Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 29/6/2021
1. Kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công
2. Đến năm 2025 đào tạo được 1.000 chuyên gia chuyển đổi số
3. Quảng Bình: Quyết tâm cải thiện thứ hạng các chỉ số cạnh tranh
4. Xếp hạng chỉ số cải cách hành chính: Nhiều bộ, ngành tụt hạng vì chậm trễ
5. Bộ NN&PTNT: Chấn chỉnh công tác cải cách hành chính
6. Nguy cơ tăng phí, doanh nghiệp như ngồi trên đống lửa
7. “Trên 99% cán bộ công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ thì tinh giản ai”
8. Cần nghiên cứu sáp nhập các bộ?
9. Triển khai kế hoạch giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ trong toàn quốc
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
10. Những thông tư trật chìa làm khổ người kinh doanh
11. Indonesia sẽ cải cách nhằm giảm chênh lệch thuế
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định 1012/QĐ-TTg kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công...
Theo quyết định, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công là Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái. Phó Trưởng ban gồm: Bộ trưởng Bộ Nội vụ (Phó Trưởng ban Thường trực), Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Ủy viên Ban Chỉ đạo gồm lãnh đạo các Bộ: Quốc phòng; Công an; Tư pháp; Kế hoạch và Đầu tư; Thông tin và Truyền thông; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nội vụ; Lao động -Thương binh và Xã hội; Tài chính.
Lãnh đạo các cơ quan: Ban Tổ chức Trung ương; Văn phòng Trung ương; Ban Tuyên giáo Trung ương; Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội; Văn phòng Chính phủ; Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Ban Kinh tế Trung ương; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Văn phòng Quốc hội; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án Nhân dân tối cao; Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội; Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo quyết định, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là nghiên cứu, xây dựng và đôn đốc triển khai thực hiện nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết số 27 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Nghị quyết số 28 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; Nghị quyết số 107 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27; Nghị quyết số 125 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28. .
Đồng thời, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ phối hợp với các bộ, cơ quan nghiên cứu các chính sách kinh tế - xã hội có liên quan đến chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công theo phân công của Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; giải pháp tạo nguồn cho cải cách chính sách tiền lương, cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, đề xuất các biện pháp để xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công. (Vneconomy.vn 28/6, Phúc Minh)Về đầu trang
Đến năm 2025 đào tạo được 1.000 chuyên gia chuyển đổi số
Đây là đề xuất của Bộ Thông tin và Truyền thông tại dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Nâng cao nhận thức, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Dự thảo xác định ba trụ cột chính của chuyển đổi số quốc gia là: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, để từ đó xây dựng chiến lược nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia, phù hợp với từng mục tiêu, từng lĩnh vực, từng đối tượng, đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Cũng theo dự thảo, mục tiêu đến năm 2025 phấn đấu 100% cán bộ lãnh đạo, 60% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước hằng năm được tham gia tập huấn, đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, kỹ năng số, công nghệ số... (Hanoimoi.com.vn 29/6)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Quảng Bình: Quyết tâm cải thiện thứ hạng các chỉ số cạnh tranh
“Cần tranh thủ các chương trình, dự án, đẩy mạnh áp dụng công nghệ, quyết tâm cải thiện thứ hạng các chỉ số cạnh tranh trong thời gian tới” - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng nhấn mạnh.
Đó là nội dung chỉ đạo của Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng tại hội nghị nghe và cho ý kiến về các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS); chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), tổ chức vào chiều nay (28/6).
Về chỉ số PCI, kết quả từ năm 2007 đến nay cho thấy, trước năm 2014, thứ hạng PCI của tỉnh Quảng Bình diễn biến theo hướng tích cực, liên tục cải thiện và thăng hạng hàng năm; trong đó cao nhất là năm 2013 với thứ hạng 29/63. Từ năm 2014 đến nay, thứ hạng PCI của tỉnh giảm. Năm 2019 và năm 2020, Quảng Bình duy trì thứ hạng 52/63.
Theo báo cáo, Quảng Bình được đánh giá chỉ số PAR INDEX từ năm 2012 đến nay và liên tục biến động về thứ hạng. Năm 2020 đạt 82,33/100 điểm, xếp thứ 50/63 tỉnh, thành phố, giảm 14 bậc so với năm 2019. Trong đó có các tiêu chí, tiêu chí thành phần do các sở, ngành chủ trì thực hiện không có điểm hoặc chưa đạt điểm tối đa.
Về chỉ số SIPAS, được đánh giá từ năm 2017, trong đó năm 2018 Quảng Bình đạt thứ hạng cao nhất là 24/63 tỉnh, thành phố. Năm 2020, Quảng Bình xếp hạng 60/63 tỉnh, thành phố trong cả nước, giảm 19 bậc so với năm 2019. Chỉ số SIPAS có 5 lĩnh vực và 24 tiêu chí, trong đó năm 2020, cả 5 lĩnh vực đều giảm, giảm sâu nhất là lĩnh vực tiếp nhận, xử lý kiến nghị.
Chỉ số PAPI, năm 2020 Quảng Bình đạt 44,7/80 điểm, giảm 1,15 điểm so với năm 2019, xếp thứ 7/63 tỉnh, thành phố, tụt 1 bậc so với năm 2019. Trong đó có 3 tiêu chí đạt cao gồm: tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; trách nhiệm giải trình với người dân và 2 tiêu chí đạt thấp là: thủ tục hành chính công; quản trị điện tử.
