Bản tin cải cách hành chính ngày 02/3/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến liên thông trên Cổng dịch vụ công quốc gia

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội: Ra mắt đơn vị hành chính hai phường Nguyễn Du và Phạm Đình Hổ

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Mục tiêu cải cách điều kiện kinh doanh: Chọn cắt bỏ hay đơn giản hóa?

4. Bộ TT&TT cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho nhà cung cấp thứ 15

5. Cải cách điều kiện kinh doanh: Báo cáo cắt giảm 50%, thực chất được 30%?

6. 39 tỉnh, thành phố đang triển khai tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Loại cán bộ không đủ chuẩn khỏi quy hoạch

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Khắc phục hạn chế trong công tác cán bộ

9. Phải làm tốt công tác sàng lọc nhân sự

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến liên thông trên Cổng dịch vụ công quốc gia

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về thực hiện một số nhiệm vụ vận hành Cổng dịch vụ công quốc gia.

Theo đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam yêu cầu các bộ, địa phương triển khai các nhiệm vụ để trong quý II-2020 có thể cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam giao Bộ Tư pháp hoàn thiện Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin "một cửa" điện tử tập trung của Bộ để khai thác, sử dụng các hạ tầng dùng chung đã được xây dựng trên Cổng dịch vụ công quốc gia, như: Xác thực, định danh người dùng, nền tảng thanh toán tập trung; kết nối, đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính để theo dõi tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý I-2020.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ nghiên cứu, đơn giản hóa thủ tục hành chính làm cơ sở để tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia đối với các thủ tục: Đăng ký khai sinh; cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm. Thời hạn hoàn thành trước ngày 10-3-2020.

Trước ngày 10-3-2020, Bộ Tư pháp hoàn thành tích hợp, chia sẻ dữ liệu hệ thống đăng ký khai sinh với Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin "một cửa" điện tử cấp tỉnh để phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến đăng ký khai sinh trên Cổng dịch công quốc gia, Cổng dịch vụ công cấp tỉnh.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu, tổ chức tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý II-2020.

Bộ Tư pháp tích hợp hệ thống đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến với Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin "một cửa" điện tử cấp tỉnh để thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp phiếu lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tư pháp và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với nhóm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm trên Cổng dịch vụ công quốc gia, hoàn thành trước ngày 10-3-2020… (Hanoimoi.com.vn 2/3, Trí Thư) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Ra mắt đơn vị hành chính hai phường Nguyễn Du và Phạm Đình Hổ

Thực hiện Nghị Quyết 895/NQ - UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc thành phố Hà Nội, ngày 1/3, UBND thành phố Hà Nội đã công bố và ra mắt các đơn vị hành chính gồm: phường Phạm Đình Hổ và phường Nguyễn Du (quận Hai Bà Trưng).

Theo đó, tại quận Hai Bà Trưng, nhập toàn bộ 0,14 km2 diện tích tự nhiên, 4.489 người của phường Bùi Thị Xuân và 0,01 km2 diện tích tự nhiên, 642 người của phường Ngô Thì Nhậm vào phường Nguyễn Du. Sau khi nhập, phường Nguyễn Du có 0,52 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 11.399 người (trụ sở UBND phường Nguyễn Du được đặt tại số 44 Trần Nhân Tông).

Toàn bộ 0,18 km2 diện tích tự nhiên cùng 5.526 người còn lại của phường Ngô Thì Nhậm sau khi điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính được nhập vào phường Phạm Đình Hổ. Sau khi nhập, phường Phạm Đình Hổ có 0,48 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 12.611 người (trụ sở UBND phường Phạm Đình Hổ được đặt tại số 44 Trần Xuân Soạn). Như vậy, sau sắp xếp, quận Hai Bà Trưng có 18 phường.

Tại buổi lễ, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung đánh giá cao các cơ quan chức năng của thành phố chuẩn bị công tác nhân sự, cơ sở vật chất, đảm bảo đúng hướng dẫn của Trung ương, góp phần tiếp tục làm tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước cũng như hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đề nghị các phường tiếp tục kiện toàn tổ chức, hoàn chỉnh quy chế làm việc, duy trì mọi chế độ công tác đảm bảo ổn định; giải quyết tốt các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách cấp phường và những người nghỉ việc do dôi dư sau sáp nhập; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cơ quan, tổ chức, công dân trong sinh hoạt và thực hiện tốt các giao dịch hành chính, dân sự bình thường…

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành của Hà Nội phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền của quận Hai Bà Trưng để tháo gỡ, giải quyết các khó khăn phát sinh khi đơn vị hành chính mới hoạt động, nhất là việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động giao dịch của tổ chức, công dân.

Theo ông Lê Việt Hùng, Bí thư phường Phạm Đình Hổ, ngày đầu tiên sau khi sáp nhập, lãnh đạo phường sẽ bố trí ngay các vị trí công tác, đảm bảo các thủ tục, giấy tờ liên quan để công dân được phục vụ một cách tốt nhất. Đặc biệt, phường sẽ bổ sung ban hành ngay quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức có liên quan đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình và hiệu quả; đồng thời rà soát, sắp xếp, bố trí nơi làm việc, trang thiết bị cho cán bộ, công chức phù hợp với thực tế, đảm bảo thông suốt hoạt động chỉ đạo, điều hành, thực thi pháp luật trong quản lý nhà nước ở địa phương.

