Bản tin cải cách hành chính ngày 30/6/2021

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị

2. Bí quyết của Quảng Ninh trong cải cách hành chính

3. Lào Cai sẽ có 11 Văn phòng Thừa phát lại trong giai đoạn 2021-2030

4. Ninh Bình: Nỗ lực trong cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Các đơn vị kinh doanh vận tải được đăng ký tuyến khai thác online

6. Bộ Ngoại giao tiếp tục giữ thứ hạng cao về xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2020

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Mặt trận sẽ giám sát công tác cán bộ

8. Sửa đổi chế độ nâng bậc lương thường xuyên, trước thời hạn với cán bộ, công chức

9. Bình quân mỗi Sở LĐ-TB&XH có không quá 3 Phó Giám đốc

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Không bôi trơn để nuôi tham nhũng

11. Thông tư hướng dẫn - tắc càng thêm tắc

TIN THẾ GIỚI

12. Hàn Quốc thay đổi chính sách thị thực đối với người nước ngoài

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị

Ngày 1/7, TP Hà Nội sẽ chính thức thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội tại các phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây.

Để chuẩn bị cho thực hiện mô hình chính quyền đô thị, tại kỳ họp thứ nhất, khóa XVI, HĐND thành phố Hà Nội đã thảo luận và quyết nghị thông qua quy định về điều chỉnh phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ phần trăm phân chia nguồn thu giữa ngân sách quận, thị xã, phường khi áp dụng thí điểm mô hình chính quyền đô thị.

Bà Hồ Vân Nga - Trưởng ban Kinh tế, ngân sách HĐND TP Hà Nội đánh giá, các nội dung trình của UBND TP đều đảm bảo tuân thủ quy định của Nghị định số 32/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ, các quy định của Luật Ngân sách nhà nước và không làm ảnh hưởng đến việc cân đối ngân sách của các quận, thị xã Sơn Tây và thành phố.

Tuy nhiên bà Nga lưu ý, thành phố cần quan tâm việc kịp thời hướng dẫn chính quyền các quận và thị xã Sơn Tây các nội dung xử lý chuyển tiếp về tài chính, ngân sách của các phường để đảm bảo tài chính cho hoạt động của UBND các phường và các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức tại các phường ngay từ ngày 1/7. (Daidoanket.vn 30/6, H.Vũ)Về đầu trang

Bí quyết của Quảng Ninh trong cải cách hành chính

Những nỗ lực đổi mới không ngừng trong công tác cải cách hành chính, tư duy đột phá trong quản lý, điều hành của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở là chìa khoá để Quảng Ninh đạt quán quân trong bảng xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2020.

Theo kết quả công bố của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Quảng Ninh tiếp tục đứng đầu cả nước ở bảng xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2020. Quảng Ninh đã xuất sắc đoạt vị trí quán quân 4 năm liên tiếp chỉ số PAR-INDEX và 2 năm liên tiếp chỉ số SIPAS.

Thực tế cho thấy, từ năm 2020 đến nay trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Quảng Ninh đã tăng cường đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 và tăng tỷ lệ người dùng.

Cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh Quảng Ninh đã cung ứng 1.600 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; hoàn thành tích hợp lên cổng dịch vụ công quốc gia 555 thủ tục. Thời gian giải quyết thủ tục hành chính được rút ngắn, tạo thuận lợi, thông thoáng cho doanh nghiệp, người dân.

Chính quyền từ tỉnh đến cơ sở ở Quảng Ninh đã tập trung thực hiện cải cách quyết liệt, hiệu quả thủ tục hành chính; thực hiện có hiệu quả nguyên tắc “5 tại chỗ” tại trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, trung tâm hành chính công cấp huyện; cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại cấp xã.

Đến nay, trung bình các thủ tục hành chính đưa vào trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh đã được cắt giảm tới 45% thời gian giải quyết so với quy định của Trung ương; 74% thủ tục hành chính được giải quyết theo quy trình "5 tại chỗ" ở cấp tỉnh và có 90-100% ở cấp huyện.

Nhờ đó, mức độ hài lòng của người dân, tổ chức tiếp tục có sự cải thiện đáng kể, đạt 99,7% ở cấp tỉnh và 99,9% ở cấp huyện.

Quảng Ninh cũng tích cực chủ động vào cuộc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Điển hình đã ban hành bốn gói kích cầu du lịch trị giá hàng trăm tỷ đồng, duy trì các chính sách ưu tiên, miễn giảm vé tham quan, lưu trú vịnh Hạ Long, bảo tàng Quảng Ninh, khu di tích danh thắng Yên Tử trong năm 2020 và 2021.