Bí thư Tỉnh ủy Vũ Đại Thắng cho biết: "Chúng ta phải thấy được tầm quan trọng của các chỉ số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả các chỉ số cũng đồng thời cung cấp thông tin cho lãnh đạo Đảng, Chính phủ trong việc đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trước sự biến động của các chỉ số trong những năm qua, đặc biệt sự sụt giảm thứ hạng của năm 2020, các sở, ban, ngành tập trung rà soát, phân tích rõ nguyên nhân, chỉ rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, đề xuất các giải pháp để nâng cao thứ hạng các chỉ số trong thời gian tới". (Baodansinh.vn 28/6, Thu Hương)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Xếp hạng chỉ số cải cách hành chính: Nhiều bộ, ngành tụt hạng vì chậm trễ
Trong Bảng xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 (PAR Index 2020) vừa được công bố, Bộ Khoa học và Công nghệ nằm trong nhóm 3 bộ cuối bảng (cùng Bộ Y tế, Bộ Giáo dục&Đào tạo). So với lần xếp hạng trước, Bộ Khoa học và Công nghệ tụt tới 9 bậc, từ thứ 6 xuống thứ 15/17 bộ, ngành được xếp hạng.
TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cảm thấy lo ngại vì thông tin trên. “Vấn đề nằm ở chỗ, cơ quan nắm quyền quản lý nhà nước về lĩnh vực đòi hỏi tính đổi mới, sáng tạo nhất, đòi hỏi dám nghĩ, dám làm nhất, nhưng lại chậm cải cách nhất”, ông Cung lý giải.
Các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp thấu hiểu thực tế đó hơn cả. Hiện tại, nhóm các hiệp hội doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến thực phẩm, gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại tiếp tục họp nhóm để bàn về những kiến nghị sẽ gửi tới Bộ Khoa học và Công nghệ liên quan đến nhãn hàng hóa, mã số, mã vạch. Họ đã theo đuổi việc này từ năm 2018 đến nay, chịu thua thiệt rất nhiều bởi những quy định “không giống ai”. Nhưng có vẻ như, những việc cần phải làm vẫn còn nhiều.
Đáng nói là, doanh nghiệp rất lo ngại vì tốc độ xử lý kiến nghị của doanh nghiệp quá chậm, chưa kể, không ít đề xuất từ thực tiễn trước đó không được tiếp thu mà không rõ lý do... Có thể thấy rõ điều này khi niềm tin của họ vào bản dự thảo sửa đổi các nghị định về các biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa mà Bộ Khoa học và Công nghệ vừa cập nhật, rất bấp bênh.
Thậm chí, tại Hội thảo về Chất lượng thông tư và công văn - góc nhìn từ doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức cuối tuần trước, Bộ Khoa học và Công nghệ được nhắc đến trong ví dụ về văn bản được ban hành (Thông tư số 20/2014/TT-BKHCN về nhập khẩu dây chuyền thiết bị đã qua sử dụng), nhưng không có hiệu lực ngày nào vì không phù hợp, buộc phải ngưng hiệu lực. Không những vậy, văn bản sửa đổi 1 năm sau cũng rơi vào tình thế nhiều quy định không biết sẽ thực thi thế nào... Thời điểm đó, thứ hạng trên Bảng xếp hạng PAR Index của Bộ Khoa học và Công nghệ là 17/19 (năm 2015) và 19/19 (năm 2014).
Tất nhiên, không thể chỉ dựa vào một chỉ số xếp hạng để bàn hết ngóc ngách những khó khăn mà doanh nghiệp phải đối mặt do các quy định không phù hợp, do sự chậm trễ trong hoàn thiện hệ thống văn bản. Song PAR Index là chỉ số đo lường tốc độ, chất lượng cải cách hành chính của các bộ, ngành, địa phương.
Xếp hạng thấp trên Bảng xếp hạng PAR Index 2020 đồng nghĩa, các chỉ số về Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính; Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; Cải cách thủ tục hành chính cũng như các chỉ số Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức... thấp hơn các bộ, ngành khác.
Thực tế là, khá nhiều tồn tại trong cải cách hành chính của Bộ Khoa học và Công nghệ đang là vấn đề chung, tác động lớn tới niềm tin, nỗ lực đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp.
Trong buổi công bố PAR Index 2020 tổ chức cuối tuần trước, Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình cũng chỉ rõ những hạn chế này. Đó là, lãnh đạo của một số bộ, ngành, địa phương chưa thể hiện vai trò, trách nhiệm đúng mức trong việc thúc đẩy cải cách để bảo đảm tạo chuyển biến rõ rệt trong hoạt động quản lý nhà nước; vẫn còn một số tồn tại, hạn chế tại một số nội dung cải cách thể chế chưa được xử lý, tháo gỡ. Một số nội dung cải cách tổ chức bộ máy hành chính chưa đạt yêu cầu. Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức còn chưa nghiêm...
Phó thủ tướng đặt rõ yêu cầu: người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương phải tiếp tục có biện pháp, giải pháp mới, đột phá, phù hợp để cải thiện, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công cho người dân, tổ chức; đồng thời trực tiếp chịu trách nhiệm với kết quả cải cách hành chính thuộc phạm vi quản lý.
