Bản tin cải cách hành chính ngày 30/1/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Tháng 6-2020, hoàn thành nhiệm vụ gửi nhận văn bản điện tử tại 4 cấp chính quyền

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội: Xây dựng chính quyền điện tử vì sự hài lòng, tin yêu của người dân và doanh nghiệp

3. Chính quyền điện tử TPHCM: Lấy người dân làm trung tâm phục vụ

4. Long An cần quan tâm cải cách hành chính, xây dựng ý thức phục vụ nhân dân

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Thận trọng khi sáp nhập sở, ngành

6. Cải cách hành chính: Những lát cắt “tiền tươi thóc thật”

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Ông Phan Đức Hiếu: Cải cách không phải là để báo cáo ai làm tốt, ai làm xấu

8. Đạo đức công vụ yếu kém sẽ gây hại rất lớn cho dân, cho nước

9. Xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới mục tiêu đổi mới phương thức làm việc

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Tháng 6-2020, hoàn thành nhiệm vụ gửi nhận văn bản điện tử tại 4 cấp chính quyền

Chính phủ đề ra kế hoạch phấn đấu đến hết năm 2020, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt 30%.

Về xây dựng Chính phủ điện tử, Nghị quyết của Chính phủ nêu rõ: Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ đặt ra của năm 2020 tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7-3-2019 của Chính phủ; đặc biệt khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ đã quá hạn; 100% cơ quan nhà nước công khai mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 100% các bộ, ngành, địa phương có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP) và triển khai biện pháp giám sát, điều hành an toàn, an ninh mạng tập trung.

Các bộ, cơ quan theo phân công khẩn trương trình Chính phủ ban hành các Nghị định trong quý I-2020 để hoàn thiện thể chế nền tảng của Chính phủ điện tử gồm: Thay thế Nghị định số 110/2004/NĐ-CP; quy định về định danh và xác thực điện tử; về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số; về bảo vệ dữ liệu cá nhân; về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Theo chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ các thủ tục hành chính cung cấp trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên Cổng Dịch vụ công các bộ, địa phương với Cổng Dịch vụ công quốc gia theo đúng lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (30% tổng số dịch vụ công/tổng số dịch vụ công trực tuyến năm 2020 và cứ mỗi năm tiếp tục tích hợp 20%).

Nghị quyết của Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đến tháng 6-2020 hoàn thành nhiệm vụ gửi nhận văn bản điện tử tại 4 cấp chính quyền, từng bước đưa vào vận hành Hệ thống thông tin tham vấn chính sách, Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và triển khai nhân rộng Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (E-Cabinet), Hệ thống thông tin quản lý văn bản điều hành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ… (Hanoimoi.com.vn 25/1) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Xây dựng chính quyền điện tử vì sự hài lòng, tin yêu của người dân và doanh nghiệp

Thời gian qua, thành phố Hà Nội tích cực xây dựng hạ tầng vận hành chính quyền điện tử, trở thành địa phương tiên phong tham gia Cổng dịch vụ công quốc gia, góp phần xây dựng chính phủ điện tử. Nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ đó được người dân, doanh nghiệp tin yêu, đánh giá cao.

Chị Trần Thị Minh Hải (ở 24 Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm) vui mừng chia sẻ sau khi đã làm xong thủ tục cấp bản sao trích lục hộ tịch tại UBND xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì): “Khi được hướng dẫn, tôi đã ở nhà đăng nhập các thông tin để nộp hồ sơ qua mạng internet nên giảm được thời gian đi lại, chỉ cần một lần duy nhất đến trụ sở UBND xã để lấy kết quả”.

Với anh Bùi Văn Hiệp (Công ty cổ phần Tư vấn quản lý dự án Việt Nam), việc đăng ký nộp hồ sơ trực tuyến cũng thật dễ dàng khi anh thực hiện thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. “Thao tác điền thông tin chỉ khoảng 10-15 phút là xong, bao gồm cả việc tải các tài liệu đính kèm là bản scan, ảnh chụp tài liệu gốc. Vì gần nhà nên tôi đã tự đến bộ phận “một cửa” của Sở Xây dựng Hà Nội lấy kết quả, còn nếu đăng ký trả kết quả tại nhà thì mình sẽ không phải đi lại lần nào, thật là tiện lợi”.

Tương tự, chị Chu Thị Ngọc Mai, nhân viên Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn hàng không Việt Nam đã nhiều lần làm dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho biết: “Ưu điểm của nộp hồ sơ qua mạng là nếu hồ sơ chưa đủ thì cán bộ sẽ phản hồi để mình bổ sung trực tuyến luôn chứ không phải đến tận nơi bổ sung như trước đây nộp bản giấy. Việc này giúp tôi tiết kiệm nhiều thời gian và công sức đi lại”.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức, việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến cũng mang lại nhiều thuận lợi. Anh Trần Việt Bắc, công chức bộ phận “một cửa” của UBND quận Hoàn Kiếm chia sẻ: “Đối với các hồ sơ nộp trực tuyến, chúng tôi kiểm soát nhanh và chính xác hơn, hạn chế được các sai sót của công dân về việc khai thông tin”. Trong khi đó, Phó Chánh Văn phòng, Trưởng bộ phận "một cửa" của UBND quận Hai Bà Trưng Nguyễn Thùy Dương khẳng định: “Hệ thống “một cửa” điện tử thành phố dùng chung 3 cấp có nhiều điểm ưu việt, thể hiện rõ sự công khai, minh bạch, quy trình giải quyết. Qua hệ thống, từ cấp thành phố đến cấp quận, cấp phường đều kiểm soát được từng khâu giải quyết hồ sơ nên cán bộ, công chức luôn có ý thức làm tốt phần việc của mình. Từ khi thực hiện đến nay, tỷ lệ giải quyết hồ sơ hành chính của quận Hai Bà Trưng đạt 99,9%”.

Cùng với việc triển khai chính quyền điện tử, các quận, huyện, thị xã đã sáng tạo triển khai nhiều mô hình “tổ dân phố điện tử”, “khu chung cư điện tử” để hình thành những “công dân điện tử”. Trong năm 2019, cuộc thi “Tìm hiểu dịch vụ công trực tuyến” được tổ chức trên địa bàn thành phố với hơn 867 nghìn lượt bài dự thi cho thấy dịch vụ công trực tuyến đã thu hút sự quan tâm của đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và người dân. Theo Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Lê Hồng Sơn: “Tìm hiểu dịch vụ công trực tuyến” đã tạo thành cuộc vận động lớn trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân Thủ đô, góp phần xây dựng công dân điện tử, chính quyền điện tử".