Bên cạnh đó, tỉnh quyết liệt chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục hành chính. Điển hình nhất, có 73/92 kiến nghị của doanh nghiệp đã được giải quyết liên quan đến việc hỗ trợ về thuế, phí, đầu tư, vốn, nguồn lao động, hoạt động du lịch, thương mại, xuất nhập khẩu, đất đai, giải phóng mặt bằng, bảo hiểm, xây dựng...

Những nỗ lực về cải cách hành chính đã giúp Quảng Ninh tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Điều này đã đóng góp quan trọng vào hoàn thành "mục tiêu kép": vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa ổn định kinh tế - xã hội, nhanh chóng phục hồi sản xuất, kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng và củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp với chính quyền tỉnh. (Danviet.vn 30/6, Quỳnh Chi)Về đầu trang

Lào Cai sẽ có 11 Văn phòng Thừa phát lại trong giai đoạn 2021-2030

Sở Tư pháp tỉnh Lào Cai vừa có thông báo về việc thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030, theo đó, việc thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh sẽ được chia thành 2 giai đoạn.

Cụ thể, giai đoạn từ 2021-2025, tỉnh sẽ cho phép thành lập 3 Văn phòng Thừa phát lại. Trong đó, TP. Lào Cai, Thị xã Sa Pa; huyện Bảo Thắng; mỗi địa phương sẽ có 1 Văn phòng Thừa phát lại.

Trong giai đoạn từ 2026-2030, cho phép thành lập thêm 08 Văn phòng Thừa phát lại tại các đơn vị hành chính. Trong đó, TP. Lào Cai và Thị xã Sa pa, mỗi địa phương sẽ phát triển thêm một Văn phòng. Các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Bát Xát, Si Ma Cai, Bắc Hà, Mường Khương, mỗi huyện sẽ phát triển 1 Văn phòng Thừa phát lại.

Theo thông báo của Sở Tư pháp Lào Cai, Thừa phát lại có nhu cầu thành lập Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 bộ hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại đến Sở Tư pháp tỉnh Lào Cai (qua Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh), theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định số 08/2020/NĐ.

Hồ sơ bao gồm: Đơn đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định; Bản thuyết minh về tổ chức, tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện; Bản sao có chứng thực hoặc bản chụp kèm bản chính Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thừa phát lại để đối chiếu

Trước đó, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Đề án phát triển Văn phòng thừa phát lại trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030. Đề án nêu rõ, hiện số lượng việc thụ lý, giải quyết và hồ sơ, giấy tờ tống đạt của TAND, VKSND, Thi hành án dân sự (THADS) trên địa bàn tỉnh có xu hướng ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước.

Việc xây dựng Đề án phát triển văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021-2030 sẽ đáp ứng các yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các giao dịch dân dự, kinh tế và trong quá trình thi hành các bản án, quyết định của TAND, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, giảm tải công việc cho TAND, cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn tại địa phương. (Baophapluat.vn 29/6, Lê Dung)Về đầu trang

Ninh Bình: Nỗ lực trong cải cách hành chính

Thời gian qua, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều nỗ lực trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) thông qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông, bảo đảm công khai, minh bạch.

Đến nay, 18/18 sở, ngành, 8/8 huyện, thành phố, 143/143 xã, phường, thị trấn duy trì thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Đầu tháng 10 năm 2020, Ninh Bình cũng đã thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công, qua đó phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Năm 2020, UBND tỉnh đã ban hành 26 quyết định công bố danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ngành với tổng số 176 TTHC, trong đó: 121 TTHC được công bố mới, 57 TTHC bị hủy bỏ; tổng số TTHC đang thực hiện trên địa bàn tỉnh là 1.874 TTHC, trong đó cấp tỉnh 1.484 TTHC; cấp huyện 260 TTHC; cấp xã 130 TTHC.

Các TTHC sau khi được Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình ký quyết định công bố đã được các sở, ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh niêm yết công khai quy trình, TTHC, số điện thoại, địa chỉ hòm thư tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị theo quy định tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, trên trang thông tin điện tử để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp dễ tra cứu và thực hiện.

Đặc biệt, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã tích cực triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 và triển khai tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích. Số TTHC đang được thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh là 992 TTHC.

Thực hiện nhiều giải pháp, từ năm 2016 đến nay, chỉ số CCHC của tỉnh Ninh Bình luôn nằm trong top 15 tỉnh, thành phố có chỉ số cao nhất trong cả nước, cũng là tỉnh thuộc nhóm 3 địa phương đứng đầu cả nước triển khai thực hiện tốt công tác liên thông các TTHC.

Chỉ số hài lòng đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình được người dân, tổ chức đánh giá cao, là một trong những địa phương xếp hạng thuộc nhóm cao so với cả nước: năm 2019 chỉ số hài lòng trung bình đạt 88,8%, tăng 0,41% so với năm 2018 và tăng 2,63% so với năm 2017; chỉ số hài lòng trung bình của người dân đối với các sở, ban, ngành đạt 89,10%, tăng 0,66% so với năm 2018, tăng 5,18% so với năm 2017; chỉ số hài lòng cấp huyện năm 2019 đạt 88,5%, cao hơn 0,16% so với năm 2018 và 0,08% so với năm 2017.

