Bản tin Cải cách hành chính ngày 23/10/2026
- Đồng Tháp: Cải cách hành chính phải giảm thời gian, chi phí cho người dân. 3
- Điện Biên chi gần 16,4 tỉ thuê công nghệ số giải quyết thủ tục hành chính. 4
- Đà Nẵng: Chuyển đổi số trong hoạt động Mặt trận. 5
- Hải Phòng áp dụng ISO 18091:2020 nâng cao hiệu quả quản trị cấp xã. 6
- Tuyên Quang: Đẩy mạnh cải cách hành chính, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026. 6
- Cần Thơ bố trí 1.825 tỷ đồng giải phóng mặt bằng khu công nghệ cao, thu hút đầu tư. 7
- Bốn nhóm giải pháp đột phá cải cách thể chế. 8
- Sửa Luật Điện lực: Thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ để bảo đảm an ninh năng lượng. 10
- Quy định mức phí khai thác thông tin Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. 10
- Quy định mới về thủ tục hải quan với hàng hóa mua gom của cư dân biên giới 11
Sửa đổi đồng bộ ba luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển
Ngày 22/10/2026, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra ba dự án luật quan trọng gồm Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi). Việc sửa đổi đồng bộ ba đạo luật nhằm tháo gỡ những bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai, phát triển nhà ở và thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Trình bày Tờ trình dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; đồng thời giải quyết những vướng mắc phát sinh sau hai năm thi hành Luật Đất đai năm 2024.
Đặc biệt, các quy định về phân cấp, phân quyền và tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực đất đai theo các cơ chế hiện hành chỉ có hiệu lực đến hết ngày 28/02/2027. Vì vậy, việc ban hành Luật trước ngày 01/3/2027 là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm tính liên tục, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Dự thảo Luật gồm 13 chương, 112 điều, giảm 03 chương và 148 điều so với Luật Đất đai năm 2024 (gồm 260 điều). Định hướng sửa đổi tập trung vào những vấn đề cốt lõi liên quan đến quyền của người sử dụng đất, chuyển mạnh từ quản lý bằng công cụ hành chính sang công cụ kinh tế, tăng cường phân cấp, phân quyền và ứng dụng công nghệ số.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đổi mới cơ chế quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo đó, dự thảo không quy định riêng quy hoạch sử dụng đất mà tích hợp nội dung sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh; kế hoạch sử dụng đất cấp xã được xây dựng theo hướng đơn giản, số hóa, phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Về giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất, dự thảo bổ sung căn cứ đánh giá tiến độ sử dụng đất, tiến độ đầu tư của các dự án trước đó; phân định rõ trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư hoặc thực hiện thông qua nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Đối với dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), Chính phủ đề xuất dự thảo gồm 13 chương, 130 điều, giảm 68 điều so với Luật Nhà ở năm 2023. Điểm đổi mới nổi bật là xác lập bốn nhóm nhà ở với cơ chế, chính sách tương ứng, gồm: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Trong đó, việc bổ sung một chương riêng về phát triển nhà ở cho thuê thể hiện sự chuyển biến quan trọng trong tư duy chính sách, hướng đến giải quyết nhu cầu chỗ ở thực tế của người dân, nhất là những đối tượng chưa đủ điều kiện sở hữu nhà ở.
Dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bất động sản, khắc phục những chồng chéo giữa pháp luật về đất đai, nhà ở, đầu tư và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo Tờ trình của Chính phủ, dự thảo làm rõ phạm vi điều chỉnh, không áp dụng đối với giao dịch nhà ở xã hội, nhà ở chính sách; sửa đổi quy định về kinh doanh quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật, chuyển nhượng dự án bất động sản và các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản.
Việc Quốc hội đồng thời xem xét sửa đổi ba đạo luật có mối quan hệ mật thiết phản ánh yêu cầu hoàn thiện thể chế một cách tổng thể, thống nhất. Nếu pháp luật đất đai xác lập cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai, thì pháp luật nhà ở điều chỉnh chính sách phát triển, sở hữu, quản lý nhà ở; pháp luật kinh doanh bất động sản tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động đầu tư, giao dịch trên thị trường.