Quyết tâm thực hiện của các cấp chính quyền và sự hài lòng của các tổ chức, công dân đối với ứng dụng tiện ích của công nghệ thông tin cho thấy thành phố Hà Nội đang đi đúng hướng, với hiệu quả mang tính thực chất, sâu rộng…

Theo Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung, Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử thành phố Hà Nội, từ năm 2016 đến nay, thành phố đầu tư mạnh cho việc xây dựng hạ tầng của chính quyền điện tử. Hiện có 4 cơ sở dữ liệu nền tảng về dân cư, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm đã được hoàn thành và 2 cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức và đất đai đang được tích cực xây dựng. Toàn bộ quy trình về thủ tục hành chính, dịch vụ công của Hà Nội đều tuân thủ các quy chuẩn quốc gia và sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương mà vẫn bảo đảm về bảo mật dữ liệu theo quy định. Đặc biệt, từ tháng 12-2019, 7 dịch vụ công trực tuyến của thành phố đã được tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia, gồm: Thông báo hoạt động khuyến mãi; đổi giấy phép lái xe do ngành Giao thông - Vận tải cấp; cấp chứng chỉ hành nghề y dược; cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; cấp bản sao trích lục hộ tịch; đăng ký khai sinh.

Có kết quả nêu trên là nhờ quá trình triển khai nghiêm túc, bài bản của các cấp chính quyền, cơ quan, đơn vị trong những năm qua. Tại các cuộc họp của Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử thành phố Hà Nội, với vai trò Trưởng ban Chỉ đạo, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung luôn yêu cầu các ngành thành viên tập trung thực hiện các nội dung nhằm bảo đảm xây dựng chính quyền điện tử hiệu quả, hướng tới người dân.

Trưởng phòng Cải cách hành chính (Sở Nội vụ Hà Nội) Phạm Tuấn Anh cho biết, thành phố đã hoàn thành kết nối mạng WAN đến 584/584 xã, phường, thị trấn; kết nối mạng hệ thống tin học của UBND thành phố với mạng truyền số liệu chuyên dùng của Chính phủ, thực hiện liên thông các hệ thống thông tin, ứng dụng phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xuyên suốt đến thành phố; bảo đảm duy trì mạng thông tin điện tử, chia sẻ dữ liệu giữa Thành ủy, HĐND, UBND thành phố. Đến nay, thành phố đã phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đến cấp huyện và cấp xã phục vụ yêu cầu giải quyết công việc và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho công dân và doanh nghiệp. Về cơ bản, 584 xã, phường, thị trấn đã được trang bị máy tính, máy in, máy quét để triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4.

Đáng chú ý, toàn thành phố có 1.448 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4, trong đó có 239 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Đến nay, số lượng hồ sơ tiếp nhận trên Cổng dịch vụ công và hệ thống “một cửa” điện tử thành phố đạt hơn 2,2 triệu hồ sơ. Riêng thủ tục liên thông đăng ký khai sinh đang vận hành trên hệ thống “một cửa” điện tử dùng chung đạt tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến là 74%. Đặc biệt, sau hơn một năm thành phố Hà Nội triển khai hệ thống “một cửa” điện tử thành phố dùng chung 3 cấp trong giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính (từ ngày 17-11-2018), dịch vụ công trực tuyến đã khẳng định rõ sự ưu việt.

Từ những kết quả đạt được, thành phố Hà Nội tiếp tục đặt ra những mục tiêu phấn đấu để nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. “Hà Nội sẽ hoàn thành nhiệm vụ kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Sắp tới, Hà Nội sẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Thành phố quyết tâm xây dựng nền hành chính lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm phục vụ, làm thước đo chất lượng cải cách hành chính”, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung nhấn mạnh. 

Quá trình củng cố, vun đắp niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, của xã hội cũng chính là quá trình bảo đảm cho con đường phát triển thêm bằng phẳng, thuận lợi. Đó chính là dòng chảy cuộc sống, là yêu cầu đặt ra từ thực tiễn của việc xây dựng chính quyền điện tử trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung… (Hanoimoi.com.vn 26/1, Hiền Thu) Về đầu trang

Chính quyền điện tử TPHCM: Lấy người dân làm trung tâm phục vụ

TPHCM đang nỗ lực xây dựng Chính quyền điện tử, tập trung ứng dụng công nghệ thông tin, tạo chuyển biến ngay trong chính nội bộ các cơ quan nhà nước cũng như trong việc cung cấp dịch vụ công tới người dân, doanh nghiệp. Sau hơn một năm thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, kết quả bước đầu cho thấy nhiều dấu ấn trong sự kết nối ngày càng tiện lợi giữa người dân và chính quyền.

Qua một năm triển khai Kiến trúc Chính quyền điện tử, đồng thời với thực hiện chủ đề năm 2019 về đột phá cải cách hành chính, TPHCM đã có bước đột phá nhất định trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến và một cửa điện tử. Hiện nay, TPHCM cung cấp 1.070 dịch vụ công trực tuyến (mức độ 3: 826 dịch vụ; mức độ 4: 244 dịch vụ). Các sở - ban - ngành, UBND quận - huyện đã triển khai hệ thống một cửa điện tử, ISO điện tử giúp lãnh đạo hoàn toàn có thể giám sát được tình trạng xử lý hồ sơ của đơn vị, biết được nguyên nhân trễ hạn thông qua báo cáo tổng hợp tự động qua phần mềm và tin nhắn. TPHCM cũng đã triển khai hệ thống một cửa điện tử quản lý hồ sơ đất đai tại Trung tâm dữ liệu của TPHCM.

Trong nhiều ngành, lĩnh vực cụ thể, nhiều thông tin đã được cung cấp cho người dân thông qua cổng thông tin hoặc ứng dụng trên điện thoại di động. Cụ thể như: Trong lĩnh vực giao thông, cổng thông tin giao thông cung cấp trực tuyến cho người dân các thông tin liên quan về tình hình giao thông, các tiện ích trong quá trình tham gia giao thông theo thời gian thực. Ở lĩnh vực giáo dục, TPHCM triển khai Cổng thông tin điện tử ngành giáo dục với hơn 1.660 website thành viên của các đơn vị giáo dục. TPHCM đã thử nghiệm Cổng thông tin công khai các dịch vụ giáo dục. Trong lĩnh vực y tế, TPHCM triển khai Cổng thông tin của ngành y tế, cung cấp nhiều chuyên mục thuộc các lĩnh vực khám chữa bệnh, y tế dự phòng, cải cách hành chính; người dân có thể tra cứu trực tuyến về giấy phép, phạm vi hoạt động chuyên môn của cá nhân người hành nghề và cơ sở y tế. Trong lĩnh vực chống ngập nước, thành phố đã triển khai Cổng thông tin Hệ thống thoát nước thành phố. Qua đây, người dân có đầy đủ các thông tin về ngập lụt, khí tượng thủy văn... nhằm giúp chủ động ứng phó để giảm nhẹ thiệt hại do ngập lụt gây ra. Ở lĩnh vực quy hoạch, TPHCM triển khai ứng dụng Thông tin quy hoạch TPHCM, trong đó đã cung cấp dưới dạng bản đồ hình ảnh các thông tin quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, quy hoạch cao độ nền với quy mô trên toàn địa bàn thành phố, cung cấp dưới dạng dữ liệu số các thông tin quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, quy hoạch cao độ nền tại khu vực trung tâm hiện hữu thành phố (930ha), Thủ Thiêm, quận 12 và quận Thủ Đức.