Lo ngại các bộ chậm cải cách không còn là chuyện của riêng doanh nghiệp, chuyên gia. Đây hiện là yêu cầu phải thay đổi quyết liệt từ Chính phủ. (Baodautu.vn 29/6, Bảo Duy)Về đầu trang
Bộ NN&PTNT: Chấn chỉnh công tác cải cách hành chính
Ngày 28/6, Bộ NN&PTNT tổ chức cuộc họp đánh giá về công tác cải cách thủ tục hành chính thời gian qua. Tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến nêu rõ, phải làm rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến vị trí xếp hạng cải cách hành chính của ngành.
Năm 2020, chỉ số cải cách hảnh chính của Bộ NN&PTNT đạt thấp hơn 2 năm trước, từ vị trí thứ 4 xuống xếp hạng ở vị trí thứ 9 trong tổng số 17 bộ, ngành…
Đáng chú ý, chỉ số cải cách hành chính lĩnh vực “cải cách thủ tục hành chính” của Bộ đạt thấp, xếp thứ 16 trong tổng số 17 bộ, ngành, thấp nhất về thứ hạng trong 7 lĩnh vực được đánh giá. Hầu hết các lĩnh vực còn lại xếp thứ hạng ở khoảng giữa của 17 bộ, ngành.
Các đại biểu cho rằng, để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp cần tiếp tục loại bỏ những thủ tục hành chính không hợp lý; nâng cao trách nhiệm cán bộ giải quyết thủ tục hành chính; rà soát các tài liệu chuyên ngành, các hồ sơ chưa thể hiện dữ liệu số; đầu tư công nghệ thông tin để hiện đại hóa các thủ tục hành chính được giao…
Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ NN&PTNT cho rằng, nếu không khắc phục những tồn tại và hạn chế thì việc khôi phục lại vị trí xếp hạng về cải cách thủ tục hành chính của Bộ sẽ khó thực hiện. Bà Kim Anh cho biết cần coi trọng hơn những đánh giá về tính hợp lý, phù hợp, khả thi và đặc biệt là tính kịp thời. “Kịp thời ở đây là ban hành văn bản kịp thời, tổ chức xây dựng văn bản kịp thời, những ý kiến từ tổ chức cá nhân gửi đến Bộ cũng cần giải quyết kịp thời", bà Kim Anh phân tích.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến yêu cầu, các đơn vị tiếp tục rà soát, đánh giá và rút kinh nghiệm theo từng lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần.
Theo đó, xác định rõ những tồn tại, hạn chế, có biện pháp khắc phục kịp thời để nâng cao chất lượng, hiệu quả cải cách hành chính của Bộ và các đơn vị trong thời gian tới. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, cải cách thủ tục hành chính mà không hành động quyết liệt thì sẽ bị tụt hậu. Vì vậy, các đơn vị tập trung rà soát các nội dung, nhiệm vụ Kế hoạch cải cách hành chính đã thực hiện 6 tháng qua, kịp thời điều chỉnh bổ sung theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ để triển khai thực hiện bảo đảm tiến độ, bám sát các yêu cầu quy định tiêu chí, tiêu chí thành phần theo Bộ Chỉ số cải cách hành chính đã quy định.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, trong thời gian ngắn phải khôi phục lại vị trí xếp hạng của Bộ trong cải cách thủ tục hành chính: “Vụ Tổ chức cán bộ cùng với Văn phòng xây dựng tiêu chí đánh giá chấm điểm cải cách thủ tục hành chính của các đơn vị. Các đơn vị sẽ tiến hành họp 3 tháng/lần, 6 tháng sơ kết và tổng kết sau 1 năm. Những thủ tục nào thuộc đơn vị nào đã hoàn thành và chưa hoàn thành phải chấm điểm cụ thể, phải lượng hóa". Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu "lãnh đạo các cục, vụ phải cam kết trách nhiệm, nếu không hoàn thành phải chịu trách nhiệm theo quy định”. (Baochinhphu.vn 28/6, Đỗ Hương)Về đầu trang
Nguy cơ tăng phí, doanh nghiệp như ngồi trên đống lửa
Chuyện “có xin mới có cho” vẫn là nỗi ám ảnh của doanh nghiệp (DN) nếu nhìn vào vấn đề hoãn thời gian thu phí cảng biển tại TP Hồ Chí Minh. Ngay cả DN ngành thủy sản cũng lấn cấn chuyện này khi họ muốn xin cho hàng kiểm dịch, hàng vừa kiểm tra an toàn thực phẩm vừa kiểm dịch được làm thủ tục trên hệ thống một cửa.
Mới đây, sau một loạt kiến nghị từ các DN và hiệp hội ngành hàng, UBND TP Hồ Chí Minh đã có động thái đề nghị HĐND thành phố điều chỉnh thời gian thu phí hạ tầng cảng biển từ 0 giờ ngày 1/7 thành 0 giờ ngày 1/10/2021. Trước đó, vào tháng 12/2020, HĐND TP Hồ Chí Minh đã có Nghị quyết về ban hành mức thu phí hạ tầng cảng biển trên địa bàn.
Với việc lùi thời gian thu phí hạ tầng cảng biển thêm 3 tháng đồng nghĩa TPHCM sẽ hoãn thu 723 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều DN và hiệp hội ngành hàng vẫn chưa thể yên tâm với đề xuất trong vỏn vẹn 3 tháng như vậy.
