Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 03/7/2023
1. Cải cách vì người dân, doanh nghiệp
2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về căn cước, định danh và xác thực điện tử
3. Bí thư Thành ủy Hà Nội yêu cầu giảm thời gian họp để tập trung xử lý công việc
4. An Giang nâng cao năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, địa phương
5. Bình Phước: Phần mềm quản lý tài nguyên & môi trường giúp tạo hiệu ứng cải cách hành chính
6. Thừa Thiên-Huế: Hiệu quả từ sự phối hợp triển khai các mô hình thực hiện Đề án 06
7. Đồng Tháp: Kiểm tra cải cách hành chính để kịp thời khắc phục hạn chế
8. Cải cách thể chế pháp luật hải quan hướng tới tạo thuận lợi thương mại
9. Xử lý nghiêm việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn
10. Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài
11. Từ một quyết sách của Chính phủ, người dân cảm nhận tín hiệu vui trong cải cách hành chính
12. Cần mạnh dạn thực hiện “khoán” biên chế theo công việc
13. Cải cách tiền lương mới thu hút và giữ chân được người tài
14. Luật Bảo vệ người tố giác mới của Đức: Thúc đẩy môi trường làm việc minh bạch, trách nhiệm
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Cải cách vì người dân, doanh nghiệp
Quốc hội vừa yêu cầu Chính phủ, các cơ quan hữu quan, các cấp, các ngành tiếp tục triển khai đồng bộ, kịp thời, toàn diện các chủ trương nhiệm vụ, giải pháp, trong đó, tăng cường cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, công chức, công vụ. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh điều này trong phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ Năm vừa qua.
Cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính là yêu cầu đặt ra nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp. Thời gian qua, mặc dù Chính phủ, người đứng đầu Chính phủ quan tâm và chỉ đạo sát sao, song công tác cải cách TTHC vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Tình trạng người đứng đầu một số cơ quan chưa thực sự quan tâm, quyết liệt chỉ đạo; việc rà soát, trình và thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh còn chậm. Hiện còn 714/1.146 quy định đã được phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa nhưng chưa được thực thi; 808/1.146 TTHC chưa được đơn giản hóa theo 19 nghị quyết chuyên đề về đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý cư dân…
Điều đáng nói, trong quá trình ban hành TTHC, các cơ quan chưa thực sự chú trọng tham vấn lấy ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp - đối tượng chịu tác động khi ban hành TTHC, quy định kinh doanh. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng TTHC ban hành đôi khi làm khó cho người dân, doanh nghiệp.
Tại cuộc họp công tác cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả tư vấn chính sách cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang cũng chỉ rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hiện các TTHC là một số cơ quan, đơn vị chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhất là vai trò của người đứng đầu; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị còn thiếu chủ động, chặt chẽ, kịp thời. Còn tình trạng níu kéo, lợi ích cục bộ của ngành, lĩnh vực, thiếu phân cấp, phân quyền.
Dù đã có nhiều chuyển biến, song thực tế TTHC vẫn là vấn đề phàn nàn của không ít người dân doanh nghiệp. Tình trạng người dân, doanh nghiệp phải chạy đi, chạy lại khi thực hiện thủ tục vẫn còn tiếp diễn khi cải cách TTHC của chúng ta vẫn chưa được thực hiện triệt để. Tình trạng “rừng” thủ tục vẫn chưa được khắc phục. Chính điều này đã vô hình trung tạo cơ hội cho một số cán bộ tiêu cực, nhũng nhiễu làm khó người dân, doanh nghiệp.
Thực trạng này đã được chỉ rõ trong báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2022. Chất lượng giải quyết TTHC dù có chuyển biến tích cực khi giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí tuân thủ quy định pháp luật, song cũng phản ánh TTHC tại những lĩnh vực “nhạy cảm” vẫn còn nhiều khó khăn. Các lĩnh vực thủ tục hành chính phiền hà nhất theo cảm nhận của doanh nghiệp là thuế, phí; tiếp đến là giải phóng mặt bằng; bảo hiểm xã hội; phòng cháy, chữa cháy và xây dựng. Trong đó, thời gian giải quyết hồ sơ đất đai dài hơn so với quy định là vướng mắc mà nhiều doanh nghiệp gặp phải nhất, chiếm tới 60,81%. Dù tình trạng trả chi phí không chính thức mặc dù duy trì xu hướng giảm, song vẫn có tới 42,6% doanh nghiệp cho biết đang phải chi trả các “chi phí” này trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Khoản chi phí không chính thức không chỉ gây tốn kém, gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, cho người dân mà còn làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh quốc gia.
Để khắc phục tình trạng này, một trong những yêu cầu đặt ra các bộ, ngành cần phải thực hiện nghiêm yêu cầu công khai, minh bạch TTHC kịp thời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC để người dân, doanh nghiệp nắm được. Chính phủ cần quyết tâm, quyết liệt hơn nữa trong chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương trong việc cắt giảm các quy định, TTHC đang là rào cản đối với người dân, doanh nghiệp. Trong đó, cần tập trung cắt giảm, đơn giản hóa các TTHC đối với lĩnh vực như: đầu tư, kinh doanh và các lĩnh vực xây dựng, đất đai, thuế, hải quan, y tế. Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị kịp thời của cá nhân, tổ chức về quy định, hành vi hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Ngoài việc minh bạch về quy định, thủ tục, thì việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt động công vụ là rất cần thiết. Cùng với đó, phải có chế tài mạnh, xử lý nghiêm minh các cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan, đơn vị để xảy ra chậm trễ, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. (Đại biểu nhân dân 02/7, Lê Hùng)Về đầu trang
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về căn cước, định danh và xác thực điện tử
Theo đại tá Trần Nam Thắng, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 1, bên cạnh kết quả tích cực, trong quá trình triển khai thi hành, Luật Căn cước công dân (CCCD) đã phát sinh các vấn đề cần phải được xem xét sửa đổi, bổ sung.
Vừa qua, tại Hà Nam, Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Tiểu ban lý luận về pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự và cải cách tư pháp, Bộ Công an và Công an tỉnh Hà Nam đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Lý luận pháp luật về căn cước, định danh và xác thực điện tử - thực trạng pháp luật về cấp, quản lý căn cước, thu thập, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư, CSDL căn cước, ứng dụng căn cước điện tử phục vụ chuyển đổi số ở nước ta”.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã trình bày các tham luận về tình hình triển khai CSDL quốc gia về dân cư; thực tế việc thu thập, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trong CSDL quốc gia về dân cư, CSDL căn cước; kết quả công tác cấp, quản lý căn cước công dân, định danh và xác thực điện tử, những khó khăn, vướng mắc, bất cập và kiến nghị, đề xuất; các chính sách mới của Dự án Luật Căn cước…
Đại tá Trần Nam Thắng, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 1 cho biết, bên cạnh kết quả tích cực, trong quá trình triển khai thi hành, Luật Căn cước công dân (CCCD) đã phát sinh các vấn đề cần phải được xem xét sửa đổi, bổ sung. Trong đó đáng chú ý, Luật CCCD là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, quy định việc chuyển đổi từ cấp, sử dụng chứng minh nhân dân sang cấp, sử dụng bằng thẻ CCCD.