Theo Nghị Quyết 895/NQ - UBTVQH 14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc thành phố Hà Nội, tại huyện Phúc Thọ đã thành lập xã Xuân Đình trên cơ sở nhập toàn bộ xã Cẩm Đình và xã Xuân Phú; thành lập xã Sen Phương trên cơ sở nhập toàn bộ xã Phương Độ và toàn bộ xã Sen Chiểu; thành lập xã Nam Tiến trên cơ sở nhập toàn bộ xã Thụy Phú và toàn bộ xã Văn Nhân.

Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành vào ngày 1/3, thành phố Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 quận, 17 huyện và 1 thị xã; 579 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 383 xã, 175 phường và 21 thị trấn. (Baotintuc.vn 1/3, Nguyễn Hoàng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Mục tiêu cải cách điều kiện kinh doanh: Chọn cắt bỏ hay đơn giản hóa?

Mục tiêu cắt giảm 50% điều kiện kinh doanh của các bộ, ngành có vẻ không quá khó khăn, nhưng câu hỏi hiệu quả của công việc này thế nào thì cho tới nay vẫn chưa thể trả lời.

Hội thảo Cải cách điều kiện kinh doanh: Nhận diện vấn đề và dự địa cải cách tiếp theo, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Aus4Reform tổ chức hôm qua (27/2), đã không có thêm nét vẽ mới nào trong bức tranh hiện hữu về điều kiện kinh doanh.

Bộ Công thương tiếp tục đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ này, khi ngày 5/2, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 17/2020/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công thương. Cũng mới có một thông tin tốt như vậy. Còn lại, bức tranh vẫn tương tự cuối năm 2019. Đó là, với 30 văn bản về điều kiện kinh doanh được ban hành, cắt giảm hơn 50% số điều kiện kinh doanh (theo báo cáo của các bộ, ngành), về cơ bản, giải quyết được các điều kiện chung chung, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hay dễ tạo sự tùy ý trong thực thi…

Điều đáng nói là, vẫn không có một đánh giá nào về hiệu quả thực tế của các văn bản, nỗ lực cắt giảm này. Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh (CIEM), người được giao trực tiếp nghiên cứu các vấn đề liên quan đến điều kiện kinh doanh thừa nhận như vậy.

Phân tích ở góc độ quyết liệt của Chính phủ, có thể nói, cải cách điều kiện kinh doanh là một trọng tâm luôn nóng. Trong 3 năm (2017-2019), có tới 40 văn bản của Chính phủ chỉ đạo về nội dung cải cách, trong đó, năm 2018 có tới 20 văn bản, năm 2019 có 10 văn bản.

“Có lẽ, khó có nội dung cải cách nào được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo sát sao, liên tục như điều kiện kinh doanh. Cũng chưa có mục tiêu nào mạnh mẽ như yêu cầu cắt giảm 50% số điều kiện kinh doanh. Nhưng thực tế, doanh nghiệp có cảm nhận được kết quả này không? Câu trả lời rất đáng tiếc là chưa?”, bà Thảo nói.

Cơ sở của nhận định trên là kết quả khảo sát doanh nghiệp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện cuối năm 2019. Dù tỷ lệ doanh nghiệp phải xin giấy phép kinh doanh có điều kiện và tỷ lệ doanh nghiệp than phiền khó khăn khi xin giấy phép kinh doanh có điều kiện năm 2019 giảm hơn năm 2018, song theo bà Thảo, con số trên vẫn quá cao.

Phải nhắc lại, cuối năm 2017, khi các cuộc đấu trí liên quan đến cắt giảm, bãi bỏ điều kiện kinh doanh rất căng thẳng giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu, thì Bộ Công thương đã ghi điểm khi là cơ quan đầu tiên ban hành Quyết định 3610a/2017/QĐ-BCT, công bố danh mục 675 điều kiện kinh doanh đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa.

Có thể nói, chính quyết định này đã tạo sức ép để các bộ, ngành phải tham gia rà soát, đề xuất đơn giản hóa, bãi bỏ điều kiện kinh doanh trong 3 năm (2017-2019). Nhưng có lẽ, Nghị định số 17/2020/NĐ-CP không có được tác động tương tự.

Vấn đề nằm ở chỗ, khi đánh giá mức độ cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh, bà Thảo và cộng sự hầu như chỉ nhìn thấy hình thức “đơn giản hóa”, theo kiểu giảm mức độ yêu cầu về số lượng nhân sự, giảm yêu cầu về quy mô diện tích của cơ sở vật chất…

Trên thực tế, mặc dù các bộ đều báo cáo đã hoàn thành chỉ tiêu cắt giảm điều kiện kinh doanh, nhưng chưa có báo cáo đánh giá nào về hiệu quả và tác động của cải cách. Bộ Công thương cũng vậy.

Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM cho rằng, lý do có thể nằm ở mục tiêu cải cách điều kiện kinh doanh chưa rõ ràng.

“Nếu xác định mục tiêu là cắt bỏ, đơn giản hóa 50% điều kiện kinh doanh, thì chỉ cắt bỏ 1 điều kiện, còn lại là đơn giản hóa, cũng là hoàn thành nhiệm vụ”, ông Cung phân tích.

Năm 2018, khi CIEM đề xuất cách làm mới về cải cách điều kiện kinh doanh, mô hình “lê máy chém” của Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế khác được chọn để học tập. Theo đó, bên cạnh xác định rõ mục tiêu là cắt bỏ 50%, các bộ, ngành được yêu cầu, nếu đề xuất thêm 1 điều kiện kinh doanh thì phải đồng thời bãi bỏ 1 điều kiện kinh doanh.

“CIEM đã trình phương án bãi bỏ 50% điều kiện kinh doanh hiện hành, chưa được chấp thuận, nhưng hiện tại, có lẽ phải làm rõ yêu cầu này trong năm nay, để cải cách điều kiện kinh doanh đi vào thực chất. Điều quan trọng là, chỉ khi điều kiện kinh doanh không phù hợp được bãi bỏ, các cơ quan quản lý nhà nước mới tư duy khác về công cụ quản lý nhà nước, từ đó tạo điều kiện để thực thi cam kết mà Chính phủ đã đưa ra là giảm chi phí cho doanh nghiệp”, ông Cung đề xuất.

Nguyên tắc để bãi bỏ, theo ông Cung, là những điều kiện không có cơ sở khoa học, không có hiệu lực quản lý thực tiễn và không phù hợp với thông lệ quốc tế.

“Nhiều người nói tôi cực đoan, nhưng tôi nghĩ, đó là cách để bảo vệ lợi ích của nền kinh tế, chứ không vì lợi ích của một bên nào. Đây là lúc phải đặt lợi ích chung của nền kinh tế lên trên hết”, ông Cung nói.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM, các vấn đề này sẽ được CIEM đưa ra trong hội nghị tới đây về cắt giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp, dự kiến tổ chức trong tháng 3/2020. (Baodautu.vn 1/3, Khánh An) Về đầu trang

Bộ TT&TT cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho nhà cung cấp thứ 15

Công ty cổ phần đầu tư công nghệ và thương mại Softdream vừa được Bộ TT&TT cấp giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và trở thành đơn vị thứ 15 cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.

Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (Bộ TT&TT) vừa trao Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho Công ty cổ phần đầu tư công nghệ và thương mại Softdream. Với giấy phép này, Softdream trở thành đơn vị thứ 15 được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng tại Việt Nam.

Theo thông tin từ Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia, Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng với tên giao dịch EasyCA được Bộ trưởng Bộ TT&TT ký ngày 21/2/2020 và sẽ có giá trị đến hết ngày 20/2/2030.

Đại diện Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia cho biết, sau khi nhận được đơn kèm hồ sơ đề nghị cấp phép của Softdreams, Trung tâm Chứng thực quốc gia đã phối hợp cùng 6 đơn vị thuộc Bộ TT&TT và các đơn vị chuyên trách của Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ để thẩm tra.

Trải qua các quy trình thẩm tra khắt khe theo quy định, Công ty Softdream đã đạt được đầy đủ những điều kiện để cấp phép trở thành nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng tiêu chuẩn. Đáp ứng các yêu cầu về khả năng tài chính, nhân lực, hạ tầng kỹ thuật bảo mật tiêu chuẩn và theo đúng các quy định hiện hành.

Theo Giấy phép được cấp, Công ty Softdream sẽ cung cấp dịch vụ chữ ký số cho cá nhân, tổ chức; Chứng thư số SSL dành cho máy chủ; Chứng thư số cho phần mềm và phương thức lưu khóa bí mật của thuê bao. Theo đó tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng EASYCA lưu khóa bí mất của thuê bao trong USB Token đáp ứng tiêu chuẩn FIPS PUB 140 – 2 tối thiểu mức 2.

Theo đại diện công ty, hiện tại, Softdream đang cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử cho khoảng gần 40.000 khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp và phần mềm kế toán cho khoảng 15.000 doanh nghiệp. Đại diện công ty này cũng cho biết đang cung cấp giải pháp cho Cổng thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

Do đó cần các sản phẩm hoàn chỉnh để cung cấp cho doanh nghiệp và đẩy đến thị trường cá nhân vì tiếp cận đến nhiều khách hàng có nhu cầu vay, truy vấn báo cáo tài chính từ hệ thống của Ngân hàng Nhà nước. Việc cung cấp giải pháp ký số sẽ giúp công ty hoàn thiện hệ sinh thái sản phẩm để cung cấp đến cho khách hàng. (Ictnews.vietnamnet.vn 1/3, Duy Vũ) Về đầu trang

Cải cách điều kiện kinh doanh: Báo cáo cắt giảm 50%, thực chất được 30%?