Năm 2020, chỉ số CCHC của Ninh Bình xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; xếp 16/63 về chỉ số hài lòng về phục vụ hành chính. (Baodansinh.vn 29/6, Thu Hương)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Các đơn vị kinh doanh vận tải được đăng ký tuyến khai thác online

Bộ GTVT sẽ chính thức đưa vào sử dụng phần mềm dịch vụ công trực tuyến đối với thủ tục đăng ký khai thác tuyến vận tải hành khách cố định kể từ ngày 1/7 tại địa chỉ https://tuyenvantai.mt.gov.vn.

Căn cứ vào danh mục mạng lưới tuyến vận tải hành khách cố định, nhà xe có thể chọn giờ xuất bến và đăng ký khai thác tuyến vận tải trực tuyến qua Cổng dịch vụ công Bộ GTVT, thay vì gửi hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện đến cơ quan quản lý tuyến như trước đây. Theo đó, thời gian xử lý cũng được rút ngắn từ 7 ngày xuống còn 3 ngày.

Theo đại diện Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ GTVT, toàn bộ quá trình lựa chọn tuyến đăng ký khai thác, lựa chọn giờ biểu đồ, nộp hồ sơ đăng ký, theo dõi tiến trình của hồ sơ, nhận kết quả của đơn vị kinh doanh vận tải và quá trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thông báo kết quả giải quyết thủ tục hành chính của cán bộ chuyên môn tại các Sở GTVT đều được thực hiện hoàn toàn trên phần mềm. Các quá trình này diễn ra hoàn toàn tự động, khách quan, không cho phép sự can thiệp của các đối tượng sử dụng.

Đơn vị này thông tin thêm, để đưa phần mềm vào áp dụng từ ngày 1/7, Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ cùng với Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã gấp rút triển khai nhiều nội dung với khối lượng công việc lớn trong năm qua. Trong đó, các đơn vị đã cập nhật và số hóa trên 10.000 tuyến vận tải hành khách cố định trên toàn quốc, đồng thờ chỉ đạo và hỗ trợ 63 Sở GTVT cập nhật biểu đồ chạy xe của toàn bộ các tuyến vận tải hành khách cố định thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương.

Việc chính thức đưa vào sử dụng phần mềm dịch vụ công trực tuyến đối với thủ tục đăng ký khai thác tuyến vận tải hành khách cố định đã góp phần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. (Viettimes.vn 30/6, Khánh Linh)Về đầu trang

Bộ Ngoại giao tiếp tục giữ thứ hạng cao về xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2020

Theo kết quả chấm điểm, năm 2020, chỉ số cải cách hành chính của Bộ Ngoại giao đạt 89,18 điểm, tăng 1,54 điểm so với năm 2019 (87,64 điểm). Xếp hạng của Bộ Ngoại giao được nâng một bậc từ thứ 5/17 (năm 2019) lên thứ 4/17.

Ngày 24/6, tại trụ sở Văn phòng Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến công bố Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS 2020) và Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2020).

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, chủ trì Hội nghị. Đây là năm thứ 9 Bộ Nội vụ tiến hành xác định chỉ số cải cách hành chính để đánh giá, xếp loại kết quả cải cách hành chính hàng năm của 17/22 bộ, ngành (trừ Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Dân tộc, Thanh tra Chính phủ) và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo kết quả chấm điểm, năm 2020, chỉ số cải cách hành chính của Bộ Ngoại giao đạt 89,18 điểm, tăng 1,54 điểm so với năm 2019 (87,64 điểm). Xếp hạng của Bộ Ngoại giao được nâng một bậc từ thứ 5/17 (năm 2019) lên thứ 4/17.

Trong số 7 lĩnh vực xác định chỉ số cải cách hành chính có 5 lĩnh vực Bộ Ngoại giao đạt trên 90% tổng điểm, đó là: công tác chỉ đạo điều hành, cải cách tổ chức bộ máy, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa nền hành chính.

Qua việc đánh giá, chấm điểm có thể thấy một số nhiệm vụ Bộ Ngoại giao đã làm tốt và được đánh giá cao, cụ thể:

Thứ nhất là công tác cải cách tổ chức bộ máy (đạt 91,44% tổng điểm, xếp thứ 3/17): Triển khai các Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa 12 về tiếp tục đổi mới, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày 15/10/2017, Bộ Ngoại giao đã nghiêm túc rà soát, sắp xếp, tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng thời đảm bảo thực hiện hiệu quả chức năng nhiệm vụ được giao.

