để mình trong mắt các bậc tiền bối trở thành “hư”, “láo”.. lại cũng là một câu chuyện khó xử.”

Thế nên anh Hoàn tạm dừng mọi việc, ra gặp chủ nhà, “cà kê dê ngỗng” tâm sự chuyện xưa, chuyện cũ một hồi. Khi ông đã thoải mái, buông xuống cái bức xúc của người bị “cưỡng chế”, lúc đó mới dần dần phân tích, chia sẻ về luật, về sai phạm và những việc các anh phải làm. “Phân tích cho họ hiểu, và khiến cho họ chủ động sửa chữa sai phạm là tốt nhất”, anh Hoàn nói.

Anh Hoàn cũng cho biết, công tác tại địa phương, chính tại nơi mình sinh ra và lớn lên thì không thể tránh khỏi việc va chạm với người nhà, người thân, người quen. Nhưng chính điều đó mới đòi hỏi cán bộ công chức phải phát huy sở trường trong ứng xử, linh hoạt trong ngôn từ.

“Thay bằng việc kiểm tra, mình có thể thay bằng từ xuống “thăm hỏi”. Thăm hỏi ở đây là vừa thăm, nắm bắt tình hình, hỏi để hiểu hết nguyện vọng, ước muốn của nhân dân để dễ bề giải quyết.” Và theo anh, cùng một công việc, nhưng khi thay từ ngữ đi một chút, mọi việc sẽ dễ dàng giải quyết hơn rất nhiều… “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam, vậy sao không dùng cái phong phú đó để mà lấy được sự dễ chịu của nhân dân trước khi thực thi nhiệm vụ…”. (Pháp Luật Xã Hội 15/8, Ngọc Dung) Về đầu trang

Bộ trưởng Thể mong Hậu Giang thí điểm Chủ tịch tỉnh đi làm bằng xe máy

Theo “Tư lệnh” ngành giao thông nếu tỉnh Hậu Giang xung phong thì "chúng ta có thể chọn làm thí điểm việc lãnh đạo, cán bộ đi xe máy, xe đạp và xe bus".

Tại phiên chất vấn ngày 15/8, đại biểu Nguyễn Thanh Thủy (Hậu Giang) nêu: Để tiết kiệm ngân sách, ách tắc giao thông, đặc biệt để thực hiện trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cấp, các ngành, có thông tin và dư luận cho rằng nên thực hiện theo mô hình chủ tịch tỉnh đi xe máy, giám đốc sở, ngành đi xe đạp, bộ trưởng đi xe buýt. Bà Thủy đề nghị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) cho biết, có nên thực hiện theo mô hình này không? Nếu thực hiện có giảm ách tắc giao thông không? Giải pháp nào để thực hiện khi hạ tầng giao thông không đồng bộ và rất yếu kém như hiện nay?

“Hoan nghênh” sáng kiến của đại biểu Thuỷ, Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể cho đây là đề xuất để nghiên cứu. Theo “Tư lệnh” ngành giao thông “nếu tỉnh Hậu Giang xung phong thì chúng ta có thể chọn làm thí điểm việc lãnh đạo, cán bộ đi xe máy, xe đạp và xe bus.

“Nếu mô hình ở Hậu Giang tốt thì nghiên cứu nhân rộng chứ không thể nào áp dụng đại trà ngay được”, Bộ trưởng Thể cho hay. (Tiền Phong 15/8, Luân Dũng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

BHXH Việt Nam ban hành Phần mềm Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra

Phần mềm Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra phiên bản 1.0. Phần mềm được triển khai nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động thanh tra, kiểm tra của Ngành, góp phần hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của ngành.

Tổng giám đốc BHXH Việt Nam vừa ký Quyết định số 999/QĐ-BHXH về việc ban hành Phần mềm Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra phiên bản 1.0. Phần mềm được triển khai nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động thanh tra, kiểm tra của Ngành, góp phần hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của Ngành.

Theo đó, Phần mềm Quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra phiên bản 1.0 thuộc bản quyền của BHXH Việt Nam, là một phần mềm trong hệ thống phần mềm ứng dụng của BHXH Việt Nam.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng phần mềm trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm hiện đại hóa công tác quản lý, giảm tải sử dụng văn bản giấy và sổ sách ghi chép tay; tiết kiệm thời gian cho cán bộ trong công tác báo cáo, tổng hợp; hỗ trợ các tiện ích để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thời công tác quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra được toàn diện, bao quát và đồng bộ hơn từ BHXH huyện, thị đến BHXH tỉnh và BHXH Việt Nam…

Phần mềm do Vụ Thanh tra - Kiểm tra phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí và hoàn thiện. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Quyết định này có hiệu lực chính thức kể từ ngày 8.8.2019. (Motthegioi.vn 15/8, Tuyết Nhung) Về đầu trang

Bộ Tài chính: Miễn, giảm nhiều loại lệ phí cho doanh nghiệp

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 47/2019/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, một số mức phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp đã giảm khá nhiều so với quy định hiện hành.