Tuy nhiên, nhiều cơ quan, tổ chức đã yêu cầu công dân bắt buộc phải thực hiện các thủ tục để cập nhật, điều chỉnh lại thông tin trên giấy tờ, tài liệu đã cấp trước đây cho công dân gây khó khăn, phiền hà cho công dân…
Qua thực tiễn triển khai thi hành Luật CCCD, Đại tá Đỗ Hoài Nam, Phó Giám đốc Công an tỉnh Hà Nam cũng nêu một số khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Theo đó, ông kiến nghị bổ sung quy định về VNeID là ứng dụng duy nhất và được cấp phép sử dụng trong các giao dịch hành chính công cũng như các giao dịch dân sự; có quy định về việc tích hợp một số thông tin có tính ổn định, được sử dụng thường xuyên của người dân ngoài thông tin trong CSDL căn cước vào thẻ căn cước; bổ sung quy định về cấp số định danh cho người gốc Việt Nam.
Thiếu tá Phạm Văn Sơn, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội đưa ra một số đề nghị để khai thác hiệu quả dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử, phối hợp xây dựng bộ các chỉ số phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Việc kết nối, khai thác, thu thập, cập nhật thông tin công dân phải bảo đảm nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của Hiến pháp, quy định pháp luật hiện hành…
Phát biểu bế mạc Hội thảo, Thiếu tướng Phạm Công Nguyên, Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp khẳng định, các ý kiến tham luận tại Hội thảo thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và tâm huyết trong công tác nghiên cứu khoa học và có ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thiện lý luận pháp luật về căn cước, thu thập, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trong CSDL quốc gia về dân cư, CSDL căn cước, ứng dụng căn cước điện tử để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở nước ta hiện nay.
Các ý kiến tham luận cũng chính là cơ sở quan trọng để Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện Dự án Luật Căn cước bảo đảm đúng tiến độ và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay đặc biệt là yêu cầu, nhiệm vụ của Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. (Baophapluat.vn 03/7, U.San)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Bí thư Thành ủy Hà Nội yêu cầu giảm thời gian họp để tập trung xử lý công việc
Tại Kỳ họp thứ 12, HĐND TP Hà Nội khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026 sáng 03/7, có sự tham dự của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và nhấn mạnh: "Phấn đấu giảm bớt thời gian họp để tập trung xử lý công việc".
Phát biểu tại phiên khai mạc, Bí thư Đinh Tiến Dũng điểm qua các kết quả nổi bật của thành phố trong thời gian qua. Bên cạnh việc ghi nhận những kết quả đã đạt được, ông cũng nêu ra một số tồn tại, hạn chế, như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với cùng kỳ và mục tiêu đề ra; giải ngân đầu tư công còn chậm so với yêu cầu; doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; tình trạng vi phạm quản lý đất đai, quy hoạch, xây dựng; công tác quản lý tài sản công vẫn còn; việc triển khai các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp vẫn còn bất cập, chưa đồng bộ; Kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi còn chưa nghiêm, tạo điểm nghẽn, ách tắc, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển…
Từ đó, Bí thư Thành ủy đề nghị các đại biểu HĐND cần thảo luận kỹ, đi sâu, làm rõ tính hiệu quả, các giải pháp đột phá, tầm nhìn xa hơn, bảo đảm phù hợp, khả thi để triển khai nhanh, góp phần khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế to lớn của Thủ đô về nguồn lực con người, khoa học và công nghệ, giải phóng các nút thắt về hạ tầng, thể chế và phát huy tính năng động, sáng tạo, tự chủ của cơ sở.
Bên cạnh đó, Bí thư Thành ủy nêu rõ, cần kiên quyết cắt giảm vốn của các dự án không giải ngân được, hoặc có tỷ lệ giải ngân thấp để bổ sung nguồn vốn chi trả nợ các dự án có khả năng giải ngân tốt… nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.
“Đây là nhiệm vụ cần thực hiện thường xuyên, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều lĩnh vực. Do vậy, phải tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, ủy quyền, kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đầu tư, các công trình lớn, có tính đột phá và giá trị lan tỏa cao;
Đồng thời tiếp tục khẩn trương rà soát, tổng hợp và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền của thành phố một cách triệt để, để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển. Thành phố cần xác định lấy nội dung này làm tiêu chí đánh giá mức độ thi đua hoàn thành nhiệm vụ của từng địa phương, đơn vị, cá nhân trên địa bàn Thành phố”, Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh.
Bí thư Thành ủy Hà Nội cũng yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính để rõ đầu mối, rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân; rõ tiến độ, thời hạn giải quyết công việc để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch; đề ra các giải pháp cụ thể để cải thiện các chỉ số CCHC, chỉ số SIPAS, chỉ số PAPI, chỉ số PCI của Thành phố để nâng cao thứ hạng trong thời gian tới; Phấn đấu giảm bớt thời gian họp để tập trung xử lý công việc; việc phối hợp giữa các cấp, các ngành, giữa các ngành của thành phố với nhau cần khẩn trương, chặt chẽ và đơn giản, hiệu quả hơn bằng những bước đi cụ thể, thiết thực và hiệu quả trong giải quyết công việc thường xuyên, hằng ngày.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng đề nghị HĐND TP tăng cường giám sát, nhất là việc rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính gây phiền hà, làm cản trở các hoạt động bình thường của nhân dân và doanh nghiệp; khắc phục tình trạng trì trệ trong hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp; sự chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; tăng cường tính công khai, minh bạch; phải gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm; khắc phục những biểu hiện tiêu cực, nhũng nhiễu và kiên quyết xử lý những người vi phạm.