Hiện nay tổ chức bộ máy của Bộ Ngoại giao gồm 2 đơn vị cấp Tổng cục, 6 đơn vị cấp Cục và tương đương, 17 đơn vị cấp Vụ và tương đương và 11 đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ hai là cải cách thủ tục hành chính (đạt 91,74% tổng điểm, xếp thứ 6/17): Công tác ban hành quy định, thực hiện kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính đã được thực hiện đúng quy định; việc công bố, công khai thủ tục hành chính và kết quả giải quyết hồ sơ được đánh giá tốt; công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với thủ tục hành chính về cơ bản đáp ứng yêu cầu.

Thứ ba là xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức viên chức (đạt 91,14% tổng điểm; xếp thứ 7/17): Bộ Ngoại giao thực hiện tốt cơ cấu công chức, viên chức theo vị trí việc làm; công tác tuyển dụng công chức viên chức tiếp tục được tiến hành nghiêm túc với nhiều cải tiến, sáng kiến, đảm bảo chất lượng; công tác thi nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức được thực hiện đầy đủ, kịp thời; công tác bổ nhiệm, đánh giá, phân loại và đào tạo công chức viên chức thực hiện đúng quy định và yêu cầu; công tác đào tạo bồi dưỡng được tiến hành thường xuyên với sáng kiến tổ chức lớp đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến đảm bảo quy định về giãn cách trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

Thứ tư là hiện đại hóa hành chính (đạt 91,42% tổng điểm; xếp thứ 7/17): Bộ Ngoại giao tích cực đưa ra các sáng kiến, đề xuất và ứng dụng công nghệ thông tin trong các mặt công tác của Bộ; tiếp tục số hóa công tác theo dõi, nhắc việc thông qua hệ thống thống kê điện tử tình hình thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị trong Bộ.

Những năm qua, chỉ số cải cách hành chính và xếp hạng của Bộ Ngoại giao liên tục được cải thiện, từ 80,85 điểm, xếp hạng 8/19 bộ, ngành năm 2016 lên 89,18 điểm, xếp hạng 4/17 bộ, ngành năm 2020. Thành tích này là kết quả của sự đồng hành, chung tay của tất cả các đơn vị, công chức, viên chức và người lao động trong Bộ Ngoại giao. (Baoquocte.vn 29/6, Chu Văn) Về đầu trang

https://baoquocte.vn/bo-ngoai-giao-tiep-tuc-giu-thu-hang-cao-ve-xep-hang-chi-so-cai-cach-hanh-chinh-nam-2020-149808.html

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Mặt trận sẽ giám sát công tác cán bộ

Ngày 29-6, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai, tập huấn về hai chuyên đề giám sát rất quan trọng trong năm 2021. Đó là các chuyên đề “Giám sát tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo (KN-TC) đối với chủ tịch UBND các cấp” và “Giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ”.

Theo đó, về giám sát tiếp công dân và giải quyết KN-TC, hệ thống MTTQ các cấp sẽ tập trung vào việc giám sát tiếp công dân và giải quyết KN-TC đối với chủ tịch UBND các cấp trên toàn quốc. Công tác giám sát tập trung vào việc chủ tịch UBND đã lãnh đạo, chỉ đạo việc tiếp công dân, giải quyết KN-TC ra sao, ban hành các văn bản liên quan và tuyên truyền phổ biến thế nào.

Ngoài ra, mặt trận cũng tập trung giám sát công tác tiếp công dân của chủ tịch UBND các cấp; việc tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn thư KN-TC; kết quả giải quyết đơn KN-TC thuộc thẩm quyền.

Về giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ, hệ thống MTTQ tập trung vào việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết các thông tin, phản ánh liên quan đến cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ do MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp chuyển đến.

Điểm đáng chú ý là MTTQ các cấp sẽ giám sát việc thực hiện các quy định về công tác cán bộ; giám sát việc thực hiện các quy định về kê khai, công khai tài sản đối với cán bộ, công chức, viên chức của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và chính quyền, cơ quan hành chính nhà nước các cấp; giám sát cán bộ, đảng viên ở nơi cư trú… 

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Ngô Sách Thực, giám sát là một trong các nhiệm vụ quan trọng của MTTQ Việt Nam. Những năm qua, nhiệm vụ này được thực hiện tốt, kiến nghị sau giám sát được các cơ quan tiếp thu, chỉ đạo và giải quyết.

Ông Thực cho biết thực hiện Kế hoạch giám sát, phản biện xã hội năm 2021, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần đầu tiên xây dựng kế hoạch triển khai giám sát hai chuyên đề này trên phạm vi toàn quốc và được dư luận xã hội quan tâm.

“Giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ là việc làm mới và khó. Bởi có rất nhiều chỉ đạo, điều luật quy định về việc giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ nhưng kết quả và hoạt động chưa thực sự rõ nét” - ông Thực nói và cho biết Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp là gần nhất, trực tiếp nhất trong quá trình giám sát cán bộ. Nếu mặt trận thực hiện tốt quá trình giám sát cán bộ, đảng viên cũng như cán bộ tốt sẽ đem lại giá trị thiết thực trong quá trình xây dựng Đảng và Nhà nước, tăng cường phòng ngừa sai phạm ngay từ cấp nhỏ nhất. (Plo.vn 30/6, Chân Luận)Về đầu trang

Sửa đổi chế độ nâng bậc lương thường xuyên, trước thời hạn với cán bộ, công chức

Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký ban hành Thông tư 03/2021/TT-BNV sửa đổi, bổ sung một số điều về chế độ nâng bậc lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn và chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Thông tư số 08/2013/TT-BNV.

Theo đó, thông tư bổ sung thêm trường hợp được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương thường xuyên là “thời gian cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tham gia phục vụ tại ngũ theo Luật Nghĩa vụ quân sự”.

Thời gian không được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên cũng được bổ sung thêm một số trường hợp, như: thời gian tập sự (bao gồm cả trường hợp được hưởng 100% mức lương của ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức tập sự); thời gian cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đảo ngũ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ; thời gian thử thách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo (trường hợp thời gian thử thách ít hơn thời gian bị kéo dài nâng bậc lương thường xuyên thì tính theo thời gian bị kéo dài nâng bậc lương thường xuyên); thời gian nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định hiện hành của pháp luật.

Thông tư mới cũng sửa đổi tiêu chuẩn nâng bậc lương thường xuyên thành “được cấp có thẩm quyền đánh giá và xếp loại chất lượng mức từ hoàn thành nhiệm vụ trở lên” thay vì “được cấp có thẩm quyền đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực trở lên”.

Về thời gian bị kéo dài xét nâng bậc lương thường xuyên, thông tư mới quy định rõ: Trong thời gian giữ bậc lương hiện hưởng, nếu cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã có thông báo hoặc quyết định bằng văn bản của cấp có thẩm quyền là không hoàn thành nhiệm vụ được giao hằng năm hoặc bị kỷ luật một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức thì bị kéo dài thời gian tính nâng bậc lương thường xuyên so với thời gian quy định. Cụ thể, kéo dài thời gian nâng bậc lương thường xuyên 12 tháng đối với các trường hợp: Cán bộ bị kỷ luật cách chức; công chức bị kỷ luật giáng chức hoặc cách chức; viên chức và người lao động bị kỷ luật cách chức.

Kéo dài thời gian nâng bậc lương thường xuyên 6 tháng đối với các trường hợp: Cán bộ, công chức và người lao động bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo; viên chức bị kỷ luật cảnh cáo; cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được cấp có thẩm quyền đánh giá và xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ được giao hằng năm; trường hợp trong thời gian giữ bậc có  2 năm không liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì mỗi năm không hoàn thành nhiệm vụ được giao bị kéo dài 6 tháng.

Kéo dài thời gian nâng bậc lương thường xuyên 3 tháng đối với viên chức bị kỷ luật khiển trách, bỏ đối tượng là người lao động như thông tư cũ.

Trường hợp vừa bị đánh giá và xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ được giao vừa bị kỷ luật thì thời gian kéo dài nâng bậc lương thường xuyên là 21 tháng.

Trường hợp bị đánh giá và xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ do bị kỷ luật (cùng một hành vi vi phạm) thì thời gian kéo dài nâng bậc lương thường xuyên tính theo hình thức kỷ luật tương ứng.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức và người lao động là đảng viên bị kỷ luật Đảng, nếu đã có quyết định kỷ luật về hành chính thì thực hiện kéo dài thời gian nâng bậc lương thường xuyên theo hình thức xử lý kỷ luật hành chính; nếu không có quyết định kỷ luật về hành chính thì thực hiện kéo dài thời gian nâng bậc lương thường xuyên theo hình thức xử lý kỷ luật Đảng tương ứng với các hình thức xử lý kỷ luật hành chính.

Thông tư 03 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.8.2021. (Daibieunhandan.vn 30/6)Về đầu trang

Bình quân mỗi Sở LĐ-TB&XH có không quá 3 Phó Giám đốc

Bộ LĐ-TB&XH đang dự thảo Thông tư hướng dẫn vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành và định mức biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc ngành lao động-thương binh và xã hội.

Theo dự thảo Thông tư, vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội gồm 4 nhóm, cụ thể: 1- Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý; 2- Vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên ngành lao động-thương binh và xã hội; 3- Vị trí việc làm nghiệp vụ chuyên môn dùng chung (tài chính, kế hoạch, đầu tư, thanh tra, pháp chế, hợp tác quốc tế, tổ chức cán bộ, thi đua khen thưởng, văn phòng và một số vị trí việc làm đặc thù khác); 4- Vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ.