Cụ thể, lệ phí đăng ký doanh nghiệp (bao gồm: cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của DN) được giảm từ mức hiện hành từ 100.000 – 200.000 đồng/lần (tùy từng loại phí), xuống một mức chung là 50.000 đồng/lần.

Ngoài ra, phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp được giảm từ 300.000 đồng xuống còn 100.000 đồng/lần; Phí cung cấp thông tin doanh nghiệp theo tài khoản từ 125 bản/tháng trở lên giảm từ 5 triệu đồng/tháng xuống còn 4,5 triệu đồng/tháng.

Thông tư cũng quy định 5 đối tượng doanh nghiệp được miễn phí, lệ phí.

Cụ thể, doanh nghiệp bổ sung, thay đổi thông tin do thay đổi địa giới hành chính được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp.

Doanh nghiệp đăng ký giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh; chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

Doanh nghiệp thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

Trường hợp cơ quan nhà nước đề nghị cung cấp thông tin phục vụ quản lý nhà nước được miễn phí cung cấp thông tin doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp lần đầu.

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9/2019. (An Ninh Thủ Đô 15/8, Hà Loan) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Không phân biệt văn bằng, chứng chỉ trong tuyển dụng

Sáng ngày 15/8, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị tập huấn Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư 03/2019/TT-BNV ngày 14/5/2019 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

Dự và phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, Nghị định 161/2018/NĐ-CP đã có hiệu lực thi hành và đã được các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện. Để tiếp tục triển khai có hiệu quả, đồng bộ, thống nhất, bên cạnh những giải pháp cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính, cần tăng cường trao đổi, tập huấn để kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Tại Hội nghị, Vụ trưởng Vụ Công chức – Viên chức Trương Hải Long trình bày những điểm mới của Nghị định số 161/2018/NĐ-CP và Thông tư 03/2019/TT-BNV.

Theo đó, tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung 19 nội dung của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; 20 nội dung của Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và 05 nội dung của Nghị định số 68/2000/NĐ-CP.

Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã kịp thời thể chế hóa một số giải pháp được đề ra tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII; đồng thời đã nghiên cứu đổi mới công tác thi tuyển công chức, viên chức, thi nâng ngạch công chức theo hướng tổ chức thi thực chất, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đảm bảo mặt bằng chung về trình độ, năng lực của công chức giữa các bộ, ngành, địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch; đẩy mạnh phân cấp cho bộ, ngành, địa phương.

Theo ông Trương Hải Long, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP có nhiều điểm mới đáng chú ý. Điểm mới đầu tiên là đối với công tác tuyển dụng công chức, viên chức, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng không được đưa ra các điều kiện, tiêu chuẩn trái với quy định của pháp luật, không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập. Quy định này để đảm bảo phù hợp với Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Giáo dục đại học về việc không quy định phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, cơ sở đào tạo. Chế độ ưu tiên trong tuyển dụng được quy định theo hướng cộng điểm ưu tiên và áp dụng thống nhất giữa tuyển dụng công chức và tuyển dụng viên chức. Theo đó, điểm ưu tiên được cộng vào kết quả điểm thi tại vòng 2.

Bên cạnh đó, quy định nội dung, hình thức, quy trình thi tuyển và xét tuyển theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng trong công tác tuyển dụng, gắn thẩm quyền tuyển dụng với thẩm quyền sử dụng công chức, viên chức và theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Theo đó, việc tuyển dụng công chức, viên chức được tổ chức theo 2 vòng: vòng 1, thi trắc nghiệm trên máy vi tính; vòng 2, thi môn nghiệp vụ chuyên ngành.

Nghị định số 161/2018/NĐ-CP cũng phân cấp thẩm quyền tổ chức thi nâng ngạch công chức từ chuyên viên lên chuyên viên chính và tương đương trở xuống cho các bộ, ngành, địa phương. Các bộ, ngành, địa phương quyết định danh sách công chức, viên chức đủ tiêu chuẩn, điều kiện dự thi nâng ngạch và chịu trách nhiệm toàn bộ trong quá trình tổ chức các kỳ thi nâng ngạch công chức theo thẩm quyền. Quy định cụ thể đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện và phân cấp thẩm quyền tuyển dụng đặc cách công chức cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện. Quy định thống nhất thời gian tập sự đối với viên chức phù hợp với trình độ đào tạo của chức danh nghề nghiệp viên chức được tuyển dụng để đảm bảo thống nhất giữa các lĩnh vực sự nghiệp.