Trong công văn gửi Sở Giao thông Vận tải TP HCM, Hiệp hội DN Dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) có kiến nghị nên dời thời gian bắt đầu thu phí cảng biển đến ngày 1/7/2022 thay vì “từ 0h ngày 1/10/2021”.
Theo VLA, việc lùi thời gian thu phí cảng biển sang năm 2022 sẽ phần nào giảm bớt áp lực, khó khăn về tài chính vận hành các chuỗi cung ứng của DN trước tác động kéo dài của dịch Covid-19. Đặc biệt là kịp thời hỗ trợ các DN Việt Nam ổn định, phát triển đúng với chủ trương đẩy mạnh phát triển logistics, đảm bảo lợi ích của quốc gia và của DN Việt Nam, như Quyết định số 221 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/1/2021.
“Căn cứ vào tình hình thực tế, trong bối cảnh Chính phủ đang thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch Covid-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, thì khoản tăng thêm chi phí sử dụng dịch vụ sẽ trở thành rào cản lớn cho các DN Việt Nam, qua đó giảm năng lực cạnh tranh quốc tế trong hoạt động kinh doanh”, VLA nhấn mạnh.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ở một số cảng, giá vận tải đã tăng gấp đôi so với mấy tháng trước và gấp gần 6 lần so với đầu năm 2020. Đây là một trong những nguyên nhân làm chi phí logistics tăng, gây khó khăn cho hoạt động của DN.
Theo lưu ý của VCCI, mức phí hạ tầng cảng biển mà TP HCM thời gian tới có mức cao nhất là 4,4 triệu đồng/container, thấp nhất là 15.000 đồng/tấn đối với hàng rời không đóng trong container. “Dù việc thu phí là để sớm hoàn thiện hạ tầng giao thông cảng biển, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, nhưng nhiều DN xuất nhập khẩu lo lắng trong bối cảnh DN đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, mức thu kể trên sẽ làm chi phí xuất nhập khẩu tăng lên, nhất là với những DN mở tờ khai ngoài TP HCM”, đại diện VCCI nhấn mạnh.
Đại diện của Hiệp hội DN TP HCM cũng cho rằng, DN đang gánh nhiều thuế phí nên TP HCM cần xem xét giảm mức phí cho DN khi mà chi phí logistics đã rất cao, còn việc lùi 3 tháng hay một năm không quyết định được gì cả.
Mới đây, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) đã đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp xem xét đưa vào Dự thảo Nghị định Quy định những sản phẩm thực phẩm đang phải kiểm dịch và những thực phẩm vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm, vừa kiểm dịch “cũng được làm thủ tục hoàn chỉnh trên hệ thống một cửa quốc gia”, thay vì 2 cửa - vừa nộp trên hệ thống một cửa, vừa nộp hồ sơ giấy như hiện nay. Điều này nhằm tháo gỡ khó khăn lớn cho sản xuất, kinh doanh nhiều năm qua mà Nghị định 15/2018/NĐ-CP chưa giải quyết được.
Lý do để VASEP đưa ra đề nghị trên là vì thực phẩm dùng làm thức ăn cho người đều từ 2 nguồn là động vật và từ thực vật. Với nguồn từ động vật thì Bộ NN&NPTNT đang quy định (danh mục, phương thức kiểm tra, thủ tục…) tại 4 Thông tư.
Tuy nhiên, cả 4 Thông tư này đều là “Kiểm dịch nhập khẩu” hết. Như vậy, hầu hết sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc động vật (trên cạn, dưới nước) là thực phẩm đều đang phải thực hiện kiểm dịch theo phương thức và thủ tục riêng theo quy định trong Thông tư của Bộ, trong khi đúng theo thông lệ quốc tế và cơ sở khoa học, thì hầu hết các sản phẩm dùng làm thực phẩm chỉ kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu.
Như đánh giá và nhận định sơ bộ của VASEP và các chuyên gia, với quy định hiện hành của Bộ NN&PTNT, có đến ít nhất 70% thực phẩm sẽ không thuộc phạm vi của Dự thảo Nghị định, và như vậy mục tiêu của Quyết định 38/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (phê duyệt Đề án cải cách mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu) và Dự thảo này sẽ bị giảm đi rất nhiều. (Daidoanket.vn 29/6, Quốc Định)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
“Trên 99% cán bộ công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ thì tinh giản ai”
Một trong những lý do khiến các đơn vị khó tìm ra đối tượng không hoàn thành nhiệm vụ để tinh giản là do đánh giá cán bộ công chức cuối năm có đến 99% cán bộ công chức hoàn thành tốt, thậm chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Theo báo cáo của Chính phủ, trong năm 2020, cả nước đã tinh giản biên chế được gần 24.000 người. Tính cả giai đoạn 2016-2020, trong tinh giản biên chế gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan, đơn vị đã giảm hơn 27.000 biên chế công chức, gần 243.000 biên chế viên chức.
Nổi bật trong công tác tổ chức sắp xếp bộ máy hành chính các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương là việc hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, xã, sắp xếp thôn, tổ dân phố. Về tinh giản biên chế, các cơ quan đơn vị đã giảm trên 27.500 biên chế công chức. Ngoài ra, công chức từ cấp huyện trở lên giảm 40.000 người, giảm gần 148.000 cán bộ công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, tổ dân phố.