Do đó, sự thống nhất giữa ba đạo luật, đặc biệt về quy hoạch, giao đất, nghĩa vụ tài chính, điều kiện đầu tư, giao dịch, công chứng và thời điểm có hiệu lực thi hành, là điều kiện quan trọng để tránh xung đột pháp luật, hạn chế tranh chấp và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Các cơ quan thẩm tra đều nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật và khả năng áp dụng trong thực tiễn. (Tapchitoaan.vn 22/10)
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Đồng Tháp: Cải cách hành chính phải giảm thời gian, chi phí cho người dân
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Tháp giải quyết trước và đúng hạn 98,17% hồ sơ thủ tục hành chính nhưng vẫn có 17.614 hồ sơ quá hạn. Bộ Nội vụ đề nghị tỉnh chuyển mạnh từ đánh giá nhiệm vụ đã làm sang kết quả, tác động thực chất, nhất là giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Chiều 22/10, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ do ông Phạm Minh Hùng, Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính làm Trưởng đoàn làm việc với UBND tỉnh Đồng Tháp về kết quả cải cách hành chính (CCHC) từ năm 2024 đến tháng 9/2026. Tham dự cuộc làm việc có Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đổng Tháp Trần Văn Dũng, đại diện lãnh đạo các sở, ngành.
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành 14 quyết định phê duyệt phương án đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết 2.039 TTHC, với tỉ lệ cắt giảm bình quân 30,98%.
Riêng năm 2026, tỉnh ban hành 4 quyết định giảm 50% thời gian giải quyết đối với 51/51 TTHC đặc thù, đồng thời kiến nghị các bộ, ngành Trung ương đơn giản hóa 114 thủ tục.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, Đồng Tháp tiếp nhận 979.261 hồ sơ, đã giải quyết 960.579 hồ sơ; trong đó 942.965 hồ sơ trước và đúng hạn, đạt 98,17%. Tỉ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC đạt khoảng 98,20%; tỉ lệ cấp kết quả điện tử đạt 98,30% và tỉ lệ khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 97,50%.
Theo kết quả ghi nhận trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp tăng từ 81,07% tháng 7/2025 lên 93,92% tháng 12/2025 và đạt 96,02% trong tháng 9/2026.
Ghi nhận những kết quả của Đồng Tháp trong bối cảnh khối lượng công việc lớn, nhiều quy trình và thẩm quyền thay đổi, ông Phạm Minh Hùng, Trưởng đoàn công tác, chỉ ra một số tồn tại cần khắc phục, nhất là trong giải quyết số hồ sơ quá hạn. Theo đó, tỉnh cần kiểm soát tiến độ xử lý theo từng khâu, nhất là hồ sơ liên thông; phân tích nguyên nhân quá hạn theo cơ quan, lĩnh vực và loại thủ tục để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Đối với Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS), các nội dung về kết quả, tác động của chính sách; TTHC và cơ hội tham gia của người dân vào quá trình xây dựng, thực hiện chính sách còn chưa đạt như mong muốn. Do đó, ông Phạm Minh Hùng đề nghị tỉnh Đồng Tháp phân tích từng tiêu chí, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp khắc phục, hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ thực chất, không chỉ tập trung cải thiện thứ hạng. (Baochinhphu.vn 22/10)
Điện Biên chi gần 16,4 tỉ thuê công nghệ số giải quyết thủ tục hành chính
Ngày 22/10, UBND tỉnh Điện Biên vừa phê duyệt Kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh với tổng dự toán kinh phí gần 16,4 tỉ đồng. Gói dịch vụ được triển khai thực hiện trong 36 tháng, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước từ nguồn chi sự nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đơn vị tư vấn lập kế hoạch là Công ty TNHH tư vấn và đầu tư Công nghệ DMT Việt Nam, hình thức quản lý kế hoạch là thuê tư vấn quản lý. Trong tổng kinh phí 16,35 tỉ đồng, chi phí thuê dịch vụ công nghệ số chiếm hơn 14,2 tỉ đồng; phần còn lại gồm chi phí tư vấn (hơn 592 triệu đồng), chi phí quản lý, dự phòng và các khoản chi phí liên quan khác.