Đáng lưu ý, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã kịp thời tháo gỡ một số vướng mắc trong việc thực hiện chế độ thôi việc đối với viên chức; tiếp tục đẩy mạnh việc phân công, phân cấp cho bộ, ngành, địa phương quyết định hình thức thi, quyết định tuyển dụng công chức không qua thi tuyển…; đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tuyển dụng, nâng ngạch công chức, viên chức…

Đối với Thông tư số 03/2019/TT-BNV, ông Trương Hải Long cho biết, Thông tư được ban hành nhằm thực hiện các nội dung được Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ thực hiện tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP; đồng thời, rà soát để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các nội dung quy định trong các Thông tư do Bộ Nội vụ ban hành theo thẩm quyền trước đó có quy định liên quan đến việc tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức, thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập không còn phù hợp hoặc đã được quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP.

Tại Hội nghị, Bộ Nội vụ đã dành nhiều thời gian để các đại biểu trao đổi, giải đáp những bất cập, những vướng mắc cụ thể tại các bộ, ngành, địa phương khi triển khai thực hiện Nghị định số 161/2018/NĐ-CP và Thông tư số 03/2019/TT-BNV./. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 15/8, Phạm Thanh) Về đầu trang

Công chức không nhận quà kể từ 15/8

Ngày hôm nay, 16/8/2019, bước sang ngày thứ hai kể từ khi Nghị định 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực. Nghị định này được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành vào ngày 01/07/2019. quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.

Nghị định quy định chi tiết về việc tặng quà và nhận quà tặng. Với quy định về việc tặng quà, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn chỉ được sử dụng tài chính công, tài sản công để làm quà tặng vì mục đích từ thiện, đối ngoại và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Việc tặng quà phải thực hiện đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định của pháp luật. Cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị mình theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với quy định về việc nhận quà tặng, cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc phạm vi quản lý của mình.

Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định tại Điều 27 của Nghị định.

Người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định phải từ chối; trường hợp không từ chối được được thì phải báo cáo thủ trưởng cơ quan hoặc thủ trưởng cơ quan báo cáo lên cấp trên trực tiếp và nộp lại trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được quà tặng.

Điều 27 của Nghị định quy định về xử lý quà tặng trong trường hợp “không từ chối được”:

Đối với quà tặng bằng tiền, giấy tờ có giá thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp nhận, bảo quản và làm thủ tục nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Đối với quà tặng bằng hiện vật, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận, bảo quản và xác định giá trị quà tặng. Trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì đề nghị cơ quan chức năng xác định giá; tổ chức công khai bán quà tặng theo quy định của pháp luật; số tiền thu được phải nộp vào ngân sách trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán quà tặng.

Đối với quà tặng là dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục, thực tập, bồi dưỡng trong và ngoài nước, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể và quy định của pháp luật về xử lý tang vật trong các vụ việc vi phạm hành chính để quyết định xử lý theo thẩm quyền, hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng quy định phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho nhà nước. Cá nhân sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tùy theo tính chất, mức độ mà xử lý theo quy định. mà xử lý theo quy định. (Infonet.vn 16/8, Hiền Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Chồng chéo luật

Dư luận vừa qua đã ngỡ ngàng trước Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trước phiên họp chuyên đề của Chính phủ về công tác xây dựng pháp luật mới đây đã chỉ ra 20 điểm xung đột, chồng chéo của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, đấu thầu.

Theo đó, xung đột nổi cộm nhất có thể kể đến: Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án xây dựng nhà ở giữa Luật Đầu tư và Luật Nhà ở; qui định đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong dự án có sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất giữa Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu và Luật Đất đai...

Nhiều qui định chồng chéo khiến doanh nghiệp “không biết đâu mà lần” hiện diện trong các bộ luật khác nhau như: Thủ tục xin phép chuyển nhượng dự án bất động sản; quyền chuyển nhượng dự án bất động sản; trình tự, thủ tục đầu tư dự án quy mô 5.000 tỷ đồng trở lên...