Các mô hình quận, huyện trực tuyến, Cổng thông tin tiếp nhận và giải đáp thông tin cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp (1022) được triển khai rộng rãi cũng đã mang lại sự thuận lợi cho sự tương tác giữa người dân, tổ chức với các cơ quan nhà nước, cũng như tạo điều kiện tốt hơn để người dân, tổ chức tham gia giám sát, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng chính quyền.

Kiến trúc Chính quyền điện tử thành phố đóng vai trò định hướng và đồng bộ hóa các ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố. Cấu phần quan trọng trong Kiến trúc chính quyền điện tử là nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu dùng chung - nền tảng quan trọng để đảm bảo tích hợp, liên thông các hệ thống thông tin ở TPHCM. Từ đó, phát huy trách nhiệm và tính chủ động của thủ trưởng các sở, ngành, chủ tịch UBND quận, huyện trong việc triển khai xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Trong thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, Chính quyền TPHCM tập trung chuyển đổi mạnh mẽ trạng thái ứng dụng CNTT của bộ máy chính quyền thành phố, đáp ứng các mục tiêu chiến lược của một đô thị thông minh. Quá trình chuyển đổi thực hiện từng bước để đến năm 2025, TPHCM đồng bộ, liên thông cho các hệ thống thông tin, khai thác tối đa công nghệ mới và nguồn lực xã hội để phục vụ cho phát triển, phục vụ cho người dân và doanh nghiệp. Thành phố phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của người đứng đầu trong triển khai xây dựng chính quyền điện tử nhưng vẫn đảm bảo tính đồng bộ, liên thông, kết nối của hệ thống…  

Chặng đường xây dựng Chính quyền điện tử TPHCM còn tiếp tục đến năm 2025 với rất nhiều công việc phải tập trung thực hiện. Trước mắt, trong năm 2020, TPHCM tập trung hoàn thiện thể chế, nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo Kiến trúc Chính quyền điện tử TPHCM, thực hiện nhanh quá trình chuyển đổi số để xây dựng chính quyền số.

Để chuẩn bị cho các nhiệm vụ trọng tâm nêu trên, TPHCM vừa ban hành Quy chế tích hợp và vận hành Kho dữ liệu dùng chung để tạo hành lang pháp lý tích hợp các cơ sở dữ liệu hiện có của thành phố về Kho dữ liệu dùng chung; đồng thời, nghiên cứu xây dựng phương án kết nối cơ sở dữ liệu hiện có của thành phố với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành. Việc tổ chức khai thác Kho dữ liệu dùng chung nhằm phục vụ công tác quản lý, điều hành của thành phố, đồng thời cung cấp các tiện ích khai thác dữ liệu hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Một thông điệp chắc chắn rằng, dữ liệu dùng chung là nguồn lực, là tài sản quý giá của thành phố. Chính quyền TPHCM sẵn sàng mở ra các kênh chia sẻ dữ liệu, thông tin giúp người dân và doanh nghiệp sử dụng hiệu quả, tạo ra giá trị gia tăng. Bằng cách tích hợp và sẻ chia dữ liệu dùng chung, chúng ta cùng tiếp cận, khai thác để phát huy thế mạnh và cùng đóng góp cho sự phát triển của TPHCM.

Thực hiện Kiến trúc Chính quyền điện tử trên địa bàn TPHCM gắn bó chặt chẽ với xây dựng TPHCM trở thành đô thị thông minh, TPHCM triển khai một cách thống nhất và đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, nhằm thực hiện quá trình chuyển đổi số, hướng đến xây dựng chính quyền số và đáp ứng các mục tiêu chiến lược của TPHCM về phát triển thành một đô thị thông minh. Qua đó, hỗ trợ hiệu quả các chương trình đột phá của thành phố, đặc biệt là chương trình cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Xuyên suốt hành trình triển khai thực hiện chính quyền điện tử, TPHCM không ngừng đột phá cải cách hành chính nhằm chạm đến trái tim người dân, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là thước đo cho hiệu quả của việc thực hiện. Trong từng lộ trình, việc triển khai xây dựng Chính quyền điện tử TPHCM cũng đều nhất quán lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; việc cải tiến quy trình nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước cho liên thông với nhau cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng là để phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách tốt nhất. (Sggp.org.vn 24/1, Nguyễn Thành Phong) Về đầu trang

Long An cần quan tâm cải cách hành chính, xây dựng ý thức phục vụ nhân dân

Dịp Tết Canh Tý, đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ đã tới thăm, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền, LLVT và nhân dân tỉnh Long An. Cùng dự có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Lãnh đạo tỉnh Long An đã báo cáo một số kết quả nổi bật về phát triển kinh tế-xã hội, công tác xây dựng Đảng của tỉnh trong năm 2019. Theo đó, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 9,41%, GRDP bình quân đầu người đạt gần 73 triệu đồng/năm, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng công nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ, nông-lâm-thủy sản, tổng thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 18.000 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,5%, hộ cận nghèo còn 2,7%...

Đồng chí Trương Hòa Bình ghi nhận và biểu dương những nỗ lực của tỉnh Long An trong thời gian qua. Đồng thời, đề nghị tỉnh cần lưu ý đẩy mạnh phát triển các dự án giao thông trọng điểm, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước với chất lượng cao hơn, chú trọng xây dựng các khu đô thị mới, đô thị thông minh, bảo vệ môi trường. Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ cũng lưu ý Long An quan tâm cải cách hành chính, tập trung xây dựng bộ máy hành chính thân thiện, thủ tục thông thoáng, xây dựng ý thức phục vụ nhân dân; tiếp tục giữ gìn an ninh biên giới, chăm lo cho những người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới. (Qdnd.vn 29/1, Anh Long) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Thận trọng khi sáp nhập sở, ngành

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết: Tính đến ngày 6/1/2020 đã có 15/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi văn bản về Bộ Nội vụ đăng ký thí điểm việc sáp nhập, hợp nhất một số sở, ngành có nhiệm vụ, chức năng tương đồng. Việc sáp nhập các sở ngành sẽ được làm một cách thận trọng, tránh những sự xáo trộn không đáng có.

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân hiện một số địa phương đã gửi đăng ký về việc sáp nhập sở ngành tại địa phương mình. Cụ thể, đối với cấp tỉnh, Quảng Ninh và Yên Bái đăng ký thí điểm hợp nhất Sở Nội vụ với Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Đắk Nông đăng ký hợp nhất Thanh tra tỉnh với Ủy ban Kiểm tra; Yên Bái và Đắk Nông đăng ký hợp nhất Sở Giao thông với Sở Xây dựng.  Một số tỉnh đã thực hiện hợp nhất như Lào Cai hợp nhất Sở Giao thông với Sở Xây dựng; Bạc Liêu hợp nhất Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học - Công nghệ với Sở Giáo dục và Đào tạo; Hà Giang hợp nhất Ban Tổ chức với Sở Nội vụ, Thanh tra với Ủy ban Kiểm tra.

Đối với cấp huyện, tỉnh Ninh Bình đăng ký hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND, thực hiện tại 1 huyện của tỉnh. Tỉnh Tiền Giang đăng ký hợp nhất Ban Tổ chức với Phòng Nội vụ, thực hiện tại 6 huyện; Ủy ban Kiểm tra với Thanh tra huyện, thực hiện tại 4 huyện.