"Một trong những nhiệm vụ quan trọng từ nay đến cuối năm 2023 của HĐND các cấp thành phố là tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người được HĐND bầu theo quy định của Luật và hướng dẫn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đây là hoạt động giám sát rất quan trọng của HĐND nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm trong việc thực thi công vụ của UBND và các cơ quan của thành phố", Bí thư Thành ủy Hà Nội nhấn mạnh. (Anninhthudo.vn 03/7)Về đầu trang
An Giang nâng cao năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, địa phương
Không chỉ dừng lại ở đánh giá PCI (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), từ năm 2020 đến nay, An Giang cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng cường trách nhiệm, minh bạch, cải tổ thông qua triển khai đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, địa phương (DDCI), để đánh giá môi trường kinh doanh một cách sâu sắc hơn. Đây là bước đi mạnh mẽ và nỗ lực cải cách của tỉnh hướng tới cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách toàn diện.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Phước, qua thực hiện DDCI nhằm xây dựng hình ảnh thân thiện và cầu thị của chính quyền cấp tỉnh và địa phương, chuyển đổi từ chính quyền quản lý sang chính quyền phục vụ. Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, thi đua thay đổi mạnh mẽ về thái độ, trách nhiệm, tác phong thực hiện công vụ. Quyết liệt cải cách để nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN), tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh.
Tạo kênh thông tin phản hồi rộng rãi, minh bạch và tin cậy để DN tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền tỉnh An Giang. Căn cứ kết quả khảo sát để nhận diện, phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế trong công tác điều hành. Từ đó, nghiên cứu đưa ra các giải pháp phù hợp, thực tế và kịp thời, góp phần nâng cao chỉ số PCI trong các năm tiếp theo.
UBND tỉnh An Giang yêu cầu, phương pháp xây dựng hệ thống chỉ số và tiêu chí đánh giá DDCI được lựa chọn tương tự các chỉ số thành phần của PCI, trên cơ sở áp dụng linh hoạt và phù hợp tình hình thực tế tại An Giang. Việc điều tra, khảo sát lấy ý kiến phải được thực hiện với nội dung, tiêu chí, đối tượng cụ thể, thiết thực về những vấn đề đang được DN quan tâm khi liên hệ giải quyết thủ tục hành chính; phản ánh khách quan tình hình hoạt động cũng như những khó khăn, vướng mắc của DN.
Kết quả điều tra, khảo sát lấy ý kiến phải được tổng hợp, phân tích, đánh giá đầy đủ, khách quan, minh bạch; đồng thời là căn cứ để các sở, ban, ngành và UBND huyện, thị xã, thành phố tiếp thu ý kiến góp ý của DN. Từ đó, đề ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả; tiếp tục phát huy những mặt đã làm được và nghiêm túc khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao chất lượng điều hành của từng đơn vị. (Baoangiang.com.vn 03/7, Hạnh Châu)Về đầu trang
Bình Phước: Phần mềm quản lý tài nguyên & môi trường giúp tạo hiệu ứng cải cách hành chính
Lĩnh vực đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm, nhiều hồ sơ, thủ tục và mang tính lịch sử rất phức tạp. Vì vậy, việc xây dựng và đưa phần mềm tài nguyên và môi trường (TN&MT) tỉnh Bình Phước vào sử dụng sẽ tạo bước ngoặt lớn về cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số. Đặc biệt, khi phần mềm đưa vào khai thác sẽ giảm thiểu thao tác, thời gian cho cán bộ trong xử lý hồ sơ đất đai, đồng thời cung cấp thông tin minh bạch, chính xác cho người dân, doanh nghiệp.
Phần mềm TN&MT do Sở TN&MT tỉnh Bình Phước phối hợp Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) triển khai thực hiện, gồm các phân hệ thành phần như: quản trị hệ thống; quản lý hồ sơ địa chính; quản lý luân chuyển hồ sơ đất đai; quản lý hồ sơ quét; quản lý thống kê, kiểm kê đất đai; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý giá đất; cung cấp cổng thông tin trao đổi, chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý, khai thác, công bố thông tin đất đai cho người dân, doanh nghiệp. Xác thực mã QR trên giấy chứng nhận đã được in. Qua việc quét mã QR trên giấy chứng nhận in từ phần mềm sẽ giúp người dân và cán bộ quản lý có thể kiểm tra xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thật hay giả.
Hiện nay, dự án phần mềm đã hoàn thành liên thông, đồng bộ quy trình xử lý hồ sơ với Cổng dịch vụ công của tỉnh; hoàn thành thử nghiệm kết nối giữa phần mềm TN&MT tỉnh Bình Phước với phần mềm Tổng cục Thuế. Đồng thời kết nối với các hệ thống khác như lấy dữ liệu ngăn chặn từ phần mềm quản lý công chứng của Sở Tư pháp.
Để triển khai thực hiện hiệu quả, Tập đoàn VNPT đã đào tạo, hướng dẫn sử dụng phần mềm cho Văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) tỉnh, 11 chi nhánh VPĐKĐĐ và 11 phòng TN&MT huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Phần mềm hiện đã triển khai chính thức ở thành phố Đồng Xoài, huyện Bù Gia Mập, Phú Riềng và 2 xã ở huyện Bù Đăng. Đây là công nghệ mới nên để đưa vào ứng dụng hiệu quả cần sự vào cuộc quyết liệt của cán bộ, nhân viên cũng như đơn vị tư vấn.
Anh Nguyễn Gia Thạch, nhân viên Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phú Riềng cho biết, đây là phần mềm tương đối mới nên để thực hiện thành công, triệt để cần hiểu biết sâu về chuyên ngành, nhất là biết ứng dụng, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin. Cùng sự hỗ trợ của đơn vị tư vấn, cầm tay chỉ việc nên việc tiếp cận phần mềm với cán bộ, nhân viên chi nhánh tương đối thuận lợi.
Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Phú Riềng Nguyễn Ngọc Toàn chia sẻ, trước khi thực hiện phầm mềm TN&MT tỉnh Bình Phước, chi nhánh đã ứng dụng, triển khai một số phần mềm chuyên ngành, tạo điều kiện, tiền đề cho cán bộ, nhân viên dễ dàng nắm bắt, tiếp cận công nghệ mới nhanh, thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, theo ông Toàn, là phần mềm mới nên bước đầu gặp những khó khăn, nhất là trong quá trình xuất dữ liệu. Bởi cơ sở dữ liệu địa chính trải qua rất nhiều thời kỳ và thông tin về cá nhân, thửa đất cũ, mang tính lịch sử rất cao. Vì vậy, buộc phải đồng bộ hóa cho trùng khớp, thống nhất, lúc đó mới khai thác triệt để và chính xác.
“Thành phố Đồng Xoài là một trong những đơn vị đi đầu triển khai thực hiện phần mềm TN&MT tỉnh Bình Phước. Trong thời gian triển khai thực hiện, quan trọng nhất là việc chuẩn hóa dữ liệu đầu vào để tích hợp trên phần mềm. Hiện chúng tôi đã thực hiện trên 8 phường, xã gồm 280 bộ bản đồ với hơn 60.000 thửa đất. Việc chuẩn hóa này, chi nhánh vừa học hỏi vừa tìm tòi, phối hợp với VNPT Bình Phước hoàn thành trước ngày 19-5 và đang tiếp tục hoàn thiện, đưa vào vận hành trong thời gian sớm nhất” - Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố Đồng Xoài Vũ Thị Mười chia sẻ.