Thực tế, chúng ta đang chấp nhận nghịch lý: Nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý một lĩnh vực với những điều luật chuyên ngành và những quy định riêng biệt. Hậu quả từ tình trạng chồng chéo, xung đột giữa các quy định pháp luật không chỉ gây khó khăn và phiền hà cho doanh nghiệp, mà còn là cơ hội cho nhũng nhiễu, tiêu cực.

Về nguyên tắc, luật ban hành sau được ưu tiên so với luật ban hành trước, nhưng trên thực tế, bộ, ngành nào khi giải quyết công việc cũng thường viện dẫn luật của bộ, ngành mình. Thế nên, tiêu cực đã xảy ra, doanh nghiệp nào “biết điều” thì cán bộ thực thi áp dụng theo điều luật có lợi, còn doanh nghiệp “không biết điều” thì áp dụng điều luật khó hơn. 

Không ít dự án đầu tư triển khai chậm tiến độ, thậm chí lỡ cơ hội đầu tư do không rõ các trình tự để thực hiện các thủ tục cũng như không rõ quan hệ của các đạo luật. Hoạt động kinh doanh cũng vì thế bị tăng chi phí và rủi ro.

Nguy hại hơn, khi các luật mâu thuẫn dẫn tới sự thiếu minh bạch, né tránh trách nhiệm vì sợ sai của cơ quan quản lý Nhà nước, mà đẩy khó về phía người dân và doanh nghiệp. Hệ quả là nhiều việc nhỏ nhưng vẫn phải đẩy lên cấp cao hơn giải quyết.

Một bộ luật được ban hành phải trải qua hàng chục lần dự thảo, từ cơ quan soạn thảo là các cục, vụ trong mỗi bộ, ngành, sau đó qua các lần đóng góp ý kiến của các chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp trong ngành, tiếp đó qua “bộ lọc” là Bộ Tư pháp kiểm tra, rồi các thành viên Chính phủ góp ý, sau đó các Ủy ban của Quốc hội có liên quan nghiên cứu thẩm tra tiếp rồi mới trình ra Quốc hội thảo luận, trước khi được thông qua.

Câu hỏi được đặt ra là vì sao nhiều điều luật cục bộ, chồng chéo, xung đột vẫn lọt qua quy trình làm luật chặt chẽ như vậy?

Theo các chuyên gia, lỗ hổng trên xuất phát từ hiện tượng cát cứ quyền lực, lợi ích nhóm của một số bộ, ngành. Tâm lý thêm quy định này, quy định kia để tăng quyền quản lý cho bộ, ngành mình mà không để tâm đến sự xung đột với các quy định khác đã và đang diễn ra khá phổ biến.

Vấn đề này chỉ giải quyết triệt để bởi một cơ quan độc lập tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện về thực trạng xung đột pháp luật, đưa ra các giải pháp cụ thể để sửa đổi trong các kỳ họp của Quốc hội. Đối với những đạo luật ban hành trong tương lai, cần giao cho các cơ quan có năng lực chuyên môn soạn thảo, tiến hành nghiêm túc và thực chất các khâu tham vấn, phản biện xã hội độc lập.

Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ để tạo môi trường thông thoáng cho đầu tư kinh doanh, tạo động lực mới cho sự phát triển của đất nước. Do vậy, hệ thống pháp luật hiện hành phải bảo đảm tính hệ thống, cụ thể, minh bạch, thông suốt, không cắt khúc trong quá trình xây dựng pháp luật. (Biên Phòng Online 15/8, Thanh Hằng) Về đầu trang

Nới hay thắt đăng ký doanh nghiệp?

Khi sửa Luật Doanh nghiệp 2014, Ban soạn thảo đã đề xuất sửa Điều 3 của Luật này theo hướng: “Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó, trừ thủ tục đăng ký doanh nghiệp”.

Thật ra, đây là một trong những sửa đổi tiến bộ, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và người dân theo điều 33, Hiến pháp 2013. Theo đó, “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Có một vấn đề về cách hiểu pháp luật ở đây.

Theo quy định của Hiến pháp thì người dân chỉ bị cấm kinh doanh trong những ngành nghề bị… cấm. Cụ thể, theo Luật Đầu tư 2014, thì có 6 ngành nghề kinh doanh bị cấm. Đó là: kinh doanh các chất ma túy; đầu tư kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật, kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã; kinh doanh mại dâm; mua, bán người hoặc mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; đầu tư kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên cơ thể con người.

Như vậy, một cách tường minh, ngoài 6 ngành nghề bị luật cấm kinh doanh nói trên, thì các ngành nghề khác mọi người được tự do kinh doanh. Tuy nhiên, vì có những ngành nghề kinh doanh không phải bất kể cá nhân, tổ chức nào cũng có đủ điều kiện triển khai. Vì vậy, Luật Đầu tư 2014 đã quy định về ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện.