Đến nay, việc hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND đã thực hiện xong tại 35 huyện thuộc 14 tỉnh, thành phố gồm: An Giang, Điện Biên, Nam Định, Yên Bái, Hải Phòng, Trà Vinh, Hải Dương, Bình Phước, Hà Nam, Cần Thơ, Vĩnh Long, Phú Yên, Thái Bình, Hà Giang. Hợp nhất Ban Tổ chức với Phòng Nội vụ được triển khai tại 32 huyện thuộc 6 tỉnh, thành phố gồm: Quảng Ninh, Điện Biên, Nam Định, Yên Bái, Hải Phòng, Hà Giang. Hợp nhất Ủy ban Kiểm tra với Thanh tra huyện tại 30 huyện thuộc 4 tỉnh: Quảng Ninh, Điện Biên, Yên Bái, Hà Giang.

Lạng Sơn và Sơn La sáp nhập Phòng Dân tộc với phòng Lao động-Thương binh và Xã hội tại 4 huyện. Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Sơn La sáp nhập Phòng Y tế với Văn phòng HĐND và UBND tại 14 huyện. Bắc Kạn, Quảng Ninh sáp nhập Phòng Dân tộc với Văn phòng HĐND và UBND tại 5 huyện.

“Đối với tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, Bộ Nội vụ vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ có văn bản trình Bộ Chính trị xin chủ trương một lần nữa để Chính phủ sớm ban hành 2 nghị định sửa đổi Nghị định 24/2014/NĐ-CP và 37/2014/NĐ-CP (về khung cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện). Tinh thần là chỉ sửa đổi, bổ sung, một số điều của hai Nghị định, tức là đưa ra khung số lượng cấp phó các đơn vị, về tiêu chí thành lập đối với các sở đặc thù, tiêu chí thành lập đối với các phòng bên trong sở” - Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân nói.

Đối với việc sắp xếp thí điểm hợp nhất giữa các cơ quan tham mưu giúp việc của Đảng và cơ quan chuyên môn của Nhà nước cũng như việc sáp nhập 3 văn phòng, việc sáp nhập các cơ quan chuyên môn, theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục gửi văn bản yêu cầu các địa phương đăng ký để trình Chính phủ xây dựng nghị quyết, chọn tối thiểu 20% đơn vị hành chính của cấp tỉnh thực hiện thí điểm. Tinh thần chung là phải làm hết sức cẩn thận, kỹ lưỡng. Thời gian qua, Chính phủ chậm ban hành sửa đổi, bổ sung hai nghị định này là vì Thủ tướng và Chính phủ hết sức thận trọng. Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho biết thêm, đồng thời khẳng định, làm thí điểm nhưng phải đảm bảo khả năng thành công khoảng 80%.

Góp ý kiến vào vấn đề sáp nhập các sở, ông Phạm Văn Hòa - ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp kiến nghị: Trong việc bố trí các sở, ngành (cấp tỉnh) và phòng, ban (cấp huyện), phải xem xét tới đặc thù của mỗi vùng, miền chứ không phải giao cho từng tỉnh, thành quyết định. Phân tích rõ hơn, ông Hòa cho rằng, trong vùng miền phải không có sự chênh lệch, nếu chênh lệch thì nhiều lắm cũng chỉ 2 đến 3 sở chứ không thể để mỗi nơi có sự tùy tiện khác nhau.

Ủng hộ chủ trương sáp nhập sở, ngành để gọn bộ máy, tinh giản biên chế nhưng vấn đề này cần được làm thận trọng, khách quan - nguyên Phó Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Lê Quốc Cường nói. Theo ông Cường thời gian qua, việc hợp nhất các cơ quan, tổ chức có chức năng nhiệm vụ tương đồng nhau là đúng nhưng vừa qua một số nơi lại đưa ra các ví dụ không tương đồng. Như việc nhập cơ quan tổ chức của cấp ủy vào cơ quan Nội vụ gọi là cơ quan tổ chức nội vụ, nhìn chung nhân sự và chức năng nhiệm vụ vẫn thế chỉ bớt đi được 1 lãnh đạo. Nhưng vấn đề là cơ quan này là cơ quan tham mưu của Đảng hay cơ quan chuyên môn của UBND là thì chưa trả lời được. Vì vậy, sau một thời gian thí điểm sáp nhập đã phải tạm dừng. Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ lưỡng và làm một cách khoa học, tránh trường hợp nhập rồi nhưng không hiệu quả rồi lại tách sẽ gây ra những xáo trộn không đáng có. (Daidoanket.vn 30/1, Nguyên Khánh) Về đầu trang

Cải cách hành chính: Những lát cắt “tiền tươi thóc thật”

Những lát cắt thủ tục hành chính đã tạo ra “tiền tươi thóc thật” cho doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí cho nền kinh tế.

Nhân dịp đầu Xuân Canh Tý 2020, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) Mai Tiến Dũng, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng có cuộc trao đổi với báo chí về kết quả quá trình thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính những năm qua.

Quá trình này được đánh dấu từ Quyết định số 1642/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 19/8/2016, về việc thành lập Tổ công tác của Thủ tướng. Một nhiệm vụ trọng tâm của Tổ công tác là thực hiện quyết tâm cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh. Đến nay, gần một nhiệm kỳ đã qua.

Sau khi được thành lập, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, đến tháng 7/2017, trên cơ sở tiếp cận với các hiệp hội và ngành hàng, Tổ công tác bắt đầu đi sâu vào việc kiểm tra, đôn đốc, đi sâu vào cắt bỏ các điều kiện kinh doanh.

Trong ba năm qua, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác đã tiến hành trên 70 cuộc kiểm tra tại 24 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 20 địa phương, trong đó có nhiều bộ, cơ quan, địa phương được kiểm tra từ 2-3 lần.

“Và đến nay cải cách trong nhiệm kỳ này cũng là đột phá”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đánh giá.

Tính đến nay Chính phủ đã ban hành 22 nghị định cắt giảm điều kiện kinh doanh với tổng số 3.645/6.191 điều kiện kinh doanh; cắt 6.776/9.926 thủ tục chuyên ngành và đã bỏ 30/120 bộ thủ tục hành chính liên quan kiểm tra chuyên ngành qua cắt giảm, đơn giản hóa.

Một lượng lớn những lát cắt thủ tục hành chính được tiến hành như trên đã tạo ra “tiền tươi thóc thật” cho doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí cho nền kinh tế, và có thể lượng hóa được.

Cụ thể như khi Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá về cải cách năm 2018, chi phí thông quan trực tiếp tại cửa khẩu cho một lô hàng đã giảm được 19 USD; ước tính với 12 triệu tờ khai của năm 2018, doanh nghiệp tiết kiệm được trên 200 triệu USD, tương đương với hơn 4 nghìn tỷ đồng thủ tục thông quan. Cùng đó, việc cải cách thủ tục hành chính cũng đã góp phần tiết kiệm được trên 17 triệu giờ lưu kho đối với 5,8 triệu tờ khai xuất khẩu khi giảm từ 58 giờ xuống 55 giờ; tiết kiệm được trên 37 triệu giờ lưu kho đối với 6,2 triệu tờ khai nhập khẩu…

“Thời gian qua chúng ta đã cải cách rất quyết liệt. Đây là những điểm được đánh giá tốt. Các chỉ số xếp hạng về môi trường kinh doanh và các tổ chức quốc tế đều đánh giá cao cải cách của Việt Nam”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nói.