Theo Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, mặc dù còn nhiều khó khăn, vướng mắc từ trung ương đến địa phương, nhưng các bộ ngành, đặc biệt là các địa phương, rất nỗ lực, tới nay, kết quả đạt được khá tốt, đã giảm được một tỷ lệ khá lớn các đơn vị hành chính cũng như các đơn vị sự nghiệp (khoảng 25%), số lượng biên chế đã giảm khá ấn tượng, trên 10% biên chế công chức và gần 11% biên chế viên chức. Đây cũng là một kinh nghiệm tốt để chúng ta tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Trong nỗ lực tinh giản biên chế ở các bộ ngành địa phương, Quảng Ninh được xem là một trong những địa phương chủ động, quyết liệt sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, thực hiện tinh giản biên chế theo vị trí việc làm. Toàn bộ 13 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng đã thực hiện hợp nhất Ban Tổ chức cấp ủy với Phòng Nội vụ cấp huyện thành cơ quan tổ chức nội vụ; Ủy ban kiểm tra với thanh tra cấp huyện thành cơ quan kiểm tra thanh tra.
Còn Hà Nội là một trong những địa phương được đánh giá đi đầu cả nước về triển khai đề án vị trí việc làm. Sau 3 năm triển khai đề án vị trí việc làm, thành phố đã có 646 trường hợp phải thay đổi vị trí việc làm, trong đó 96 trường hợp điều chuyển để phù hợp với bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu của vị trí việc làm; 317 trường hợp phải đào tạo, bồi dưỡng bổ sung cho phù hợp với vị trí việc làm và 154 trường hợp phải nghỉ tinh giản biên chế, 79 trường hợp thôi việc và bố trí công tác khác”, bà Liễu cho biết thêm.
Năm 2021, biên chế hành chính của Hà Nội là hơn 9.000 người, trong đó công chức gần 8.000 biên chế, giảm 115 người so với năm 2020. Cùng với giảm biên chế công chức, Hà Nội cũng sẽ thực hiện giảm hơn 6.000 biên chế viên chức so với năm 2020.
Mặc dù các bộ ngành địa phương đã thực hiện khá quyết liệt việc tinh giản biên chế nhưng theo đánh giá của một số chuyên gia trong lĩnh vực tổ chức cán bộ, tinh giản biên chế chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Tổng biên chế cả nước không những không giảm mà ở nhiều nơi còn còn có chiều hướng tăng.
PGS.TS Vũ Quang Thọ, nguyên Viện trưởng Viện Công nhân, công đoàn, nêu thực tế, chúng ta tinh giản, nhưng chỗ này chỗ kia lại phình ra, như thế là chưa làm được. Có chỗ này, chỗ kia xem xét lại, thậm chí có bộ ngành cũng tự nguyện tinh giản bộ máy quản lý, nhưng chúng ta vẫn chưa làm được hoặc chưa có kết quả lớn, đem lại hiệu lực cho quản lý nhà nước. (Vov.vn 29/6)Về đầu trang
Cần nghiên cứu sáp nhập các bộ?
“Việc nghiên cứu sắp xếp lại các bộ, ngành theo hướng khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ là rất cần thiết. Lúc đó sẽ phân định rõ bộ máy ở Trung ương tập trung vào hoạch định chính sách, kiểm tra, giám sát, còn cấp địa phương thì tổ chức thực hiện”, ông Nguyễn Tiến Dĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ nêu quan điểm.
Theo ông Dĩnh, chúng ta có hẳn một đề án công phu về vấn đề này. Ban Tổ chức Trung ương đi khảo sát, tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo và đưa ra một đề án rất công phu, rồi đề xuất lên Trung ương. Nhưng lúc đó chưa quyết chuyện sắp xếp các bộ, ngành, mà chủ yếu sắp xếp các đơn vị sự nghiệp. Chúng ta đã có tiền đề trong việc thực hiện sắp xếp bộ máy ở cấp cơ sở.
Với yêu cầu của sự phát triển mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, đòi hỏi một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả hơn, theo hướng Nhà nước kiến tạo, phát triển thì rõ ràng cần thay đổi từ quản lý Nhà nước sang quản trị Nhà nước.
Để làm được điều này, cần có sự phân cấp nhiều hơn, bộ máy hành chính cũng phải tinh gọn, hiệu quả hơn. Việc nghiên cứu sắp xếp lại các bộ, ngành theo hướng khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ là rất cần thiết. Lúc đó sẽ phân định rõ bộ máy ở Trung ương tập trung vào hoạch định chính sách, kiểm tra, giám sát, còn cấp địa phương thì tổ chức thực hiện. Nhưng đi kèm với phân cấp trách nhiệm cũng phải trao quyền, tạo điều kiện nhiều hơn cho địa phương trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trả lời câu hỏi: Những bộ, ngành nào có thể tiến hành sáp nhập cho tinh gọn, hiệu quả như mục tiêu đề ra? Ông Dĩnh nói: Rõ ràng bộ máy cồng kềnh sẽ dẫn đến đội ngũ cán bộ rất lớn, chất lượng, hiệu quả hạn chế. Do vậy, tiếp tục thực hiện Đề án đã nghiên cứu là hết sức cần thiết và phù hợp. Trước đây, chúng ta mới chỉ đặt ra vấn đề sắp xếp giữa các Bộ KH&ĐT với Tài chính, Bộ GTVT với Xây dựng, bây giờ một số bộ, ngành khác cũng cần phải tính đến. Chẳng hạn như lĩnh vực giáo dục với khoa học và công nghệ, nông nghiệp - công thương…
Nhiều nước như Mỹ cũng chỉ có 15 bộ, có nước chỉ 8 bộ, tất nhiên số lượng các bộ còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Tuy nhiên với mục tiêu cải cách hành chính, tiếp tục tinh giản bộ máy nên vẫn cần phải thực hiện, bởi hiện nay bộ máy ở Trung ương còn cồng kềnh. Nhưng cần phải cân nhắc kỹ, sắp xếp làm sao cho phù hợp, nếu không lại nhập vào - tách ra, rất mệt.