Định mức biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính trực thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội được dự thảo đề xuất như sau:

Đối với vụ thuộc Bộ, vụ thuộc Bộ không có cấp phòng trực thuộc: 1 biên chế công chức vụ trưởng; không quá 3 biên chế công chức phó vụ trưởng; công chức tham mưu, giúp việc (tương ứng với vị trí việc làm: Nghiệp vụ chuyên ngành lao động-thương binh và xã hội, chuyên môn dùng chung, hỗ trợ, phục vụ): Định biên bảo đảm tổng số biên chế công chức của vụ đạt tối thiểu 15 biên chế công chức (tính bao gồm cả số lượng vụ trưởng, phó vụ trưởng).

Vụ thuộc Bộ có cấp phòng trực thuộc: 1 biên chế công chức vụ trưởng; có không quá 3 biên chế công chức phó vụ trưởng.

Phòng thuộc vụ: 1 biên chế công chức trưởng phòng thuộc vụ; phòng thuộc vụ có từ 7-9 biên chế công chức được bố trí 1 biên chế công chức cấp phó; có từ 10-15 biên chế công chức được bố trí không quá 2 biên chế công chức cấp phó; có từ 16 biên chế công chức trở lên được bố trí không quá 3 biên chế công chức cấp phó;

Công chức tham mưu, giúp việc (tương ứng với vị trí việc làm: Nghiệp vụ chuyên ngành lao động-thương binh và xã hội, chuyên môn dùng chung, hỗ trợ, phục vụ) được định biên bảo đảm các tiêu chí sau: Tổng số biên chế công chức của vụ bảo đảm đạt tối thiểu 30 biên chế công chức (tính bao gồm cả số lượng vụ trưởng, phó vụ trưởng, trưởng phòng và phó trưởng phòng); tổng số biên chế công chức của phòng thuộc vụ bảo đảm đạt tối thiểu 7 biên chế công chức (tính bao gồm cả số lượng trưởng phòng và phó trưởng phòng).

Định mức biên chế công chức đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lao động - thương binh và xã hội (cấp sở) được đề xuất như sau: 1 biên chế công chức giám đốc sở; bình quân mỗi sở có không quá 3 biên chế công chức phó giám đốc.

Về biên chế công chức phó trưởng phòng, dự thảo nêu rõ: Phòng thuộc sở của TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có dưới 10 biên chế công chức, phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại I có dưới 9 biên chế công chức và phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại II và loại III có dưới 8 biên chế công chức được bố trí 1 biên chế công chức phó trưởng phòng; phòng thuộc sở của TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có từ 10-14 biên chế công chức, phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại I có từ 9-14 biên chế công chức và phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại II và loại III có từ 8-14 biên chế công chức được bố trí không quá 2 biên chế công chức phó trưởng phòng; phòng thuộc sở có từ 15 biên chế công chức trở lên được bố trí không quá 3 biên chế công chức phó trưởng phòng.

Theo dự thảo, công chức tham mưu, giúp việc (tương ứng với vị trí việc làm: Nghiệp vụ chuyên ngành lao động-thương binh và xã hội, chuyên môn dùng chung, hỗ trợ, phục vụ) được định biên bảo đảm các tiêu chí sau: Số lượng biên chế công chức của phòng thuộc sở (tính bao gồm cả số lượng trưởng phòng và phó trưởng phòng): Phòng thuộc sở của TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh: Bố trí tối thiểu 7 biên chế công chức; phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại I: Bố trí tối thiểu 6 biên chế công chức; phòng thuộc sở của cấp tỉnh loại II và loại III: Bố trí tối thiểu 5 biên chế công chức. (Daibieunhandan.vn 29/6)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Không bôi trơn để nuôi tham nhũng

Mới đây, Ban chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ công bố chỉ số CCHC và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2020. Con số đưa ra gây chú ý dư luận khi có tới 48/63 tỉnh, thành phố để xảy ra tình trạng người dân phải nộp phí “bôi trơn” để giải quyết thủ tục hành chính (TTHC); người dân, tổ chức bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu còn tồn tại ở 57/63 tỉnh, thành phố. Đáng lưu ý, tỷ lệ người dân đi lại một lần mà giải quyết xong TTHC chỉ đạt 29,69%-con số quá thấp so với kỳ vọng CCHC đặt ra.

Không thể phủ nhận, thời gian qua, công tác giải quyết TTHC cho người dân và doanh nghiệp từng bước có những chuyển biến tích cực. Đặc biệt, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần giải quyết phiền hà, nhũng nhiễu, tiêu cực, nâng cao trách nhiệm, tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước với việc phục vụ nhân dân. Song, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, chừng đó chưa đáp ứng được mong muốn về sự cải cách có tính đột phá, hướng đến một nền hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp thuận tiện nhất.