Tuy vậy, Bộ trưởng Dũng nhìn nhận: “Tôi cho rằng mong muốn của người dân, doanh nghiệp là rất đúng, rất chính đáng. Chúng ta đã cải cách rất nhiều nhưng để khẳng định đáp ứng được kỳ vọng của người dân doanh nghiệp hay chưa thì tôi cho rằng thực sự là chưa”.

Theo ông, cải cách cả một quá trình, nhiều vấn đề ăn sâu, tạo ra những bó buộc từ xây dựng thể chế, chính sách. Cải cách là việc phải làm thường xuyên nên không có gì nản lòng. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vẫn đang quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương quyết tâm thực hiện.

Để việc rà soát, cắt giảm quy định, thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành ngày càng thực chất, hiệu quả, ông Dũng cho biết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch cắt giảm các quy định liên quan đến hoạt động doanh nghiệp giai đoạn 2020-2025, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc khi ban hành một văn bản mới phải bãi bỏ một văn bản cũ và phải giảm chi phí thực hiện.

Bên cạnh đó là tạo đột phá trong cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành theo hướng điện tử hóa, hướng tới hải quan điện tử, phù hợp chuẩn mực quốc tế; phát huy hiệu quả kênh thông tin tiếp nhận phản ánh, kiến nghị để kịp thời tháo gỡ vướng vắc, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. (Bizlive.vn 26/1, Thế Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Ông Phan Đức Hiếu: Cải cách không phải là để báo cáo ai làm tốt, ai làm xấu

Trao đổi với Người Đồng Hành nhân dịp đầu năm mới, ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhìn nhận các động thái cải cách môi trường kinh doanh, gỡ bỏ rào cản cho doanh nghiệp năm 2020 là rất khác biệt. Quyết tâm cải cách mang tinh thần, phương pháp được các tổ chức quốc tế đề xuất song mục tiêu là phục vụ lợi ích thực sự của quốc gia chứ không phải chỉ để thăng hạng.

- Tiếp nối tinh thần cải cách mạnh mẽ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp những năm qua, ngay từ đầu năm mới 2020, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 02 về cắt bỏ những rào cản kinh doanh, xúc tiến thành lập tổ công tác đặc biệt của Thủ tướng về cải cách... Ông nhìn nhận như thế nào về những động thái này?

- Năm nay, quyết tâm cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, rào cản kinh doanh cho doanh nghiệp từ Chính phủ được thể hiện bằng những hành động rất mạnh mẽ, khác biệt so với trước. Khác với việc tổ chức một hội nghị phát động toàn quốc sau nghị quyết như năm 2019, từ sau Tết Dương lịch đến nay, Chính phủ đã có ít nhất 3 cuộc họp với những nội dung khác nhau, trong đó có việc cải thiện chỉ số khởi sự kinh doanh, chỉ số tiếp cận điện năng... theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB).

Chính phủ không chỉ đứng theo dõi, đôn đốc mà còn “xắn tay” vào làm, bàn chi tiết đến từng nội dung như: sẽ sửa đổi những nội dung gì, tại thông tư nào, hướng thay đổi ra sao, thời gian thực hiện và hiệu quả như thế nào...? Những biện pháp như vậy mới đảm bảo được khả năng thực thi.

Một điểm nhấn khác theo tôi cũng chưa từng có là Chính phủ chủ động thực thi các giải pháp cải cách thay vì đợi Bộ, ngành. Ví dụ Nghị quyết 02 trước đây giao các Bộ, ngành thực thi. Nếu phải sửa đổi về thế chế, bộ đề xuất sửa sau, đó trình lên Chính phủ. Nhưng năm nay, Chính phủ dự kiến, nếu việc sửa đổi thể chế thuộc thẩm quyền bộ trưởng ban hành các thông tư, thì bằng thẩm quyền của mình, Thủ tướng sẽ ra quyết định bãi bỏ những văn bản đó và có hiệu lực thực thi ngay. Điều này cho thấy quyết tâm của Chính phủ đã biến thành hành động, vì thế kỳ vọng môi trường đầu tư kinh doanh năm nay sẽ có kết quả tích cực hơn rất nhiều so với 2019.

- Việc thành lập Tổ công tác đặc biệt của Thủ tướng có ý nghĩa như thế nào?

- Đó là cuộc họp ngay ngày làm việc đầu tiên sau Tết Dương lịch (2/1). Tổ này có nhiệm vụ đưa ra chương trình cải cách sâu rộng nhất so với các cải cách hiện hành.

Hiện chương trình cải cách tập trung vào các nhóm như 10 lĩnh vực ưu tiên theo chỉ số về môi trường kinh doanh, cắt giảm điều kiện kinh doanh; thanh toán không dùng tiền mặt; thúc đẩy chính phủ điện tử; cải cách kiểm tra chuyên ngành... Bên cạnh những nhóm căn cơ này, chương trình cải cách của Tổ bao trùm và mở rộng hơn, đó là rà soát toàn bộ quy định pháp luật dù quy định ấy ở bất kỳ cấp độ nào mà gây ra rào cản cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải cắt bỏ.

Ví dụ, trong quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh các bộ ngành luôn tranh đấu với nhau: Quy định này có phải điều kiện kinh doanh không? Nếu không phải thì ngay cả khi quy định gây cản trở cho doanh nghiệp, họ cũng bỏ ra ngoài. Bây giờ thì không còn phải tranh cãi nữa.

Tổ sẽ thực hiện chương trình cải cách toàn diện bằng các biện pháp như nguyên tắc "một đổi hai". Tức là nếu ban hành mới một thông tư thì phải cắt hai thông tư (văn bản). Hay nguyên tắc "một đổi một", nếu ban hành một nghị định mới thì phải bỏ đi một nghị định cũ. Đặc biệt Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trong những cuộc họp này đều nhắc đi nhắc lại, tất cả những rào cản kinh doanh cho doanh nghiệp là do thông tư.

- Việc rà soát lại toàn bộ các quy định có làm giảm tình trạng cát cứ trong xây dựng pháp luật không?

- Ở cấp độ xây dựng luật, các bộ chủ quản vẫn có thể tham mưu, nhưng tình trạng cát cứ trong xây dựng nghị định phải chấm dứt. Theo tôi, khi xây dựng nghị định hướng dẫn luật thì cần là văn bản hướng dẫn cùng một nhóm vấn đề, cho nhiều Luật. Các bộ nên xóa bỏ tâm lý tham mưu nghị định này là cho bộ tôi. Như vậy mới giải quyết được mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật, mới nhìn được ở góc độ của doanh nghiệp.

Ví dụ, tất cả Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Quản lý phát triển đô thị... cùng liên quan đến đầu tư. Như vậy, cần một nghị định của Chính phủ hướng dẫn 5 luật và cùng đặt trên bàn cân thì mới tránh được tình trạng chồng chéo.