Sáp nhập bao nhiêu bộ phải rà soát lại chức năng nhiệm vụ cụ thể của mỗi bộ, ngành. Cấp bộ phải tập trung vào hoạch định chính sách, kiểm tra, giám sát, còn lại phân cấp xuống địa phương như tôi vừa đề cập, như thế số lượng sẽ giảm đi.
Bộ máy Trung ương không nên làm nhiệm vụ quản lý, cung cấp dịch vụ công, hành chính công, hay các nhiệm vụ công ích. Ví dụ, Bộ GTVT với nhiều Ban Quản lý dự án, nay chuyển xuống cho địa phương, Bộ không trực tiếp quản lý dự án nữa. Hay trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, vấn đề thi cử là việc của địa phương, các trường. Bộ GD&ĐT không lo việc đó nữa mà tập trung quản lý, đưa ra khung và tiêu chí chung, còn lại giao cho địa phương chịu trách nhiệm thực hiện, như vậy sẽ tốt hơn.
Còn với số lượng cấp phó, ông Dĩnh cho rằng: Nên hạn chế thôi, đừng nhiều cấp phó quá. Vì thực ra cuối cùng người chịu trách nhiệm vẫn là cấp trưởng. Hiện nay, mỗi lĩnh vực trong bộ chúng ta lại có một cấp phó phụ trách, như vậy không phù hợp. Đối với các nền hành chính tiên tiến, họ cũng chỉ có một trưởng, một phó, mà cấp phó chỉ chủ yếu giúp điều hành nội bộ. Chúng ta, như cấp vụ lại qua cấp phó là thứ trưởng, rồi mới lên bộ trưởng, rất mất thời gian.
Bởi vậy, cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan tham mưu, chẳng hạn ở các bộ là các vụ. Cần thiết đưa lên cấp trưởng quyết luôn, không cần thông qua cấp phó, như vậy sẽ đề cao trách nhiệm cấp vụ. Các nước tiên tiến, bộ chỉ có một thứ trưởng nhưng vẫn hiệu quả, rõ trách nhiệm. Còn nếu thông qua cấp phó, tưởng là chặt chẽ vì được sàng lọc qua nhiều bước, nhưng như vậy dễ dẫn đến chuyện ỉ lại và cũng không nâng cao được trách nhiệm. Cấp phòng thì bảo có vụ lo, cấp vụ lại bảo có thứ trưởng rồi…
Một việc mà rất nhiều cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm, cuối cùng lại không ai chịu trách nhiệm cả. Vì thế phải sắp xếp lại cho hiệu quả, một việc một người làm và chịu trách nhiệm. Bớt cấp phó đi thì vai trò và trách nhiệm của cấp vụ là hết sức quan trọng đối với bộ trưởng.
Với cấp Phó Thủ tướng cũng vậy. Mặc dù đã từng bước giảm số lượng đi, nhưng chúng ta vẫn còn 5 Phó Thủ tướng phụ trách từng lĩnh vực khác nhau. Xu hướng cũng cần giảm đi, đồng thời đề cao trách nhiệm của các bộ. Lúc đó các bộ là cơ quan tham mưu và phải chịu trách nhiệm trước thủ tướng. Nếu vấn đề gì sai cứ “gõ” các bộ. Nếu từ cấp bộ lên thẳng Thủ tướng, các bộ sẽ phải đề cao chịu trách nhiệm, và có thể giảm độ trễ một cách tối đa. (Tiền phong 29/6, Thành Nam)Về đầu trang
Triển khai kế hoạch giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ trong toàn quốc
Sáng 29/6, tại Hà Nội, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến tập huấn, triển khai hai chuyên đề giám sát năm 2021, gồm: Giám sát tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ.
Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngô Sách Thực cho biết, thực hiện Kế hoạch số 240/KH-MTTW-UB ngày 31/12/2020 về Kế hoạch giám sát, phản biện xã hội năm 2021, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần đầu tiên xây dựng kế hoạch triển khai giám sát hai chuyên đề trên phạm vi toàn quốc.
Trong đó, việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của chủ tịch UBND các cấp được thực hiện theo quy định của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản quy phạm hướng dẫn. Qua giám sát một số địa phương trong những năm vừa qua cho thấy, kể từ khi có những quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chính quyền địa phương mà nhất là Chủ tịch UBND các cấp đã quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả chưa được như mong muốn, quyền của người dân chưa được thực hiện và bảo vệ triệt để; mặt khác vần đề này cũng là vần đề đang được cử tri và nhân dân quan tâm.