Thực tiễn khảo sát chỉ số CCHC và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2020 cho thấy, công tác giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành, địa phương còn nhiều tồn tại. Lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương chưa thể hiện vai trò, trách nhiệm đúng mức với việc thúc đẩy cải cách để bảo đảm tạo chuyển biến rõ rệt trong hoạt động quản lý nhà nước, là đòn bẩy cho phát triển kinh tế-xã hội. Việc phục vụ của cán bộ với tư duy lấy người dân làm trung tâm chưa được nhận thức nghiêm túc. Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức chưa nghiêm. Tình trạng quá hạn trong giải quyết hồ sơ, TTHC, nhất là loại hình dịch vụ công trực tuyến còn phức tạp đã cho thấy khoảng cách khá lớn từ chính sách cho đến hành động.

Tất cả những hạn chế, tồn tại nêu trên quy tụ lại thành hệ quả là quá trình giải quyết TTHC rườm rà, chậm trễ, gây không ít phiền hà, khó khăn cho người dân và tổ chức khi thực hiện dịch vụ công. Đây cũng là nguyên nhân căn cốt dẫn tới tình trạng một số cá nhân, tổ chức dùng phí “bôi trơn” để vận hành “cỗ máy hành chính”. Tuy tỷ lệ không cao nhưng vấn nạn “bôi trơn” tồn tại ở diện rộng trong năm vừa qua là một thực trạng rất đáng lưu ý để các cơ quan hữu trách tiếp tục nỗ lực cải cách, hướng đến nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả.

Không phải ngẫu nhiên mà các cơ quan chức năng luôn đặt chỉ số CCHC song song với chỉ số hài lòng của người dân khi tiến hành khảo sát. Bởi sự hài lòng của người dân là thước đo thực chất hiệu quả công tác CCHC; là sự phản ánh sinh động, khách quan nhất phẩm chất, năng lực của đội ngũ thực thi công vụ. Các chỉ số này đã trở thành công cụ quản lý hiệu quả kết quả CCHC, giúp Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương nhận diện rõ những thành tích đạt được cũng như tồn tại, hạn chế của nền hành chính nói chung, công tác CCHC của bộ, ngành, địa phương nói riêng.

Chỉ số của năm vừa qua một lần nữa đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương cần tự soi, tự sửa, kịp thời điều chỉnh ngay những thiếu sót, nhất là trong việc kiểm điểm, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm nhiệm vụ giải quyết TTHC. Những trường hợp có biểu hiện hách dịch, nhũng nhiễu, hành dân, gây khó cho doanh nghiệp thì phải xử lý nghiêm, xem xét để loại ra khỏi bộ máy. Khi đã có phản ánh của người dân hoặc dư luận về người thực thi công vụ, dù là sự việc nhỏ cũng cần kiểm tra, xác minh làm rõ và xử lý kịp thời.

Với người dân, khi làm TTHC, cần chủ động tìm hiểu kỹ để nắm chắc về nội dung, quy trình thực hiện. Nếu gặp cán bộ có biểu hiện nhũng nhiễu, vòi vĩnh, cần mạnh dạn phản ánh với cơ quan chức năng, không thỏa hiệp bằng việc chi tiền cho xong việc, không dùng phí “bôi trơn” để “nuôi” tham nhũng. (Qdnd.vn 30/6, Đào Hồng)Về đầu trang

Thông tư hướng dẫn - tắc càng thêm tắc

Thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, trong 5 năm (2016 - 2020), các bộ, ngành đã ban hành hơn 2.530 thông tư và thông tư liên tịch hướng dẫn các luật, nghị định. Số lượng thông tư được các bộ, ngành ban hành lớn hơn nhiều so với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Và, dù là văn bản hướng dẫn nhưng không hiếm thông tư khi ban hành lại khiến việc đưa pháp luật vào cuộc sống bị tắc vì chính sự hướng dẫn của nó; thậm chí có thông tư còn cài cắm, "đẻ" thêm quy định, điều kiện gây khó cho đối tượng được điều chỉnh.

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thông tư là hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành để hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Với tư cách là văn bản hướng dẫn, hình thức văn bản này không quy định thêm các nội dung, các thủ tục hành chính... Tuy vậy, vì nhiều lý do khác nhau, tình trạng thông tư quy định thêm thủ tục, "đẻ" quy định vẫn còn. Đơn cử, Thông tư 02/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2020/TT-BGTVT ngày 29.5.2020 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ đã quy định lắp camera phải theo dõi khoang hành khách, trong khi Nghị định 10/2020/NĐ-CP kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô không có quy định này.

Không những thêm thủ tục, thông tư còn mâu thuẫn với văn bản được hướng dẫn. Đơn cử, Thông tư 40/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá  nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, có hiệu lực từ 1.8.2021 đã nhận rất nhiều ý kiến của doanh nghiệp khi họ cho rằng, thông tư chưa nhất quán với các luật về thuế, là yêu cầu sàn thương mại điện tử phải kê khai, nộp thuế thay người kinh doanh.