Từ năm 2017-2019, các bộ, ngành báo cáo đã hoàn thành chỉ tiêu cắt giảm 50% số điều kiện kinh doanh, song từ một báo cáo rà soát độc lập của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy kết quả cắt giảm thực chất chỉ đạt khoảng 30%. Đơn vị này đang đề xuất thay đổi cách thức quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh và chuyển mạnh sang hậu kiểm…

Thay vì quy định diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành phải bảo đảm bình quân từ 5,5 m2-7,5 m2/chỗ học, giờ giảm xuống còn 5,5 m2/chỗ học…

Tại hội thảo “Chất lượng điều kiện kinh doanh (ĐKKD): Vấn đề và kiến nghị” do CIEM và Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) phối hợp tổ chức mới đây, TS Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM cho biết, trong giai đoạn 2017-2019, các bộ, ngành đã nỗ lực rà soát, đề xuất cắt bỏ, đơn giản hóa khoảng 50% số ĐKKD để giảm gánh nặng quy định, thủ tục; nhờ đó giảm được thời gian, chi phí và rủi ro cho DN.

“Tuy nhiên, trong các quy định hiện hành, vẫn còn rất nhiều ĐKKD không cần thiết, không hợp lý hoặc không có ý nghĩa về hiệu quả QLNN…” - Viện trưởng CIEM nhấn mạnh.

Với kết quả báo cáo 50% số ĐKKD được cắt bỏ, đơn giản hóa, Trưởng ban - Ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM, bà Nguyễn Thị Minh Thảo quả quyết con số này thực chất chỉ khoảng 30%.

Bà Thảo cũng cho biết mức độ cải cách chủ yếu dưới hình thức đơn giản hóa mà ít cắt bỏ, như việc chỉ giảm yêu cầu về số lượng nhân sự, về quy mô diện tích cơ sở vật chất…

Đơn cử, điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp, yêu cầu diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành… bảo đảm bình quân từ 5,5m2-7,5m2/chỗ học, giờ xuống còn 5,5m2/chỗ học;

ĐKKD dịch vụ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động đối với tổ chức huấn luyện, số người huấn luyện cơ hữu, huấn luyện nội dung chuyên ngành, thực hành giảm từ 5 xuống còn 4;

Điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm chỉ định giảm từ ít nhất 2 nhân viên được chứng nhận, cấp thẻ kiểm định viên đo lường xuống còn 1 người…

“Nhiều ĐKKD thực hiện cắt bỏ song thực sự không tạo thuận lợi rõ ràng cho DN (như có đủ năng lực hành vi dân sự, phẩm chất đạo đức tốt…) hay một số quy định được tính là cắt bỏ, nhưng thực chất đó là các quy định về quy trình, không phải là ĐKKD…” - bà Thảo nhận xét.

Hơn thế, các nhà làm chính sách đã có “sáng kiến” bằng cách gói “ĐKKD chứa đựng ĐKKD,” hay thực hiện đưa “Giấy phép vào nằm trong Giấy phép” như quy định về điều kiện cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự (áp dụng đối với 23 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện) là một yêu cầu về ĐKKD trong một “bộ ĐKKD” áp dụng cho những ngành nghề này…

Với thực trạng trên, các nhóm chuyên gia của CIEM kiến nghị cần thay đổi cách thức quản lý Nhà nước(QLNN) về ĐKKD và chuyển mạnh sang hậu kiểm.

Theo đó, DN được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, chỉ cần thông báo mà không cần phải xin phép cơ quan QLNN và tự chịu trách nhiệm về việc đáp ứng các yêu cầu về ĐKKD.

Cơ quan QLNN sẽ thực hiện kiểm tra hậu kiểm (khi DN đi vào hoạt động) trên cơ sở nguyên tắc quản lý rủi ro dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của DN. Bên cạnh đó, thực hiện phân cấp mạnh mẽ tại các cơ quan QLNN ở địa phương trong việc quản lý DN tuân thủ các quy định về ĐKKD.

“Mặc dù hoạt động hậu kiểm được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của DN song cần tuân thủ nguyên tắc quản lý rủi ro, có cơ chế giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra, thiết lập kênh ghi nhận phản hồi từ DN một cách công khai, minh bạch và đảm bảo an toàn”, bà Thảo nhấn mạnh.

Đồng tình với đề xuất này, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho rằng, để cải cách ĐKKD có hiệu quả, các bộ, ngành cần đánh giá hiệu quả cải cách trong từng lĩnh vực; tiếp tục rà soát, đề xuất, bãi bỏ, đơn giản hóa ĐKKD; giám sát việc tổ chức, xử lý nghiêm những hành vi cố tình gây khó cho DN; đồng thời, thiết lập cơ chế đối thoại và phản hồi cho DN.