Bên cạnh đó, công tác giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ đã được quy định trong các văn bản của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tuy nhiên, đây là vấn đề còn mới, khó làm. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức triển khai, giám sát thí điểm ở một số địa phương, đã ban hành thông tri hướng dẫn, một số địa phương đã triển khai và có kết quả bước đầu.
Để thực hiện yêu cầu nhiệm vụ mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Năm nay, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành kế hoạch giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc, có phân cấp cụ thể với một số nội dung cơ bản, quan trọng trong công tác cán bộ, và đảng viên. (Nhandan.com.vn 29/6, Vĩnh Khang)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Những thông tư trật chìa làm khổ người kinh doanh
“Chúng tôi nhận được nhiều kêu cứu, kêu oan của doanh nghiệp trong việc áp dụng pháp luật, công văn hướng dẫn không nhất quán” - đại diện VCCI.
Những ngày vừa qua, Pháp Luật TP.HCM và nhiều cơ quan báo chí, chuyên gia đã đề cập đến hướng dẫn thuế cho thuê tài sản đối với hợp đồng thuê nhà trong Thông tư 40/2021 của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 1-8 tới đây.
Vấn đề sẽ không có gì phải bàn nếu một số ví dụ mà Thông tư 40/2021 nêu tuân thủ theo đúng quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật Thuế thu nhập cá nhân. Đó là cá nhân, hộ kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế GTGT.
Thế nhưng thông tư lại đưa ra ví dụ cho rằng cá nhân, hộ kinh doanh có doanh thu cho thuê nhà dưới 100 triệu đồng/năm trở xuống vẫn phải nộp thuế GTGT, thuế thu nhập cá nhân. Quy định này có thể đẩy hàng vạn người đang cho thuê nhà vào tình trạng phải nộp thuế oan, bị truy thu thuế oan.
Luật sư Trương Thanh Đức nhận định: “Thông tư quy định như vậy là trái luật, gây khó khăn, thiệt hại cho người nộp thuế. Kiểu quy định nắm đằng chuôi và tận thu, dễ do cơ quan quản lý, khó cho người dân”.
Sau khi vấp phải ý kiến phản đối từ nhiều phía, Tổng cục Thuế mấy lần ban hành thông báo giải thích rõ lại. Cuối cùng, Bộ Tài chính phải phát thông báo khẳng định rằng: Cho thuê nhà mà doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thì không phải nộp thuế.
Mới đây nhất, ông Đồng Ngọc Ba, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp), khẳng định rằng ví dụ trong Thông tư 40 nêu trên là không thống nhất với nội dung khác của chính thông tư này, không phù hợp với quy định của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế thu nhập cá nhân. Chính vì vậy, cơ quan này đã có ý kiến và làm việc với Tổng cục Thuế, Vụ Pháp chế của Bộ Tài chính. Đồng thời xem xét đề nghị Bộ Tài chính xử lý theo quy định.
Như vậy, có thể coi câu chuyện thuế cho thuê nhà ở Thông tư 40/2021 của Bộ Tài chính đã kết thúc có hậu. Người cho thuê nhà không bị tận thu, không bị gây khó.
Nhưng không phải thông tư nào cũng có kết thúc nhanh và có hậu như vậy với những điều chưa phù hợp. Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nói có những thông tư còn quy định cả những vấn đề không có trong luật. Chẳng hạn, có thông tư quy định phải ghi mã số mã vạch trên sản phẩm trong khi Luật Chất lượng hàng hóa không quy định.
“Có thông tư của Bộ NN&PTNT khiến cho tôm đông lạnh nếu xuất khẩu thì do đơn vị an toàn thực phẩm quản, nếu nhập khẩu thì lại do một đơn vị về… kiểm dịch thú y quản. Chúng tôi hay nói vui, tôm động lạnh đi từ trái sang phải thì một tên, đi từ phải sang trái lại tên khác” - ông Nam dẫn chứng.
Bà Trần Ngọc Ánh, đại diện Công ty Abbott, kể có thông tư quy định về hóa chất, về các sản phẩm tái chế…, các doanh nghiệp (DN) được lấy ý kiến trước khi ban hành nhưng thực tế thì cũng chỉ lấy ý kiến hình thức thôi. Lấy ý kiến xong rồi cứ ban hành, rồi lại khó thực hiện.
“Khi dự thảo cuối cùng và thông tư ban hành rồi DN mới đùng một cái phát hiện ra ý kiến không được tiếp thu” - bà Ánh nói và đề nghị có cơ chế để DN có thể biết được ý kiến của mình được tiếp thu ra sao.
Đại diện một tập đoàn có nhánh kinh doanh về giáo dục cũng cho hay: Có thông tư của Bộ GD&ĐT không quy định thời hạn hoạt động của các cơ sở giáo dục tư thục, do vậy các sở giáo dục ở các tỉnh cấp phép hoạt động có thời hạn khác nhau. Việc không thống nhất này ảnh hưởng tới việc xin giấy phép lao động cho người nước ngoài, chi phí rất cao.
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nêu ra nghịch lý là có thông tư hoặc văn bản hướng dẫn thậm chí còn có hiệu lực cao hơn cả luật và nghị định, dù trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thông tư được xếp ở vị trí cuối cùng. Còn công văn, dĩ nhiên không nằm trong hệ thống ấy. Nhưng cả thông tư và công văn lại gây ra những phiền hà cho DN rất nhiều.