Theo đánh giá của Tập đoàn VNPT, khi phần mềm đưa vào vận hành sẽ giảm gần 50% thời gian cho người dân trong thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai do các khâu xử lý đều trên môi trường điện tử, từ tiếp nhận đến nghĩa vụ thuế; tra cứu thông tin quy hoạch, giá đất… được mọi lúc, mọi nơi; giảm thời gian đi lại, minh bạch thông tin, hạn chế tiếp xúc cán bộ hồ sơ nhằm giảm xảy ra tiêu cực. Song song đó, việc kiểm tra thông tin về sổ đất cũng chính xác hơn thông qua quét mã QR đơn giản.
Việc triển khai thành công phần mềm TN&MT tỉnh Bình Phước góp phần hiện thực thành công Nghị quyết số 04 của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 312 của UBND tỉnh về công tác chuyển đổi số. Theo đó, mục tiêu đến năm 2025, ngành TN&MT tỉnh Bình Phước sẽ số hóa và khai thác 100% dữ liệu trên môi trường số, góp phần vào công cuộc xây dựng chính quyền số trong thời gian tới. (Baobinhphuoc.com.vn 03/7, Vũ Thuyên)Về đầu trang
Thừa Thiên-Huế: Hiệu quả từ sự phối hợp triển khai các mô hình thực hiện Đề án 06
Sau 2 tháng triển khai kế hoạch phối hợp thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế và Bộ Công an đã mang lại hiệu quả cao.
Tại cuộc họp giao ban về triển khai kế hoạch phối hợp thực hiện Đề án 06 giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế với Cục Cảnh sát Quản lý hành chính (QLTT) về Trật tự xã hội (TTXH) (Bộ Công an) vào cuối tháng 6/2023, ông Nguyễn Thanh Bình - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cho rằng, Đề án 06 với những tiện ích được ứng dụng, phát triển từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thẻ CCCD gắn chip, hệ thống định danh và xác thực điện tử giúp người dân, doanh nghiệp thay đổi phương thức thực hiện thủ tục hành chính thủ công sang phương thức điện tử. Qua đó, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, xã hội số, đô thị thông minh (Hue-S) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, sớm đưa tỉnh Thừa Thiên-Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Xác định vai trò và giá trị mà Đề án 06 mang lại, thời gian qua, Ban Chỉ đạo Đề án 06 tỉnh Thừa Thiên-Huế đã triển khai nhiều giải pháp nhằm đưa các tiện ích của Đề án 06 sớm đi vào cuộc sống. Trong đó, UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo Đề án 06 tỉnh đã ban hành kế hoạch phối hợp với Bộ Công an triển khai 24 mô hình Đề án 06. Qua triển khai thực hiện, các mô hình đã mang lại nhiều kết quả ấn tượng. Lãnh đạo Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, đến nay, toàn tỉnh đã thu nhận 1.085.755 hồ sơ cấp CCCD gắn chip. Tổng số hồ sơ định danh điện tử đã thu nhận 406.208 hồ sơ (đạt 37,80% so với tổng dân số trên 14 tuổi); số tài khoản định danh đã được kích hoạt là 111.280 tài khoản. Hiện tỉnh đang tiếp tục triển khai cho Tổ công nghệ số cộng đồng thu thập địa chỉ số.
Điều đáng quý, với sự nỗ lực của lực lượng Công an xã và các cơ quan, đoàn thể; Tổ công nghệ số cộng đồng tại các huyện vùng xa đã thu thập địa chỉ số đạt tỷ lệ cao. Trong đó, huyện Quảng Điền thu thập 24.000 địa chỉ số (đạt tỷ lệ 100%); huyện Phong Điền thu thập hơn 23.000 địa chỉ số... Đến nay, đã tạo lập 33.000 ví điện tử Hue-S, 650 điểm chấp nhận thanh toán điện tử trên toàn tỉnh.
Căn cứ vào nội dung ký kết giữa UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế và Bộ Công an, từ ngày 1/6/2023, tại Cảng hàng không quốc tế Phú Bài cũng đã triển khai thí điểm sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 thay thế CCCD làm các thủ tục bay. Ngoài ra, đã triển khai thực hiện mô hình kiểu mẫu thực hiện Đề án 06 tại Chung cư Xuân Phú (TP Huế) và đang triển khai nhân rộng tại các khu chung cư, khu đô thị mới trên địa bàn.
Đặc biệt, giữa tháng 6/2023, Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án 06 tỉnh phối hợp với Bệnh viện Trung ương Huế tổ chức thí điểm thực hiện thông báo lưu trú qua phần mềm ASM tại cơ sở kinh doanh lưu trú, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh. Đây chính là kết quả phối hợp mô hình triển khai nền tảng quản lý lưu trú tại cơ sở khám chữa bệnh và triển khai nền tảng quản lý lưu trú tại nhà trọ, nhà nghỉ, khách sạn, nhà khách, nhà công vụ. Hiện, có 15 cơ sở kinh doanh lưu trú và 3 cơ sở khám chữa bệnh triển khai thí điểm thực hiện thông báo lưu trú qua phần mềm ASM và dự kiến đầu tháng 7/2023, sẽ triển khai nhân rộng trên toàn tỉnh.
Theo lãnh đạo Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế, việc sử dụng phần mềm thông báo lưu trú ASM được kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đảm bảo dữ liệu cá nhân được bảo mật, thông tin lưu trú được cập nhật, đồng bộ liên tục lên hệ thống, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, phục vụ đảm bảo ANTT và công tác quản lý nhà nước của ngành du lịch, y tế. Phần mềm được tích hợp các tiện ích giúp cơ sở kinh doanh lưu trú, bệnh viện giảm thời gian nhập liệu các thông tin khách lưu trú, bệnh nhân và cập nhật thông tin đăng ký lưu trú tự động gửi đến cơ quan Công an một cách nhanh chóng và kịp thời.
“Việc ứng dụng khai báo lưu trú qua phần mềm ASM là một bước đột phá mới trong công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở khám chữa bệnh trong công việc quản lý và thực hiện nghĩa vụ thông báo lưu trú trong cùng một ứng dụng duy nhất, quy trình tiếp nhận thông tin khách hàng nhanh chóng, thuận tiện, chính xác... giúp giảm thời gian, nhân lực, kinh tế, đảm bảo an ninh, an toàn”, Thượng tá Hoàng Thị Mai, Trưởng phòng Cảnh sát QLHC về TTXH tỉnh Thừa Thiên-Huế cho hay. (Cand.com.vn 03/7, Hải Lan)Về đầu trang
Đồng Tháp: Kiểm tra cải cách hành chính để kịp thời khắc phục hạn chế
UBND tỉnh Đồng Tháp vừa thành lập Đoàn kiểm tra cải cách hành chính (CCHC) đến kiểm tra thực tế 8 sở và 12 huyện, thành phố.