Nếu chúng ta tiếp tục cho các bộ xây dựng nghị định hướng dẫn kiểm tra chuyên ngành dựa trên luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thì trong phạm vi quản lý của mình như Bộ Công Thương quản lý chuyên ngành kiểu khác, thậm chí có thể chồng chéo với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp. Như vậy, cần thiết phải một nghị định hướng dẫn chung về kiểm tra chuyên ngành, khi đó mới giúp cắt bỏ số lượng văn bản, giảm xung đột.

Việc này còn giúp nhà nước và doanh nghiệp đỡ tốn kém. Ngay bản thân hải quan hiện nay cũng nói rất rủi ro khi bản thân họ cũng khó nắm được hết 400 văn bản kiểm tra chuyên ngành của các bộ để áp dụng. Hay như cùng một dự án đầu tư, địa phương phải tìm hiểu 5 luật, 10 nghị định, 30 thông tư... Như vậy với một vị giám đốc Sở Kế hoạch hoặc Sở Xây dựng, rủi ro là rất lớn. 

- Bên cạnh những thay đổi mạnh mẽ của Chính phủ, vai trò của các cơ quan đầu mối khác như Bộ Kế hoạch & Đầu tư và CIEM sẽ như thế nào?

- Vai trò của Văn phòng Chính phủ và các cơ quan tham mưu như Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã thay đổi, không chỉ đơn thuần là đứng nhìn, tổng hợp kết quả, báo cáo lên mà phải là cơ quan trực tiếp làm, hỗ trợ chuyên môn, tư vấn và đưa ra những cải cách... Bởi mục tiêu của chương trình cải cách không phải báo cáo ai làm tốt, ai làm xấu mà đảm bảo cải cách đó được thực thi và có tác động trên thực tế.

Hiện CIEM đang lên kế hoạch cho đoàn công tác chuẩn bị làm việc 10 bộ ngành về 10 lĩnh vực liên quan đến kinh doanh và do Bộ trưởng dẫn đầu. Đây là điều mà từ trước đến nay chưa bao giờ có.

- Những cải cách này nhằm nâng hạng môi trường đầu tư theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới?

- Tôi phải khẳng định rằng Việt Nam cải cách không phải vì nâng hạng mà vì lợi ích quốc gia. Như vậy hoạt động cải cách trong nhiều trường hợp có lợi ích lớn hơn rất nhiều.

Ví dụ, Ngân hàng Thế giới họ chỉ khảo sát tại những thành phố lớn nhưng nếu những cải cách trong Nghị quyết 02/2020 được thực thi sẽ tác động toàn bộ xã hội. Tinh thần của Chính phủ là lấy tinh thần cải cách của WB để thực thi những cải cách vì sự phát triển cho Việt Nam. Vì vậy, khi quá trình cải cách được thực hiện mạnh mẽ, thực chất thì kết quả sẽ được ghi nhận, việc thăng hạng là đương nhiên.

- Ngoài những cải cách từ phía Chính phủ, bản thân doanh nghiệp cần thay đổi những gì để đảm bảo sức cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn đủ khả năng vươn ra thế giới?

- Câu chuyện cạnh tranh quốc tế đã rất khác so với tư duy kinh doanh hiện nay của đa phần doanh nghiệp. Nhiều trường hợp kinh doanh nhưng không có sự chuẩn bị một cách bài bản và những kịch bản ứng phó với rủi ro có thể xảy ra. Điều này khác hoàn toàn với nhà đầu tư nước ngoài. Trước khi gia nhập thị trường, họ tìm hiểu rất kỹ, kèm theo đó là hệ thống tư vấn, đảm bảo tính tuân thủ luật pháp. Chi phí hỗ trợ pháp lý được nhà đầu tư nước ngoài coi là một phần chi phí kinh doanh. Không có một nhà đầu tư nước ngoài nào đáp một chuyến máy bay sang Việt Nam chỉ để đi tìm hiểu xem ở đây có ngành, nghề, lĩnh vực nào có thể kinh doanh? Như vậy, khi cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp buộc phải làm quen với rủi ro và có sẵn những phương án ứng phó.

Hoạt động cải cách môi trường đầu tư kinh doanh nhìn ở góc độ nào đó, làm gia tăng áp lực cạnh tranh và đào thải đối với doanh nghiệp. Trước đây, môi trường kinh doanh khó khăn với nhiều giấy phép, thủ tục hành chính... nhưng ở góc độ nào đó, nó lại trở thành công cụ bảo hộ cho doanh nghiệp. Nhưng khi Chính phủ bãi bỏ những rào cản và thuận lợi hóa thương mại thì rất nhiều lĩnh vực, ngành được mở ra cho doanh nghiệp tham gia thị trường, đầu tư kinh doanh.

Ví dụ về hoạt động kinh doanh xăng dầu. Trước đây, nếu có một cây xăng ở vị trí A, họ có thể độc quyền bán xăng ở đó gần như suốt đời, nhưng sau này, khi Chính phủ bãi bỏ những điều kiện kinh doanh, quy hoạch xăng dầu, ngay lập tức ở khu vực đó xuất hiện thêm nhiều đơn vị kinh doanh khác. Thậm chí, đơn vị gia nhập thị trường trước hoàn toàn có thể bị phá sản nếu chất lượng, dịch vụ và tiện ích không được đảm bảo hoặc đi xuống. Trong trường hợp này, doanh nghiệp buộc phải đổi mới, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt. (Ndh.vn 29/1, Ngọc Hà) Về đầu trang

Đạo đức công vụ yếu kém sẽ gây hại rất lớn cho dân, cho nước

Chuẩn mực đạo đức công vụ có thể khái quát qua lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh 4 chữ “cần, kiệm, liêm, chính”, suy rộng ra là “nhân, nghĩa, liêm, trí, dũng".

Việt Nam chưa có các quy định cụ thể và riêng về đạo đức công vụ, mà chỉ đề cập trong một số luật liên quan đến cán bộ công chức, như: Luật cán bộ công chức; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…

Ngay từ năm 1950, trong điều kiện khó khăn, gian khổ của công cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Với văn bản này có thể nói, đây là lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng đội ngũ công chức cách mạng Việt Nam.

Trong đó, tại Lời nói đầu, nội dung về công chức và đạo đức công vụ đã được thể hiện rất rõ: “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân… Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”.

Điều 2 của Quy chế quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Điều 3 Quy chế công chức Việt Nam quy định quyền lợi của công chức và tại các điều tiếp theo quy định việc tuyển dụng, tổ chức, quản trị, sử dụng công chức.

Hiến pháp năm 1980 của Việt Nam quy định tại Điều 8: “Tất cả các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành những chuẩn mực về đạo đức - pháp lý cho công chức và cơ quan nhà nước trong đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Hiến pháp 1992 tại Điều 8 cũng quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”.

Luật cán bộ, công chức, chế định công chức và đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập các chuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch.

Theo đó, những chuẩn mực đạo đức - pháp lý được thể hiện một cách tập trung và rất cụ thể ở các quy định về nghĩa vụ của công chức, như: trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên.