Ông Tuấn dẫn chứng trong luật quy định thông tư không được ban hành điều kiện kinh doanh nhưng thực tế tình trạng này vẫn còn. Chẳng hạn, Thông tư 03/2018 của Ngân hàng Nhà nước quy định về điều kiện cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô, thủ tục cấp các loại giấy phép xuất khẩu trong hoạt động kinh doanh vàng.
“Có tình trạng thông tư không thống nhất với nghị định, như Thông tư 02/2021 của Bộ GTVT quy định về việc lắp camera phải theo dõi được khoang hành khách, trong khi Nghị định 10/2020 lại không yêu cầu về vấn đề này” - ông Tuấn dẫn chứng.
Có thông tư còn quy định thiếu rõ ràng, tạo cách hiểu không nhất quán. “Ví dụ, Thông tư 21/2018 của Bộ GD&ĐT đưa ra định nghĩa về giáo viên của trung tâm ngoại ngữ, trong đó có sử dụng khái niệm người bản ngữ nhưng không giải thích thêm về khái niệm này nên không biết thực hiện thế nào” - ông Tuấn cho hay.
Cũng chính vì nhiều điều không rõ ràng nên DN và địa phương còn phải phát công văn lên hỏi các bộ, ngành. Thời gian trả lời lâu và đôi khi công văn trả lời còn làm cho tình hình phức tạp hơn, khó hiểu hơn.
“VCCI nhận được nhiều kêu cứu, kêu oan của DN trong áp dụng pháp luật, công văn hướng dẫn không nhất quán. Thậm chí trong các thư phản ánh về VCCI, có trường hợp DN nói đã gửi công văn cho một bộ yêu cầu giải đáp thắc mắc nhưng… 10 năm rồi không thấy trả lời. Chờ đợi nhiều năm thành ra dự án phải đình trệ và ách tắc không được giải quyết. Nhiều nhà kinh doanh rơi vào tình cảnh dở khóc dở cười” - ông Tuấn nói.
Ông Nguyễn Hoài Nam đề nghị cần phải có chế tài đối với các công chức, cơ quan quản lý nhà nước nếu ban hành thông tư, công văn sai với luật hoặc làm chậm chễ quá trình thi hành pháp luật, phương hại đến quyền lợi của DN.
“Người dân, DN sai thì bị xử lý kinh lắm nhưng chế tài cho cán bộ, công chức mỗi khi làm sai thì rất ít. Tôi chưa thấy ai bị kỷ luật trong khi các quy định của pháp luật đã có” - ông Nam nói. (Plo.vn 29/6, Chân Luận)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Indonesia sẽ cải cách nhằm giảm chênh lệch thuế
Bộ trưởng Tài chính Indonesia Sri Mulyani Indrawati ngày 28/6 cho biết, nước này sẽ tiến hành một cuộc cải cách thuế do chính phủ thực hiện nhằm mục đích giảm chênh lệch thuế của Indonesia. Từ năm 2019 đến nay, thuế vẫn ở mức 8,5%.
Theo bà Sri Mulyani, mức chênh lệch thuế của Indonesia vẫn còn xa so với mức thuế thông thường của các nước thuộc Tổ chức và Hợp tác Kinh tế (OECD) và các nước phát triển khác ở mức 3,6%. Đây là một khoảng chênh lệch về thuế mà Indonesia phải giảm gần 5% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Việc giảm khoảng chênh lệch thuế của Indonesia xuống 5% GDP có thể đạt được nếu tuân thủ 100% các quy định về thuế. Điều này có nghĩa là cách xử lý thuế đối với tất cả lĩnh vực là như nhau, không có ưu đãi về cơ sở vật chất, chênh lệch thuế quan và không có quỹ ủy thác miễn thuế hoặc thu nhập không chịu thuế (PTKP).
Vấn đề này sẽ được thảo luận thêm với Hạ viện về nền tảng kinh tế quốc gia thông qua việc giảm chênh lệch thuế xuống mức bình thường.
Cũng theo bà Sri Mulyani, việc đưa Indonesia đến gần hơn với các thông lệ diễn ra trên toàn cầu trong khi vẫn bảo vệ lợi ích của quốc gia và nền kinh tế cũng như đứng về phía các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.
Cải cách thuế thực sự đã được thực hiện từ năm 1983 cho đến nay thông qua nhiều nỗ lực khác nhau bằng cách theo sát các diễn biến toàn cầu. Cải cách thuế từ cả khía cạnh chính sách và hành chính sẽ có thể cải thiện việc tuân thủ và thu thuế, do đó giảm chênh lệch thuế xuống mức bình thường.
Năm 1992, thuế bắt đầu trở thành “xương sống” của nguồn thu ngân sách nhà nước. Cải cách thuế cũng đã làm tăng số lượng người nộp thuế đăng ký (WP) lên 20 lần trong 20 năm.
Điều này được thể hiện qua số lượng người nộp thuế đăng ký năm 2002 là 2,59 triệu và đã tăng mạnh lên 49,82 triệu người nộp thuế vào năm 2021. Tỷ lệ người nộp thuế cá nhân (OP) trên dân số lao động cũng tăng từ 1,82% lên 34,66%. (TTXVN/Bnews.vn 29/6, PV)Về đầu trang./.