Mục đích kiểm tra nhằm phát hiện, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong thực hiện CCHC và chỉ rõ tồn tại, hạn chế, tìm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, chấn chỉnh. Đồng thời đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện CCHC; kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ nhằm đẩy mạnh CCHC đạt mục tiêu đề ra trong năm 2023.
Những nội dung được kiểm tra là công tác chỉ đạo, điều hành CCHC, cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, cải cách chế độ công vụ, cải cách tài chính công, xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, Chính quyền số.
Công tác kiểm tra CCHC lần này đã giúp các sở, UBND cấp huyện rà soát các nhiệm vụ còn lại trong kế hoạch CCHC cũng như các tiêu chí, tiêu chí thành phần trong bộ Chỉ số CCHC để kịp thời đề ra các giải pháp thực hiện đạt hiệu quả cao.
Đoàn kiểm tra lưu ý, các đơn vị chú ý thực hiện tốt các chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh về việc khắc phục tình trạng hồ sơ trễ hẹn, hẹn nhiều lần, tình trạng “tham nhũng vặt”, tình trạng “cò mồi” trong giải quyết TTHC thuộc phạm vi quản lý của ngành.
Bên cạnh đó, lãnh đạo UBND cấp huyện cần thường xuyên chỉ đạo các ngành, cấp xã thực hiện bảo đảm công tác CCHC trên địa bàn; phân công cụ thể từng nội dung, nhiệm vụ của các lĩnh vực CCHC để các phòng chuyên môn có liên quan thực hiện; nâng cao chất lượng sự phục vụ của cơ quan nhà nước đối với người dân, doanh nghiệp. (Baodongthap.vn 02/7, Dương Cầm)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Cải cách thể chế pháp luật hải quan hướng tới tạo thuận lợi thương mại
Trong thời gian qua cũng như định hướng tới đây, việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hải quan luôn được quán triệt mục tiêu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế.
Thời gian qua, ngành Hải quan luôn xác định công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, trong bối cảnh hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam gia tăng nhanh với nhiều đối tác thương mại trên toàn cầu, hệ thống văn bản pháp luật hải quan được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra thuận lợi. Qua đó, góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại…
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hải quan đã bao quát các mảng nghiệp vụ hải quan, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động quản lý hải quan; xử lý, giải quyết kịp thời những quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất giữa văn bản trong lĩnh vực hải quan với luật, nghị định trong các lĩnh vực chuyên ngành khác có liên quan. Các văn bản bổ sung, nội luật hóa những quy định mới phù hợp với thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Cơ quan hải quan đã kịp thời sửa đổi, bãi bỏ những quy định về thủ tục hành chính không còn cần thiết hoặc lãng phí thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư. Chất lượng văn bản ngày càng được nâng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan. Văn bản được ban hành đã bảo đảm về kỹ thuật soạn thảo, sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, nội dung minh bạch, hạn chế tình trạng văn bản vừa mới ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung.
Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hải quan được ban hành luôn hướng tới mục tiêu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế.
Các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới đều được xây dựng trên nguyên tắc phù hợp với yêu cầu mục tiêu chung của cải cách nền hành chính quốc gia; đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch; đơn giản hóa thủ tục hành chính đảm bảo vừa tạo thuận lợi hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan góp phần nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.
Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đã tiến hành soạn thảo các nghị định về: Kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chia sẻ, kết nối thông tin thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia; quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử.
Các nghị định được ban hành tạo cơ sở pháp lý cải cách kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.
Chiến lược Phát triển ngành Hải quan đến năm 2030 xác định mục tiêu là xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan theo hướng hiện đại, đồng bộ, thống nhất, minh bạch, phù hợp với cam kết quốc tế; trọng tâm là xây dựng Luật Hải quan thay thế Luật Hải quan hiện hành, đảm bảo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan; xây dựng mô hình hải quan số, hải quan thông minh, biên giới thông minh, hải quan xanh... (Thoibaotaichinhvietnam.vn 03/7, Hồng Vân)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Xử lý nghiêm việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn
Dù đã có chuyển biến tích cực trong việc ban hành văn bản pháp luật, song thời gian qua, tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh vẫn còn xảy ra; điều này ảnh hưởng rất lớn đến kỷ cương lập pháp, gây nên sự lãng phí không nhỏ.
Kỷ cương lập pháp chưa nghiêm đã được đưa ra bàn luận rất nhiều. Tuy nhiên, tình trạng này gần như năm nào cũng tái diễn. Việc các bộ, ngành chưa thực hiện đúng kế hoạch lập pháp, xin lùi thời hạn trình Chính phủ, trình Quốc hội, chậm đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo kế hoạch vẫn xảy ra. Ngoài việc xin lùi thì cũng có dự án luật trình chưa bảo đảm chất lượng. Chưa thực hiện nghiêm túc quy định về trình dự thảo văn bản quy định chi tiết đồng thời với trình Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Thậm chí, có dự thảo văn bản quy định chi tiết được trình kèm theo trong Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết nhưng sơ sài, hình thức, nội dung chưa phù hợp, chưa gắn với chính sách quy định tại dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết như là một hình thức “cho có”.
Thực tế cho thấy, "điểm nghẽn" lớn nhất trong kỷ luật lập pháp là tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chưa được khắc phục. Tính đến tháng 7.2022, vẫn còn nợ 10 nghị định, 2 quyết định hướng dẫn, quy định chi tiết 7 luật, nghị quyết đã có hiệu lực. Theo Báo cáo của Tổng Thư ký Quốc hội, tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội năm 2022 cũng cho thấy có 44 điều, khoản của 37 luật, pháp lệnh chưa được Chính phủ và 15 bộ, ngành ban hành văn bản quy định chi tiết. Có tới 64 văn bản đã ban hành nhưng chậm so với yêu cầu. Đáng nói là, có văn bản chậm ban hành tới hơn 8 năm, một số văn bản chậm từ 3 đến 4 năm. Văn bản luật, pháp lệnh được ban hành nhưng thiếu văn bản hướng dẫn làm cho luật chưa thể đi vào cuộc sống.