Đối với cán bộ, công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân...

Ngoài ra, Luật Cán bộ, công chức cũng đã quy định rõ những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ như: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi;…

Luật Phòng, chống tham nhũng cũng có những quy định phản ánh những nội dung về chuẩn mực công chức, công vụ, trong đó xác định cụ thể cán bộ, công chức là một trong những đối tượng là người có chức vụ, quyền hạn.

Những hành vi tham nhũng được xác định là: tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa; nhận hối lộ; lợi dụng chức quyền để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa; hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức...

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: thực hiện công vụ được giao đúng quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sử dụng tiền, tài sản nhà nước được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác được phân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và xử lý hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền.

Ngoài ra Luật cũng quy định cán bộ, công chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức như: khiển trách; cảnh cáo... buộc thôi việc.

Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức cũng được quy định trong thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan khi thực thi công vụ. Trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, tổ chức, cán bộ, công chức phải làm việc đúng thẩm quyền, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà.

Cán bộ, công chức không tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân, tổ chức tại nhà riêng. Cán bộ, công chức phải có trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và bí mật nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật.

Trong hoạt động ở doanh nghiệp nhà nước và thực hiện dân chủ ở xã cũng có những văn bản quy phạm pháp luật quy định chuẩn mực đạo đức cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ...

Từ những nội dung cơ bản này, Chính phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện và quản lý sâu rộng hơn, cụ thể hơn trong các hoạt động của nền công vụ.

Đó là các quy định pháp luật về xây dựng cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức một cách minh bạch; những quy định nhằm tăng cường tính minh bạch thông qua việc công khai và giám sát đối với tài sản và trách nhiệm cá nhân, hoặc các quy định nhằm nâng cao đạo đức công vụ, hạn chế tiêu cực như sách nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ...

Đặc biệt, thời gian gần đây, một số bộ, ngành đã có đột phá khi ban hành những quy tắc ứng xử hoặc danh sách các hành vi bị cấm trong hành xử công vụ của cán bộ công chức, như 300 điều cấm trong ngành Hải Quan do Tổng cục hải quan ban hành năm 2018 và tháng 4/2019, Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành công điện cấm cán bộ kiểm toán uống rượu bia và đi hát karaoke với đơn vị đang được kiểm toán để giữ gìn giá trị cốt lõi của kiểm toán viên nhà nước là công minh, chính trực.

Trước vấn nạn sa sút nghiêm trọng về đạo đức công vụ hiện nay, như Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái”, thực tế cho thấy, để xây dựng chuẩn mực và nâng cao chất lượng đạo đức công vụcần có bộ các tiêu chuẩn về đạo đức công vụ cụ thể và mang tính bắt buộc, với các chế tài xử phạt đủ mạnh đối với các vi phạm quy định về đạo đức công vụ.

Đồng thời, cần đưa nội dung bồi dưỡng đạo đức công vụ vào chương trình bồi dưỡng bắt buộc hằng năm đối với cán bộ công chức theo nội dung và thời gian phù hợp với từng vị trí việc làm của công chức.

Hoạt động kiểm tra, giám sát về việc thực hiện đạo đức công vụ cần được tiến hành thường xuyên, dưới các hình thức báo cáo, kiểm tra đột xuất, lấy ý kiến của người dân; thiết lập các đường dây nóng và thực hiện cơ chế giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện đạo đức công vụ…

Tất cả nhằm thực hiện tốt mục tiêu Nghị quyết 39-NQ/TƯ về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là “nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị...

Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho hoạt động và quản lý nhà nước có hiệu quả và là tiêu điểm trong cải cách hành chính hiện nay ở nước ta. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi có những cơ chế, quy định pháp luật tốt hơn, phù hợp hơn để duy trì và phát huy cao nhất các giá trị cơ bản của nền công vụ - một nền công vụ vì dân.

Việc hình thành nên các chuẩn mực về tư cách đạo đức công vụ của người cán bộ, công chức là rất quan trọng. Xây dựng và ban hành Luật đạo đức công vụ trên cơ sở các quy định đã có về đạo đức cán bộ, công chức và công vụ đã được quy định ở Luật cán bộ, công chức; Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... là điều cần sớm được nghiên cứu, triển khai ở nước ta.

Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức, tăng cường hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa và xử phạt hành vi vi phạm đạo đức công vụ. Thực hiện công khai hóa quá trình tuyển chọn, sử dụng đánh giá cán bộ, công chức, đưa các yếu tố về đạo đức công vụ vào nội dung tuyển dụng và đánh giá kết quả hoạt động.

Có quy định rõ, cụ thể các hành vi cán bộ, công chức được làm hoặc không được làm, công khai các lợi ích của họ, có chế tài xử phạm nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức công vụ, tùy theo mức độ vi phạm, kể cả truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, kiểm soát nội bộ chặt chẽ nhằm phát hiện các nguy cơ dẫn đến tiêu cực, tham nhũng. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức và hoạt động công vụ, đảm bảo quyền dân chủ cơ sở để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ.

Hoàn thiện cơ chế quản lý và làm rõ thẩm quyền quản lý từng loại cán bộ, công chức của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị; định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong quản lý hoạt động công vụ của cấp dưới thuộc quyền.

Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời và công bằng những sai phạm của cán bộ, công chức có hành vi vi phạm đạo đức công vụ, những hành vi gây nhũng nhiễu, phiền hà về thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, đặc biệt là các trường hợp tái phạm, có tổ chức, có tình tiết nghiêm trọng cần phải được xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời và công bằng nhằm góp phần giáo dục và răn đe cán bộ, công chức, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước và pháp luật.

Thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình trong tất cả các cơ quan hành chính các cấp nhằm đề cao giá trị đạo đức, sự hướng thiện của con người, ngăn ngừa, hạn chế sa sút, suy thoái đạo đức. Xây dựng cơ chế trách nhiệm người đứng đầu, trong đó có quy định về từ chức. Vấn đề từ chức rất cần sức mạnh của dư luận xã hội, như là một nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận.

Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức, từng cá nhân cán bộ, công chức, loại bỏ những cơ chế, thủ tục dẫn tới khả năng tiêu cực, sách nhiễu nhân dân nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức làm điều tốt, có điều kiện cống hiến, phát huy năng lực phục vụ đất nước và nhân dân. Quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan chủ trì và trách nhiệm của các cơ quan phối hợp.

Nâng cao đạo đức công vụ trước hết là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cán bộ, công chức; đồng thời, là kết quả từ nỗ lực chung của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể của toàn xã hội. (Giaoduc.net.vn 30/1, TS Nguyễn Minh Phong) Về đầu trang

Xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới mục tiêu đổi mới phương thức làm việc

Việc xây dựng Chính phủ điện tử là nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ tập trung chỉ đạo, triển khai hoàn thành trong thời gian sớm nhất, hướng tới mục tiêu đổi mới phương thức làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 714/QĐ-TTg, trong đó nêu rõ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an làm cơ quan chủ quản là một trong 6 cơ sở dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử, PV Infonet đã có cuộc trao đổi với Đại tá Trần Hồng Phú – Phó Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

PV: Theo ông, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đóng vai trò nền tảng quan trọng như thế nào trong việc phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam?