Vì sao có thực tế trên, nhất là khi quy trình soạn thảo, ban hành thông tư được quy định rất rõ ràng tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đơn cử, liên quan đến lấy ý kiến dự thảo thông tư, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: Trong quá trình soạn thảo Thông tư, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; đăng tải toàn văn dự thảo trên Cổng thông tin điện tử trong thời gian ít nhất là 60 ngày. Không chỉ lấy ý kiến các đối tượng liên quan, mà quá trình thẩm định thông tư cũng được quy định chặt chẽ với sự tham gia của các bộ, ngành.

Nếu thực hiện đúng quy định trên, thì liệu còn có tình trạng thông tư làm tắc nghị định, luật; thông tư cài cắm thêm thủ tục hành chính; thông tư "đẻ" thêm quy định? Cứ đặt giả thiết quá trình lấy ý kiến đó đã được thực hiện nghiêm túc, đối tượng chịu sự điều chỉnh đã có ý kiến, nhưng cơ quan chủ trì soạn thảo không tiếp thu, dẫn đến quy định không vào cuộc sống thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm cho những hậu quả xảy ra (nếu có)? Cơ chế nào để xác định lỗi? Nếu vấn đề này không được giải quyết thì thông tư mắc lỗi, gây ách tắc vẫn được ban hành và quá trình thi hành luật cứ tiếp tục nghẽn; các doanh nghiệp, hiệp hội đại diện vẫn chỉ dừng lại ở ý kiến sau khi văn bản ban hành. Một sự lãng phí khổng lồ. (Daibieunhandan.vn 29/6, Nguyễn Minh) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Hàn Quốc thay đổi chính sách thị thực đối với người nước ngoài

Ngày 29/6, Chính phủ Hàn Quốc cho biết, bắt đầu từ ngày 1/7 sẽ cấp thời gian lưu trú cho công dân nước ngoài ở nước này theo thời hạn có hiệu lực của hộ chiếu.

Chính phủ Hàn Quốc quyết định áp dụng chính sách trên để đảm bảo rằng thời gian được phép lưu trú của người nước ngoài phù hợp với thời hạn hiệu lực của hộ chiếu, góp phần giảm thiểu những bất tiện cho người nước ngoài cư trú ở nước này. Tuy nhiên, biện pháp trên cũng có các điều khoản quy định khoảng thời gian chuyển đổi nhất định để giảm thiểu sự bất tiện gây ra cho người nước ngoài do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

Cụ thể, thời gian lưu trú sẽ được cấp trong vòng một năm (cho đến ngày 30/6/2022) đối với những người mà hộ chiếu còn thời hạn một năm. Người nước ngoài có hộ chiếu còn hạn 5 tháng sẽ chỉ được cấp thời gian lưu trú một năm mặc dù có đủ điều kiện cho thời gian lưu trú từ hai năm trở lên. Với người nước ngoài có hộ chiếu còn hạn 1 năm 2 tháng (14 tháng) sẽ được cấp thời hạn lưu trú 14 tháng mặc dù có đủ điều kiện cho thời gian lưu trú 2 năm trở lên.

Thông cáo báo chí của Chính phủ Hàn Quốc cũng nhấn mạnh rằng, bắt đầu từ ngày 1/7/2022, đối với những trường hợp không thể cấp lại hộ chiếu trong thời gian lưu trú còn lại vì lý do mất hộ chiếu và những người khác, thời gian lưu trú sẽ được cho phép trong khoảng 6 tháng bằng cách xác nhận hộ chiếu còn thời hạn 6 tháng.

Người nước ngoài có hộ chiếu còn hạn 5 tháng sẽ được cấp thời gian lưu trú là 6 tháng ngay cả khi có đủ điều kiện cho thời gian lưu trú từ hai năm trở lên. Đối với người nước ngoài có hộ chiếu còn hạn 8 tháng cũng sẽ chỉ được cấp thời gian lưu trú là 8 tháng mặc dù có đủ điều kiện cho thời gian lưu trú từ hai năm trở lên.

Biện pháp mới này của Chính phủ Hàn Quốc không áp dụng cho người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ gồm ngoại giao (A-1); quan chức chính phủ (A-2); tổ chức quốc tế (A-3); những người được công nhận tị nạn (F-2) và những người nộp đơn xin quy chế tị nạn/thành viên gia đình (G-1); người không quốc tịch.

Theo giới chức Seoul, việc thực hiện biện pháp trên được kỳ vọng sẽ giảm bớt mức tiền phạt đối với những người không thông báo kịp thời việc gia hạn hộ chiếu cho văn phòng nhập cư địa phương, đồng thời giúp người nước ngoài chủ động gia hạn hộ chiếu trước khi hết thời hạn cư trú ở Hàn Quốc. (VTV.vn 30/6)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.012.826 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này