Sự chậm trễ trong ban hành văn bản hướng dẫn cũng đã xảy ra khi thực hiện một số cơ chế, chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 và chính sách thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, hay chưa cụ thể làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện, giảm ý nghĩa, hiệu quả của chính sách. Tính đến tháng 8.2022, vẫn còn 2/17 văn bản cụ thể hóa chính sách theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ chưa được ban hành. Trong đó, có việc chậm ban hành, chưa ban hành hoặc ban hành hướng dẫn chưa cụ thể về khám, chữa bệnh từ xa, bình ổn giá trang thiết bị y tế; chính sách hỗ trợ đối với các bệnh viện tự chủ về chi thường xuyên được chuyển đổi toàn bộ công năng để phục vụ cho việc điều trị người bệnh Covid-19; thực hiện cơ chế đặc thù, đặc cách, đặc biệt trong sản xuất, mua thuốc, trang thiết bị y tế, hóa chất, đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm số lượng cao hơn nhu cầu thực tế để dự phòng trường hợp dịch diễn biến phức tạp, phát sinh. Chính sự chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn hay ban hành văn bản nhưng chưa cụ thể là khoảng trống lớn, gây lúng túng, bị động cho các cơ quan chuyên môn trong xử lý các tình huống chưa có tiền lệ này.
Việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thể hiện kỷ luật, kỷ cương lập pháp chưa nghiêm. Điều đó cho thấy, cơ quan có trách nhiệm ban hành văn bản chưa thực hiện nghiêm túc quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phía sau sự ban hành chậm trễ các văn bản hướng dẫn cũng dẫn đến sự lãng phí nguồn lực, lãng phí cơ hội đối với người dân, doanh nghiệp. (Daibieunhandan.vn 02/7, Song Hà)Về đầu trang
Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài
Theo dự thảo Đề án Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, từ năm 2021 đến năm 2025, 100% các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành và triển khai thực hiện chính sách cụ thể thu hút, trọng dụng nhân tài phù hợp với Chiến lược và tình hình thực tiễn.
Từ năm 2026 đến năm 2030, 100% các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bảo đảm khung tỷ lệ nhân tài tối thiểu từ 2 - 5% trở lên trong cơ cấu lãnh đạo, quản lý; từ 10 - 15% trở lên trong cơ cấu chuyên môn, nghiệp vụ. Từ năm 2030 trở đi, phấn đấu mỗi năm tăng thêm ít nhất 1% trở lên với cơ cấu lãnh đạo, quản lý và 3% trở lên trong cơ cấu chuyên môn, nghiệp vụ.
Việc thực hiện gồm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 2021 - 2025 sẽ tập trung hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ thể chế pháp luật về thu hút, trọng dụng nhân tài, bảo đảm đồng bộ với quy định về công tác cán bộ của Đảng. Thành lập Quỹ phát triển nhân tài quốc gia. Bước đầu triển khai thực hiện thí điểm ở một số bộ, ngành, địa phương. Giữa năm 2025 tổ chức sơ kết giai đoạn 1. Giai đoạn 2 từ năm 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 sẽ tập trung triển khai thi hành Chiến lược đồng bộ từ Trung ương đến cấp cơ sở. Đến giữa năm 2030 tổ chức tổng kết việc thực hiện Chiến lược.
Để thực hiện mục tiêu này, dự thảo Đề án đưa ra các nhóm giải pháp như hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành chính sách pháp luật về thu hút, trọng dụng nhân tài. Nâng cao nhận thức về nhân tài; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng gắn với tạo nguồn nhân tài; tạo môi trường, điều kiện làm việc; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện và cuối cùng là hợp tác quốc tế.
Từ lâu, việc trọng dụng nhân tài luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, thể hiện qua nhiều cơ chế, chính sách đãi ngộ đã được ban hành như ưu tiên tuyển thẳng vào biên chế, cấp nhà, chính sách lương và hỗ trợ ban đầu... Tuy nhiên, thực tế, các chính sách này chưa phát huy hiệu quả, chưa "giữ chân" được nhân tài. Ví dụ điển hình là tại một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... dù đã rất nỗ lực triển khai nhưng kết quả đạt được rất hạn chế, thậm chí có thể coi là thất bại.
Vậy vì sao thu hút nhân tài chưa đạt như kỳ vọng dù đã có nhiều chính sách được ban hành? Câu trả lời là do các quy định về thu hút, trọng dụng nhân tài mới chỉ mang tính nguyên tắc và còn tản mát ở nhiều văn bản. Nội dung các quy định cũng chưa hợp lý, mới chỉ đề cập đến các ưu tiên, ưu đãi, trong khi những vấn đề cốt lõi như cách thức sử dụng nhân tài, môi trường làm việc, sự thăng tiến... lại chưa được thể chế hóa. Đặc biệt, nhận thức cũng như cách thức triển khai chính sách thu hút nhân tài cũng chưa sâu sát, chưa thống nhất, đồng bộ, mỗi nơi triển khai một kiểu hoặc không coi trọng, hoặc tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của từng bộ, ngành, địa phương. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu quy hoạch mang tính đồng bộ.
Nghị quyết Đại hội XIII định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 đã nhấn mạnh là tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài... Tuy nhiên, từ thực tế đã và đang diễn ra cho thấy cần có sự thay đổi trong tư duy, nhận thức và cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài. Bởi với đối tượng đặc thù như người tài, chế độ lương bổng và những ưu đãi khác dù quan trọng nhưng không phải yếu tố quyết định duy nhất có thể thu hút và giữ chân họ mà quan trọng nhất là cơ hội được trao, là môi trường để họ chứng tỏ và thể hiện năng lực. (Daibieunhandan.vn 03/7, Ninh Hà)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Từ một quyết sách của Chính phủ, người dân cảm nhận tín hiệu vui trong cải cách hành chính
Người dân bày tỏ sự ủng hộ, đồng tình và cảm nhận thấy tín hiệu rất vui trong cải cách thủ tục hành chính (TTHC) khi Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 252/TB-VPCP, ngày 29-6-2023 về “Kết luận của Phó thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang tại cuộc họp công tác cải cách TTHC và nâng cao hiệu quả tư vấn chính sách cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”.
Theo Kết luận, bên cạnh một số điểm mạnh, Phó thủ tướng Chính phủ thẳng thắn chỉ ra nhiều điểm hạn chế, tồn tại trong giải quyết TTHC và biện pháp khắc phục.
Lâu nay, qua khảo sát, tìm hiểu ở nhiều ngành, địa phương, các cơ quan báo chí, truyền thông cũng đã chỉ ra, chất lượng dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế, có nơi còn hình thức. Tuy là một cửa liên thông nhưng ở một số địa phương, người dân, doanh nghiệp giải quyết TTHC, nhất là vấn đề liên quan đến đất đai, xây dựng..., nếu không có khâu trung gian, nếu không nhờ “cò mồi”, không có “lót tay” thì thời gian hoàn thiện thủ tục rất dài.