Đại tá Trần Hồng Phú: Việc xây dựng Chính phủ điện tử là nhiệm vụ hết sức trọng tâm được Chính phủ tập trung chỉ đạo, triển khai hoàn thành trong thời gian sớm nhất, hướng tới mục tiêu đổi mới phương thức làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước, nâng cao năng lực hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao khả năng phục vụ cho người dân và doanh nghiệp.

Phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam có 3 nhiệm vụ chính: Đó là hoàn thiện thể chế chính sách phục vụ cho việc xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam như hoàn thiện các quy định về danh mục thông tin, các quy định về kết nối, chia sẻ đảm bảo an toàn thông tin cũng như trách nhiệm, quyền và trách nhiệm của các cơ quan tổ chức và nghĩa vụ của công dân.

Xây dựng nền tảng phát triển Chính phủ điện tử và hệ thống thông tin nhằm đổi mới phương thức làm việc của công dân và doanh nghiệp. Đảm bảo nguồn lực để triển khai Chính phủ điện tử và các cơ chế để đảm bảo thực thi các chính sách này.

Trong đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được xác định là 1 trong 6 cơ sở dữ liệu được Chính phủ ưu tiên triển khai. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được xác định là dùng chung, được Chính phủ giao cho Bộ Công an quản lý. Thông qua cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì nhằm thu thập, đầy đủ, cập nhật, chính xác kịp thời toàn bộ thông tin cơ bản của công dân Việt Nam trên hệ thống.

Ngoài ra, thông qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm chuẩn hóa thông tin và sẽ cung cấp cho một người dân một mã số định danh cá nhân duy nhất sử dụng từ khi sinh ra đến lúc mất đi. Đây chính là chìa khóa kết nối, chia sẻ giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng chung và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Sau này, thông qua số định danh cá nhân thì các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các ban ngành địa phương kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để khai thác toàn bộ thông tin cơ bản phục vụ công tác quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Từ đó, khắc phục tình trạng một người dân có nhiều mã số định danh cá nhân; khắc phục giữa các ngành các cơ quan tránh lãnh phí và tạo sự đồng bộ thống nhất trong cơ sở dữ liệu quốc gia.

PV: Từ tháng 5/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 714/QĐ-TTg, trong đó nêu rõ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an làm cơ quan chủ quản là một trong 6 cơ sở dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, thời gian qua, tiến độ triển khai chưa được như kỳ vọng. Xin ông cho biết đâu là những khó khăn, vướng mắc đối với việc triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đại tá Trần Hồng Phú: Theo quy định của Luật Căn cước công dân cũng như Đề án 896 của Chính phủ, đặc biệt Quyết định 714 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng các cơ sở dữ liệu nền tảng phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử có quy định đến ngày 01/01/2020 phải hoàn thành xây dựng và đưa vào khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công an phối hợp với các ban ngành địa phương tổ chức triển khai các nhiệm vụ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Tuy nhiên, cho đến nay, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa được hoàn thành và đưa vào khai thác đúng tiến độ theo quy định.

Nguyên nhân do đây là dự án công nghệ thông tin lớn, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ nhiều ngành, lĩnh vực, phạm vi triển khai dự án rộng lớn từ trung ương tới 63 tỉnh, thành phố.

Thời gian triển khai ngắn chỉ trong vòng 2 năm, dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được Thủ tướng phê duyệt chủ trương đầu tư và Bộ Công an phê duyệt đầu tư nhưng chưa được bố trí vốn nhưng đến nay Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ và phối hợp với các Bộ, Ngành thì đến nay đang được bố trí vốn để triển khai.

PV:  Ngày 24/10 vừa qua, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng đã làm việc trực tiếp với Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Duy Ngọc thống nhất giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh triển khai dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Xin cho biết cụ thể một số giải pháp sẽ được triển khai trong thời gian tới?

Đại tá Trần Hồng Phú: Để tổ chức triển khai dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đúng tiến độ, đảm bảo hiệu quả đúng Luật Căn cước công dân và quy định của Thủ tướng phê duyệt thì trước hết bố trí kịp thời đủ nguồn vốn để tổ chức triển khai các hạng mục quan trọng của dự án như hạ tầng kỹ thuật, đường truyền, phần mềm, đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ vận hành.

Ngoài ra, phải tiếp tục phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan để hoàn thiện thể chế, chính sách, kịp thời cập nhật thông tin, trên cơ sở Bộ Công an đã tổ chức thu thập toàn bộ thông tin công dân trên toàn quốc, tới đây sẽ nhập và chuẩn hóa dữ liệu, cấp số định danh cá nhân cho công dân để sớm đưa vào khai thác sử dụng, để đảm bảo đúng tiến độ thu thập hệ thống thông tin.

PV: Tính đến thời điểm này, đâu là những kết quả đáng chú ý nhất trong việc triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư?

Đại tá Trần Hồng Phú: Những kết quả nổi bật trong việc tổ chức triển khai, thực hiện dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có thể đánh giá trên nhiều phương diện. Đó là hoàn thiện thể chế chính sách, đơn vị cũng đã tham mưu với Chính phủ và các ban ngành, quy định về danh mục thông tin, các chuẩn kỹ thuật kết nối, các chuẩn dữ liệu để phục vụ thu thập thông tin dân cư, phục vụ cho các ban ngành địa phương.

Ngoài ra, cần phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu cho Chính phủ để bổ sung dự án vào danh mục đầu tư công không hạn giai đoạn 2016 – 2020, trên cơ sở đó để Chính phủ bố trí vốn khoảng 3.000 tỷ đồng để triển khai dự án.

Đơn vị đã thu thập được toàn bộ thông tin trên 96 triệu công dân Việt Nam, hiện nay đang chuẩn bị tổ chức nhập dữ liệu và sắp tới sẽ chuẩn hóa. Đơn vị chủ động chuẩn bị hạ tầng, kỹ thuật đường truyền, nhân lực, công nghệ thông tin và bố trí cán bộ để thu thập thông tin theo hình thức tinh gọn bộ máy, đặc biệt theo mô hình bố trí các cán bộ công an chính quy xuống cấp cơ sở để đảm bảo thông tin dân cư đầy đủ, chính xác.

PV: Vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án Tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư đã chỉ đạo rằng Bộ Công an tập trung xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đưa vào vận hành, khai thác trong năm 2020. Liệu mục tiêu này được hiện thực hóa sớm hơn dự kiến hay không?

Đại tá Trần Hồng Phú: Theo quy định của Luật Căn cước công dân và Đề án 896 về việc đơn giản hóa các Cơ sở dữ liệu và các thủ tục liên quan đến người dân thì có quy định đến năm 2020 là hoàn thành và đưa vào khai thác thông tin.

Hiện nay, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và chỉ đạo tập trung của Bộ Công an, sự phối hợp của các ban ngành địa phương, sự ủng hộ của toàn bộ người dân và Chính phủ bố trí đủ vốn thì sẽ đảm bảo đúng tiến độ. (Infonet.vn 25/1, Hải Ngọc) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.033.175 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này