"Cải cách không phải là để trình diễn, đưa ra con số, khẩu hiệu hay. Suy cho cùng, khi cải cách thì hiệu quả cho nền kinh tế, lợi ích cho người dân mới là quan trọng nhất" - ông Tuấn quả quyết. (Baophapluat.vn 2/3, Thanh Thanh) Về đầu trang

39 tỉnh, thành phố đang triển khai tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân

Tiến sĩ Phạm Xuân Viết, Phó Cục trưởng Cục CNTT – Bộ Y tế cho biết, đã có 7 nhà cung cấp tham gia triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân và hiện việc này đang được thực hiện tại 39/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Trong Nghị quyết 17 ngày 7/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến 2025, Bộ Y tế được giao chủ trì thực hiện 2 nhiệm vụ, đó là: kết nối mạng các cơ sở cung ứng thuốc nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát thuốc đối với cơ quan quản lý, các cơ sở cung ứng thuốc và cơ sở y tế; xây dựng và triển khai quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử đến từng người dân, kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu. Hai nhiệm vụ này cùng có thời gian triển khai trong giai đoạn 2019 - 2020 và được tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong giai đoạn 2021 – 2025.

Thông tin tại cuộc họp ngày 28/2 vừa qua của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ với đại diện 15 Bộ, cơ quan về tình hình thực hiện các nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử và cải cách thủ tục hành chính, Tiến sĩ Phạm Xuân Viết, Phó Cục trưởng Cục CNTT – Bộ Y tế cho biết, cả 2 nhiệm vụ nêu trên đều đang được Bộ Y tế tích cực triển khai, với khả năng đảm bảo tiến độ đã đề ra là rất khả quan.

Cụ thể, về kết nối các cơ sở cung ứng thuốc trên toàn quốc, thống kê của Bộ Y tế cho hay, đến nay mạng kết nối mạng các cơ sở cung ứng thuốc đã được triển khai tại Bộ Y tế và 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tất cả các tỉnh, thành phố đều đã triển khai, hiện đã kết nối tới 100% các nhà thuốc, các cơ sở cung ứng thuốc có dược sĩ; cùng hơn 60% các quầy thuốc, phần còn lại chưa kết nối chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

“Thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục triển khai, cố gắng hoàn thành đúng tiến độ đã đề ra trong Nghị quyết 17, hoàn thành kết nối 100% cơ sở cung ứng thuốc trên toàn quốc vào năm 2025”, ông Viết cho hay.

Với nhiệm vụ  xây dựng và triển khai quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử đến từng người dân, theo ông Phạm Xuân Viết, đến nay việc này đã có sự tham gia của 7 nhà cung cấp tham gia và đã được triển khai tại 39/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Việc xây dựng hệ thống hồ sơ sức khỏe điện tử, theo đánh giá của Bộ Y tế, rất có ích cho người dân, có lợi cho ngành y tế và tạo thuận lợi cho thầy thuốc khi hành nghề.

Được biết, thực hiện nhiệm vụ này, trung tuần tháng 11 năm ngoái, Bộ Y tế đã ban hành  kế hoạch triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử. Kế hoạch hướng dẫn rõ, hồ sơ sức khỏe là tài liệu y tế ghi lại quá trình chăm sóc sức khỏe của một người từ lúc sinh ra cho đến khi mất đi theo mẫu quy định của Bộ Y tế. Hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR) là bản tin học hóa của hồ sơ sức khỏe được lập, hiển thị, cập nhật, lưu trữ và chia sẻ bằng phương tiện điện tử.

Bộ Y tế nhấn mạnh, việc xây dựng hệ thống hồ sơ sức khỏe điện tử rất có ích cho người dân, có lợi cho ngành y tế, tạo thuận lợi cho thầy thuốc khi hành nghề, là một nội dung quan trọng có ý nghĩa thực tiễn, tính thời sự cao trong việc xây dựng y tế điện tử, từng bước ứng dụng và phát triển y tế thông minh, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, góp phần hiện đại hóa ngành y tế đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Cũng theo kế hoạch, việc triển khai hệ thống hồ sức khỏe điện tử cho người dân sẽ được ngành y tế thực hiện ngay từ năm 2019 cho đến 2025. Bộ Y tế đã đề nghị các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động tổ chức triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử trên địa bàn, bảo đảm đến cuối năm 2020 có ít nhất 80% người dân trên địa bàn tỉnh, thành phố được tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử.

Thông tin từ Bộ Y tế cho hay, thời gian vừa qua, Bộ đã chỉ đạo triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử và tiến hành xây dựng triển khai phần mềm hồ sơ sức khỏe tại một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, Bình Dương, Lâm Đồng, Nam Định, Thái Bình, Phú Thọ... (Ictnews.vietnamnet.vn 1/3, Vân Anh) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Loại cán bộ không đủ chuẩn khỏi quy hoạch

Quy hoạch nhân sự chuẩn bị cho đại hội Đảng các cấp được xác định là nhiệm vụ mang tính then chốt, góp phần quyết định sự thành công của công tác nhân sự đại hội.

Trong công tác này, các đơn vị đều chú ý đến việc đánh giá cán bộ, đưa ra khỏi quy hoạch đối với các trường hợp không còn đủ tiêu chuẩn, nhằm lựa chọn những cán bộ đảng viên thật sự ưu tú để giới thiệu tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025.