Còn ở nhiều cơ quan, trong báo cáo sơ kết 6 tháng, tổng kết năm, số lượng phát hành văn bản tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo được đặt lên hàng đầu, tự hào so sánh “năm sau cao hơn năm trước”, coi đó là thành tích “đáng nể” để đề nghị khen thưởng. Có những chuyện “thật như bịa”, “cười ra nước mắt” khi văn bản gửi từ phòng này sang phòng kia cũng mất đến cả tuần vì qua nhiều khâu trung gian thẩm định; văn bản muốn chuyển đến thủ trưởng có khi phải cả tháng vì văn phòng phải xin ý kiến các cơ quan, đôi khi cũng lợi dụng việc xin ý kiến để "hành" nhau, vòi vĩnh, kiếm chác, tham nhũng vặt.
Trong những nguyên nhân dẫn tới tồn tại, hạn chế trong cải cách TTHC thì nguyên nhân cơ bản, cốt lõi là do một số cơ quan, đơn vị chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhất là vai trò của người đứng đầu. Ở đây thấy rõ là nhiều người đứng đầu địa phương, ngành và cả người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc sợ trách nhiệm, sợ sai nên mới có suy nghĩ đơn giản, thôi thì nhiều thủ tục, có sai là lỗi sai của tập thể, không của riêng ai.
Cải cách TTHC là một khâu trọng tâm, đột phá, là một nội dung quan trọng của cải cách hành chính Nhà nước. Nếu không nỗ lực đẩy mạnh cải cách TTHC thì nguy cơ “tụt hậu” trên nhiều lĩnh vực rất dễ xuất hiện. Hơn lúc nào hết, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương phải quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15-7-2021 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước các cấp phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe những phản ánh, kiến nghị của người dân, cộng đồng doanh nghiệp; phải chịu trách nhiệm chính trong việc cải cách TTHC của cơ quan, địa phương, đơn vị mình phụ trách. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có đạo đức cách mạng trong sáng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, đủ sức thực hiện TTHC trên môi trường điện tử.
Cải cách TTHC tốt, lấy người dân là chủ thể, là trung tâm sẽ góp phần quan trọng xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ, tạo ra bước đột phá phát triển đất nước. Người dân đang trông đợi cải cách TTHC phải cải cách thật, làm thật. Người dân muốn yên ổn, không muốn suốt đời phải chạy theo các quy định mới, thủ tục mới mà không thiết thực. (Qdnd.vn 03/7, Quang Thắng)Về đầu trang
Cần mạnh dạn thực hiện “khoán” biên chế theo công việc
Đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân - đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau đã đề xuất như trên trong cuộc trò chuyện với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam về việc sắp xếp, tổ chức bộ máy và biên chế quản lý Nhà nước hiện nay.
Theo ông Vân: “Thời gian qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cũng đã tích cực trong việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế. Điều đó cho thấy, sự chuyển biến ban đầu rất quan trọng, tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn còn cần phải nỗ lực nhiều hơn. So với yêu cầu cải cách hành chính, sắp xếp bộ máy và tinh gọn biên chế, còn cần phải cố gắng và quyết liệt hơn nữa”.
Vị đại biểu cũng chỉ ra nguyên nhân khiến việc thực hiện sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế còn chưa đạt mục tiêu: “Thứ nhất, do vai trò của cấp ủy, người đứng đầu của các cấp thực sự vẫn chưa phát huy hết vai trò tích cực, đôn đốc của mình... Thứ hai, sự trì trệ trong bộ máy vẫn còn, nhất là ở bộ phận giúp việc cho cấp ủy, người đứng đầu. Thứ ba, tâm lý vẫn còn “bám víu” chức vụ, giữ lấy các đầu mối để giữ chức vụ, tâm lý vào nhà nước để hưởng lương trọn đời...”.
“Về phương hướng, trước hết phải coi sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế là một nhiệm vụ quan trọng của cấp ủy, người đứng đầu phải coi là một “thang điểm” khi đánh giá cán bộ. Thứ hai, phải đẩy mạnh rà soát chức năng, nhiệm vụ, để phân loại, loại bỏ bớt những công việc chồng chéo, để phân công lại chức năng, nhiệm vụ cho cơ quan nhà nước.
Thứ ba, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nhiệm vụ, quyền hạn nào phù hợp với cấp dưới mà có thể phát huy được lợi thế thì cấp trên nên mạnh dạn phân cấp, phân quyền cho cấp dưới, nhằm tăng cường năng lực cho mỗi chủ thể, phát huy được vai trò, trách nhiệm và lợi thế của mỗi cấp ngành, địa phương...
Thứ tư, phải xác định tinh giản biên chế là một công việc rất quan trọng, ảnh hưởng chất lượng hoạt động và sử dụng ngân sách nhà nước, nên cần mạnh dạn thực hiện “khoán” biên chế theo công việc, do người đứng đầu phân cấp. Từ đó, có thể thuê khoán và định lượng được số lượng nhân sự theo công việc, như vậy mới có thể tuyển chọn, thu hút được người tài vào bộ máy, và chỉ có người tài mới có thể làm thay đổi được chất lượng công việc, khiến số lượng biên chế giảm, có căn cứ để cải cách tiền lương” - Đại biểu Lê Thanh Vân phân tích.
Cũng trao đổi về vấn đề tinh giản biên chế, ông Nguyễn Tiến Dĩnh - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ đánh giá: “Bên cạnh việc nỗ lực tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy của Bộ, Bộ Nội vụ cũng đã tích cực tham mưu cho Chính phủ trong việc sắp xếp lại bộ máy của các Bộ, ngành khác cũng như bộ máy hành chính tại các địa phương... Tính đến nay, cũng đã có rất nhiều Bộ đã giảm được các tổng cục, cục, vụ/ban... đây cũng là một kết quả đáng mừng.
Ở giai đoạn trước, tinh giản biên chế cũng đạt mục tiêu về mặt số lượng nhưng về chất lượng vẫn chưa đạt được. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề phải tiếp tục nâng cao chất lượng trong việc sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế trong thời gian tới.
Về cách làm của tinh giản biên chế phải chú ý làm sao đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Chú ý các đối tượng cần tinh giản, chẳng hạn dôi dư do không sắp xếp, hay do không đạt được trình độ của vị trí việc làm... chứ nếu chỉ tinh giản với đối tượng chuẩn bị nghỉ hưu, hay những người có nguyện vọng nghỉ... thì lại không đạt được mục tiêu”. (Giaoduc.net.vn 03/7, Ngân Chi)Về đầu trang
Cải cách tiền lương mới thu hút và giữ chân được người tài
Theo ông Trần Văn Khải - Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Việc tăng lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng/tháng từ ngày 1-7 là quyết định rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Nhờ đó không chỉ góp phần bảo đảm thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức, giúp họ có thêm kinh phí trang trải cuộc sống mà còn có ý nghĩa quan trọng nhằm củng cố lòng tin của người dân.