Theo đó, Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Danh mục các ngành nghề đầu tư, kinh doanh đã từng được điều chỉnh từ 267 xuống còn 243 ngành, nghề hồi năm 2016.

Như vậy, có nghĩa là theo xu hướng chung, quyền tự do kinh doanh của người dân ngày càng được tôn trọng hơn. Nhiều cơ quan như VCCI, CIEM và các chuyên gia đang kỳ vọng đợt sửa Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư lần này sẽ thúc đẩy hơn nữa quyền tự do kinh doanh của người dân.

Công bằng mà nói, việc kiến nghị để thủ tục “đăng ký kinh doanh” không nằm trong các luật chuyên ngành là một đề xuất tốt trong xu hướng tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân. Việc tách bạch giữa quyền tự do kinh doanh hiến định của người dân và doanh nghiệp với việc cấp phép cho các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là việc cần thiết. Bởi quyền tự do kinh doanh của người dân phải là điều mà Nhà nước ghi nhận thông qua thủ tục đăng ký kinh doanh thông thoáng và chi phí thấp như đang diễn ra. Điều ấy cũng có nghĩa là, việc ghi nhận quyền tự do kinh doanh, hay cụ thể là quyền thành lập doanh nghiệp nên được đưa về một đầu mối thống nhất.

Còn việc cấp phép kinh doanh sẽ chỉ xảy ra đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Hiểu một cách nôm na, ai cũng có quyền thành lập doanh nghiệp và nhà nước phải có một cơ quan ghi nhận quyền ấy. Nhà nước không thể “ban phát” cho người này, người kia quyền tự do kinh doanh (thành lập doanh nghiệp) và chỉ có một động thái duy nhất là ghi nhận ý chí kinh doanh của một chủ thể. Còn việc doanh nghiệp ấy được thành lập ra, có đáp ứng được các quy định đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện hay không thì khi đó mới tuân theo luật chuyên ngành. Nói khác đi, khi doanh nghiệp được thành lập rồi, thì mới tính đến chuyện cấp phép hoạt động.

“Rắc rối” có lẽ đến từ Bộ Tư pháp khi bộ này nại ra những ngành nghề kinh doanh đặc thù như chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng... và cho rằng: việc thành lập doanh nghiệp đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, quy định rất cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập và đăng ký cho doanh nghiệp. Điệp khúc để “tăng cường hoặc phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước lại được đưa ra”.

Nhưng thực tế, Luật Chứng khoán cũng đã theo xu hướng mới là tách bạch quyền thành lập doanh nghiệp và cấp phép hoạt động. Ngân hàng cũng đã thông thoáng hơn trong thủ tục đăng ký kinh doanh. Bảo hiểm thì cũng không đến nỗi… Điều đáng nói có lẽ là một sự lo ngại khác. Bởi nếu tách bạch được quyền thành lập doanh nghiệp và cấp phép kinh doanh, thì những ngành, nghề như đấu giá, luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng… có thể trở nên phổ quát hơn khi ai cũng có quyền đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Đương nhiên, phải hiểu rằng không phải cứ thành lập doanh nghiệp là có thể kinh doanh được ngay. Một doanh nghiệp sau khi được thành lập, muốn hoạt động được trong các lĩnh vực có điều kiện thì ngoài việc phải đáp ứng được những điều kiện như pháp luật quy định, thì còn chịu sự “sàng lọc, kiểm tra” của thị trường.

Những lo ngại của Bộ Tư pháp về các vấn đề kỹ thuật lập pháp (như phải sửa đổi, bổ sung các quy định trong các luật chuyên ngành) hay chi phí xã hội… có lẽ cần phải được xem xét lại. Bởi nếu có những sửa đổi mà tạo thuận lợi hơn cho người dân, thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm”. Điều đáng nói, thay vì phải “đấu tranh” một cách quyết liệt để sửa đổi Điều 3 Luật Doanh nghiệp, thì ở dự thảo mới nhất, Bộ KH&ĐT lại giữ nguyên quy định tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp hiện hành.

Đành rằng tranh cãi giữa các bộ là khó tránh khỏi trong quá trình dự thảo các văn bản luật để trình Quốc hội, nhưng câu chuyện ở đây có lẽ không nằm ở những quan điểm khác nhau ấy. Mấu chốt vấn đề vẫn là câu chuyện “nhà nước và thị trường” mà chúng tôi sẽ trở lại khi có dịp. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 15/8, Đại Dương) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.037.518 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này