Đồng chí Trần Chí Dũng, Trưởng ban Tổ chức Quận ủy quận 7, cho hay quận 7 có tốc độ đô thị hóa nhanh, thu hút người dân từ khắp nơi đến cư ngụ. Quận cũng là địa bàn có nhiều người nước ngoài đến sinh sống và làm việc, hầu hết tập trung tại khu vực Phú Mỹ Hưng. Vì thế, công tác cán bộ được quận đặc biệt coi trọng nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương. “Từ nửa đầu nhiệm kỳ trước, quận phải chuẩn bị nhân sự cho nhiệm kỳ sau”, đồng chí Trần Chí Dũng chia sẻ.

Đến nay, quận đã rà soát, bổ sung cán bộ quy hoạch chuẩn bị nguồn nhân sự cho đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Trong đó, quận đã bổ sung 26 đồng chí vào ban chấp hành, nâng tổng số cán bộ được quy hoạch vào ban chấp hành lên 86 đồng chí (gấp 2 lần số lượng thành viên ban chấp hành đầu nhiệm kỳ 2015-2020). Các yêu cầu về tỷ lệ cán bộ nữ (43 đồng chí, chiếm 50%), người trẻ dưới 35 tuổi (22 đồng chí, chiếm gần 25,6%) đều đạt. Quy hoạch nhân sự Ban Thường vụ Quận ủy, quy hoạch các chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý cho quận cũng được bổ sung đảm bảo yêu cầu về số lượng và tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ.

Hiện nay, quận 3 cũng hoàn chỉnh quy hoạch cấp ủy cơ sở Đảng (trong đó có đảng ủy 14 phường), quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý các phòng, ban, đơn vị cấp quận. Số lượng quy hoạch đều được đảm bảo, như cấp ủy thì quy hoạch 1,5-2 lần số lượng đương nhiệm. Mỗi chức danh quy hoạch 2-4 người và mỗi người quy hoạch nhiều chức danh, nhưng không quá 3 chức danh. Tương tự, các cơ cấu về nữ, độ tuổi cũng đều đảm bảo.

Theo đồng chí Trần Trọng Tuấn, Bí thư Quận ủy quận 3, trong công tác này quận còn tập trung luân chuyển cán bộ, nhằm giúp cán bộ tiếp cận các chức danh quy hoạch, đồng thời bổ sung nhân sự chuẩn bị cho đại hội đảng nhiệm kỳ 2020-2025. Cụ thể, 39 cán bộ nguồn quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh lãnh đạo, quản lý tại quận 3 được điều động, bổ nhiệm tiếp cận các chức danh quy hoạch để đào tạo thực tiễn. Trong đó, 10 trường hợp được điều động từ phường về quận, 11 trường hợp từ quận về phường (3 đồng chí là cán bộ trẻ được đề bạt lần đầu), 13 trường hợp điều động giữa các phường và 5 trường hợp đề bạt tại chỗ.

Một trong những điểm nhấn quan trọng của công tác quy hoạch được các đơn vị thực hiện là bám sát phương châm “mở” và “động”. Đơn cử, Ban Thường vụ Quận ủy quận 7 thực hiện công tác quy hoạch không khép kín trong từng địa bàn, cơ quan và đơn vị. Việc này không chỉ dựa vào quy hoạch những cán bộ tại chỗ mà còn xem xét đưa vào quy hoạch các đồng chí đủ điều kiện, triển vọng, đảm nhiệm các chức danh quy hoạch ở địa bàn, cơ quan, đơn vị khác. Đồng chí Trần Trọng Tuấn cũng cho hay, phương châm “quy hoạch mở”, “quy hoạch động” được các cấp ủy, cán bộ lãnh đạo làm công tác quy hoạch của quận 3 quán triệt và thực hiện nghiêm túc.

Đặc biệt, các nơi còn thường xuyên tổ chức rà soát quy hoạch, như trong năm 2019, qua rà soát, đánh giá quy hoạch nhân sự cấp ủy quận Thủ Đức và quy hoạch chức danh ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy nhiệm kỳ 2020-2025, đơn vị đã cho ra quy hoạch lần lượt là 6 và một trường hợp.

Đồng chí Trần Chí Dũng cũng khẳng định, Quận ủy quận 7 định kỳ rà soát, bổ sung, điều chỉnh kịp thời nhằm đưa ra khỏi quy hoạch đối với những cán bộ không còn đủ tiêu chuẩn, điều kiện và bổ sung quy hoạch những cán bộ khác có triển vọng phát triển. Thông qua việc thực hiện phương châm “động”, năm 2018-2019 quận loại khỏi quy hoạch 70 cán bộ. Trong số này, nhiều trường hợp bị kỷ luật hoặc 2 năm liền trong công việc chỉ ở mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đối với quy hoạch cấp cơ sở, có 48 trường hợp bị đưa ra khỏi quy hoạch cấp ủy, 16 trường hợp bị đưa ra khỏi quy hoạch các chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý.