Tuy vậy, khi đồng lương được cải thiện, đối tượng thụ hưởng chính sách vẫn canh cánh nỗi lo "lương chưa tăng, giá đã tăng". Do đó, việc tăng lương nếu không đi kèm với kiểm soát lạm phát và bình ổn giá thì khó đạt mục đích. Để việc tăng lương đi vào thực chất, đòi hỏi Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương cần có giải pháp đồng bộ, kịp thời trong quản lý, điều hành giá.
Cải cách chính sách tiền lương, nâng cao đời sống cán bộ, công chức, viên chức luôn là vấn đề được quan tâm. Trong bối cảnh ngân sách còn khó khăn, việc tăng lương lần này là sự cố gắng rất lớn, phần nào đáp ứng được mong đợi của nhiều người. Thực tế thời gian qua, tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức còn thấp hơn so với người cùng trình độ ở khu vực tư và chưa bảo đảm mức sống. Trong khi đó, áp lực công việc ngày càng tăng khiến một bộ phận không nhỏ đã rời khu vực công sang khu vực tư.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống người dân khi thực hiện 4 lần cải cách tiền lương với nhiều kết quả tích cực. Dẫu vậy, chính sách tiền lương hiện nay vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Thực tế này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cải cách tiền lương hơn nữa.
Về lâu dài, để cán bộ, công chức, viên chức có thể yên tâm sống bằng lương, việc cải cách tiền lương phải đi vào thay đổi căn bản, thực chất. Cần coi việc cải cách tiền lương, trả lương là một hình thức đầu tư cho con người, đầu tư cho tương lai. Đây là chính sách vô cùng quan trọng bởi khi thực hiện tốt sẽ có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Dù vậy, cải cách tiền lương luôn là bài toán khó, phải chuẩn bị một nguồn lực rất lớn. Để có nguồn lực đó, Chính phủ cần đồng thời triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế.
Chính phủ đang xây dựng lộ trình cải cách tiền lương để trình cấp có thẩm quyền thông qua. Về định hướng cải cách tiền lương, có thể nghiên cứu, xem xét, xây dựng phương án trả lương theo vị trí việc làm và bảo đảm sức cạnh tranh cao đối với khu vực tư. Tăng lương phù hợp với vị trí việc làm sẽ tạo được động lực cho cán bộ, công chức, viên chức cống hiến, nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả công việc. Khi thu nhập đủ sống, họ sẽ gắn bó hơn với công việc, qua đó thu hút và giữ chân được người tài.
Bên cạnh cải cách tiền lương, việc sắp xếp lại các đơn vị, tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy cũng là nhiệm vụ đang được Chính phủ triển khai. Song song đó là cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, cải cách đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là cơ sở quan trọng để cải cách tiền lương trong thời gian tới, hướng đến mục tiêu "cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng lương". (Nld.com.vn 03/7, Minh Phong)Về đầu trang
THẾ GIỚI
Luật Bảo vệ người tố giác mới của Đức: Thúc đẩy môi trường làm việc minh bạch, trách nhiệm
Bắt đầu từ 2.7, Luật Bảo vệ người tố giác của Đức chính thức có hiệu lực, cung cấp các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ toàn diện cho những người tố cáo, khuyến khích họ cung cấp thông tin về hành vi sai trái trong các công ty và cơ quan công quyền. Văn bản pháp lý này có khả năng thúc đẩy một môi trường làm việc minh bạch và trách nhiệm hơn, nơi nhân viên được trao quyền báo cáo các vi phạm mà không sợ bị "trù dập".
Luật Bảo vệ người tố cáo áp dụng cho các công ty có hơn 50 nhân viên, cũng như các cơ quan công quyền, bao gồm khoảng 90.000 thực thể ở Đức. Luật nhằm bảo vệ những người tố cáo khỏi bị sa thải và quấy rối bằng cách bắt buộc các công ty thiết lập các kênh báo cáo bí mật. Những đầu mối liên lạc được chỉ định này sẽ nhận và xử lý các báo cáo về hành vi sai trái một cách an toàn và kín đáo.
Luật quy định, những người vi phạm luật có thể bị phạt tới 50.000 euro, từ đó gửi thông điệp mạnh mẽ rằng hành động "trả đũa" những người tố cáo sẽ không được dung thứ. Hơn nữa, một văn phòng báo cáo bên ngoài sẽ được thành lập tại Văn phòng Tư pháp Liên bang, cung cấp cho người tố cáo tùy chọn báo cáo vi phạm trong nội bộ hoặc bên ngoài dựa trên mong muốn và hoàn cảnh của họ.
Trong khi nhiều công ty lớn ở Đức đã có văn phòng báo cáo, luật mới nêu bật nhu cầu thiết lập đường dây nóng nội bộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ở Đức, ước tính có khoảng 10.000 đường dây nóng vẫn còn thiếu trong các SME, do đó luật yêu cầu các công ty này phải nhanh chóng thiết lập. Để giảm thiểu gánh nặng tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ hơn, tối đa bốn công ty có thể chia sẻ một đường dây nóng duy nhất, giảm chi phí và sự phức tạp về hành chính. Mặc dù việc thành lập ban đầu các văn phòng báo cáo này được ước tính sẽ tiêu tốn khoảng 190 triệu euro trong nền kinh tế Đức, nhưng những người ủng hộ lập luận rằng lợi ích lâu dài của việc phát hiện sớm và sửa chữa hành vi sai trái lớn hơn khoản đầu tư đó.
Bà Anja Piel, thành viên ban điều hành của Liên đoàn Công đoàn Đức (DGB) đánh giá, luật mới có khả năng thúc đẩy nền văn hóa trong đó những người tố cáo không còn bị coi là những kẻ gây rối mà là những cá nhân dũng cảm được đánh giá cao. Theo bà, những nhân viên báo cáo hành vi sai trái không nên sợ bị trả thù hoặc thiệt thòi, mà nên được công nhận vì đóng góp của họ cho môi trường làm việc minh bạch và có đạo đức. Luật gửi tín hiệu rõ ràng rằng, việc phơi bày hành vi sai trái được đánh giá cao và được bảo vệ, tạo ra môi trường nơi người lao động cảm thấy được trao quyền để lên tiếng mà không gây nguy hiểm cho sự nghiệp của họ. (Daibieunhandan.vn 02/7, Linh Anh)Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/6/2023 (30/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 29/6/2023 (29/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 28/6/2023 (28/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 27/6/2023 (27/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 26/6/2023 (26/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/6/2023 (23/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/6/2023 (22/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 21/6/2023 (21/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 20/6/2023 (20/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/6/2023 (19/06/2023)