Một trong những căn cứ quan trọng cho việc rà soát là đánh giá cán bộ. Theo đồng chí Trần Trọng Tuấn, đánh giá cán bộ là tiền đề, quy hoạch cán bộ là nền tảng, luân chuyển cán bộ là khâu đột phá, đào tạo bồi dưỡng cán bộ vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài. Mặt khác, công tác quy hoạch cần có “vào”, có “ra” nên phải thường xuyên rà soát đưa ra khỏi quy hoạch những trường hợp không còn đủ tiêu chuẩn. Cùng với đó là việc bổ sung vào những nhân tố mới, tích cực, đủ điều kiện và hoàn thiện quy hoạch về mặt cơ cấu, đảm bảo các yêu cầu đề ra. (Sggp.org.vn 2/3, Kiều Phong) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Khắc phục hạn chế trong công tác cán bộ

Theo Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam NGUYỄN TÚC, Quy định 214 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, đã khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác cán bộ được chỉ ra trong suốt quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Đồng thời, các tiêu chuẩn chức danh cụ thể cũng bám rất sát vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng

Quy định 214 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, đang được đảng viên, nhân dân đánh giá rất cao. Ông suy nghĩ như thế nào về Quy định này?

- Quy định 214 của Bộ Chính trị vừa cụ thể, vừa tổng quát, không những kế thừa tinh hoa của các Quy định trước đây về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ; mà còn khắc phục hạn chế, vướng mắc trong công tác cán bộ được chỉ ra trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Năm tiêu chuẩn chung được giữ nguyên là: Chính trị, tư tưởng; đạo đức, lối sống; trình độ; năng lực và uy tín; sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm. Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh tiêu chuẩn kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ấy là bởi, vừa qua có nhiều đồng chí vi phạm tiêu chuẩn này, có phát ngôn không đúng với Cương lĩnh của Đảng, không giữ vững nền tảng tư tưởng, không đấu tranh với những biểu hiện sai trái về tư tưởng ở một số đồng chí khác.

Một số điểm mới như quy định tiêu chuẩn tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, nhằm đấu tranh chống nạn chạy chức, chạy quyền; nêu cao hơn kỷ luật phát ngôn theo đúng nguyên tắc, quy định của Đảng.

Vấn đề tưởng chừng đã cũ nhưng lại mới vì thời gian qua một số người không chấp hành nghiêm chỉnh đó là: Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Thể hiện rất rõ qua các vụ đại án được đưa ra xét xử thời gian qua. Một số người đã không thực hiện được lời Bác Hồ dạy thông qua tác phẩm sửa đổi lề lối làm việc (năm 1947). Có trường hợp cán bộ còn xa hoa, lãng phí, tổ chức đám cưới cho con rình rang 3 - 4 ngày. Hay tình trạng cán bộ hách dịch, chỉ lo “quan hệ - tiền tệ”…

Đáng lưu ý, Quy định 214 nhắc nhở, cần thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Thực tế, thông qua các Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho thấy, một số cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã vi phạm nguyên tắc này.

Thưa ông, những minh chứng nêu trên chứng tỏ, Quy định 214 của Bộ Chính trị đã bám rất sát thực tiễn nhưng cũng mang tầm nhìn dài hạn?

- Trong tiêu chuẩn về đạo đức, lối sống có nêu: Không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi; tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Quy định phản ánh thực tế “một người làm quan, cả họ được nhờ”, không ít đồng chí bị kỷ luật có “sân sau”, tìm cách hình thành các nhóm lợi ích. Quay trở lại thời Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đương nhiệm, bấy giờ, nhiệm vụ là phân công, tự thấy mình không đủ trình độ lý luận, thực tiễn còn phải xin Trung ương rút sang đảm nhiệm công việc khác. Hay như Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ Hoàng Quốc Việt thấy khả năng lý luận của mình kém hơn so với đồng chí Đặng Xuân Khu nên đã mời đồng chí Đặng Xuân Khu thay mình làm Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ để đồng chí Hoàng Quốc Việt về địa phương xây dựng cơ sở cách mạng. Nay thì sao, rất hiếm trường hợp như vậy. Cho nên Quy định 214 cũng còn là mục tiêu phấn đấu lâu dài.

Trong Quy định 214 lần này, tiêu chuẩn chức danh cụ thể đều nhấn mạnh phải có uy tín với nhân dân, thưa ông?

- Các chức danh: Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đều phải là người có uy tín trong nhân dân. Có thể nói rằng, trước đây, công tác cán bộ dựa nhiều vào Đảng nhưng với Quy định này, bây giờ chúng ta còn chú trọng dựa vào nhân dân. Hay, tiêu chuẩn chức danh của Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đều phải là trung tâm đoàn kết - đây chính là quán triệt tư tưởng của Bác Hồ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Tiêu chuẩn chức danh Tổng Bí thư phải là người tiêu biểu nhất về đạo đức, trí tuệ, có kiến thức sâu, rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, quản lý nhà nước…; có bản lĩnh chính trị, tư duy nhạy bén, năng lực nghiên cứu, phát hiện, đề xuất và quyết đoán; bình tĩnh, sáng suốt trước những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến vận mệnh của Đảng, của quốc gia, của dân tộc.

Chủ tịch Nước phải có năng lực nổi trội, toàn diện trên các mặt công tác, nhất là lĩnh vực đối nội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng; hiểu biết sâu, rộng về công tác tư pháp.

Thủ tướng Chính phủ phải là người có năng lực nổi trội, toàn diện trên các lĩnh vực, nhất là trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Thủ tướng cũng phải xử lý những công việc tức thì, nảy sinh hàng ngày, hàng giờ nên tiêu chuẩn cụ thể được bổ sung với chức danh Thủ tướng Chính phủ lần này là năng động, quyết đoán, quyết liệt, quyết định kịp thời những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến lĩnh vực hành pháp.

Với Chủ tịch Quốc hội tiêu chuẩn là người có năng lực nổi trội, toàn diện trong các lĩnh vực công tác, nhất là trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trong việc chỉ đạo thể chế hoá đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng pháp luật, giám sát thực thi pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước…; hiểu biết sâu sắc hệ thống pháp luật của Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế.

Những điều này chứng tỏ, tiêu chuẩn chức danh đã bám rất sát vào chức năng của các đồng chí sẽ đảm nhiệm các vị trí trọng yếu của Đảng và Nhà nước.

Để thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nội dung của Quy định 214, theo ông cần lưu ý điều gì?

- Điểm yếu của chúng ta từ Đại hội VII đến nay là: Đại hội nào cũng có tiêu chí cán bộ, nhưng đề ra không thực hiện hoặc không thực hiện đến nơi, đến chốn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “chủ trương 1, biện pháp 10 và quyết tâm 20”. Chủ trương đúng mà biện pháp yếu, quyết tâm càng yếu hơn. Yếu của chủ trương và biện pháp xuất phát từ tâm lý cả nể, ngại đấu tranh, “sợ đấu tranh là tránh đâu”. Tiếp đó là sự chi phối của lợi ích nhóm và lợi ích của những người làm công tác cán bộ. Với tinh thần quyết liệt trong chỉnh đốn, xây dựng Đảng vừa qua, tôi mong và tin rằng, lần này, chúng ta sẽ khắc phục được những hạn chế này.

Xin trân trọng cám ơn ông! (Daibieunhandan.vn 2/3, Hoàng Ngọc) Về đầu trang

Phải làm tốt công tác sàng lọc nhân sự

Nhiều địa phương trên cả nước đang tiến hành đại hội điểm đảng bộ cấp cơ sở; tiến tới đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vào đầu năm 2021. Để tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, công tác nhân sự luôn được xem là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu.

Việc chuẩn bị, lựa chọn được và đúng nhân sự đảm nhiệm các chức vụ quan trọng của cấp ủy các cấp nhiệm kỳ mới có vai trò hết sức quan trọng; quyết định đường hướng phát triển mọi mặt của mỗi địa phương, bộ ngành cho tới cả nước trong nhiệm kỳ tới. Vì vậy, cấp ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025 phải được đặc biệt coi trọng về chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Ngày 30-5-2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ngày 2-1-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định 214-QĐ/TW của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây được xem là những cơ sở quan trọng, để chuẩn bị công tác nhân sự các cấp, nhất là những vị trí chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong nhiệm kỳ tới.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, Quy định 214 đã tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW (ngày 19-5-2018) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Quy định 214 cũng bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các nguyên tắc, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nhận xét đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Qua đó, thực sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp không chỉ là nhiệm vụ của ngành tổ chức xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Bài học về công tác nhân sự các cấp, kể cả ở Trung ương trong 2 nhiệm kỳ qua cho thấy, đó là vấn đề cốt lõi, quyết định thành công hay thất bại của nhiều bộ ngành, địa phương.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, hàng loạt cán bộ đương chức, kể cả cấp cao đã bị Đảng thi hành kỷ luật, pháp luật xử lý bởi những khuyết điểm, sai phạm không phải chỉ mới diễn mà đã có từ trước. Vì sao trong quá trình chuẩn bị nhân sự, những con người đó vẫn “lọt qua” được các vòng kiểm tra, bầu cử ở đại hội đảng bộ các cấp; để rồi khi đảm nhiệm chức vụ mới, cao hơn thì mới bị xử lý kỷ luật? Những cán bộ, vụ việc đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Đó là những bài học lớn, cần nghiêm túc nhìn nhận, rút kinh nghiệm sâu sắc cho nhiệm kỳ này và những nhiệm kỳ tới. Đó là phải kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng; phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút; thiếu gương mẫu, mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; không chấp nhận những cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó là cương quyết ngăn chặn, đấu tranh với tình trạng chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế, quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước; không cơ cấu những nhân sự quan liêu, cửa quyền, thiếu gắn bó mật thiết với nhân dân; bản thân hoặc vợ (chồng), con vi phạm các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm ảnh hưởng uy tín cơ quan, đơn vị, bản thân cán bộ; kết quả thực hiện nhiệm vụ không cao…

Nếu làm tốt những điều đó, chắc chắn, Đảng sẽ có những cán bộ thực sự “vừa hồng, vừa chuyên” trong nhiệm kỳ mới ở các cấp; đủ sức lãnh đạo đất nước phát triển toàn diện, bền vững. (Sggp.org.vn 2/3, Trần Lưu) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.028.928 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này