Mục tiêu của kế hoạch nhằm duy trì vận hành ổn định, liên tục và nâng cấp Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với xây dựng chính quyền số. Hệ thống được vận hành đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh, bao gồm 14 sở, ban, ngành (Văn phòng UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh, các sở chuyên môn) và UBND của 45 xã, phường. (Laodong.vn 22/10, Tân Văn)
Đà Nẵng: Chuyển đổi số trong hoạt động Mặt trận
Chuyển đổi số mở ra những cách thức mới để Mặt trận lắng nghe ý kiến nhân dân, tiếp nhận và giám sát việc giải quyết kiến nghị từ cơ sở. Qua đó góp phần đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ và đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.
Tại xã Thăng Bình, mô hình “Hộp thư số Mặt trận xã Thăng Bình - Lắng nghe dân nói” do Ủy ban MTTQ Việt Nam xã triển khai trở thành kênh tiếp nhận góp ý, phản ánh, kiến nghị của người dân về xây dựng Đảng, chính quyền và các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, môi trường, đất đai, hạ tầng, an sinh xã hội, cải cách hành chính.
Một trong những phản ánh thiết thực là kiến nghị của ông Trần Văn Luật (thôn Hà Kiều) về tình trạng vào mùa mưa, nước không thoát được, gây ngập úng, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, Mặt trận chuyển phản ánh đến các bộ phận liên quan. UBND xã chỉ đạo Phòng Kinh tế chủ trì, phối hợp với Ban Nhân dân thôn Hà Kiều kiểm tra và xử lý nhanh chóng kiến nghị của người dân.
Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Thăng Bình Trần Ngọc Tú cho biết, sau hơn 2 tháng triển khai, hộp thư số tiếp nhận 9 ý kiến về quản lý nhà nước, công tác triển khai xây dựng Đảng và các vấn đề liên quan. Các ý kiến được tiếp nhận, phân loại, chuyển đến đơn vị có trách nhiệm giải quyết, phản hồi kịp thời với người dân. Mặt trận đồng thời giám sát quá trình giải quyết kiến nghị.
“Hiệu quả của chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc tạo thêm kênh tiếp nhận thông tin mà còn ở khả năng kết nối phản ánh của người dân với cơ quan có trách nhiệm xử lý. Qua đó, Mặt trận phát huy vai trò cầu nối, theo dõi và giám sát việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở”, ông Tú cho biết.
Tại xã Tân Hiệp, chuyển đổi số được triển khai gắn với tuyên truyền, vận động và hỗ trợ người dân. Ông Trần Phúc, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Tân Hiệp cho biết, Mặt trận xã xây dựng mô hình “Xã áp dụng công nghệ số” triển khai tại 3 thôn. Cán bộ Mặt trận cùng lực lượng đoàn thanh niên, phụ nữ đến tận nhà hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số.
Với đặc thù xã đảo, địa phương cũng chú trọng cập nhật thông tin, văn bản của Trung ương và địa phương, sử dụng các nhóm zalo để chuyển tải thông tin nhanh chóng đến người dân.
Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Hòa Cường Nguyễn Thị Mai Hương cho biết, sau hơn một năm đưa công nghệ số vào hoạt động của Mặt trận, giúp tối ưu hóa công tác quản lý, lắng nghe ý kiến nhân dân nhanh chóng hơn mà còn tạo bước đột phá trong công tác tuyên truyền, vận động ở cơ sở.
Nền tảng “Mặt trận số” đã và đang trở thành cầu nối hiện đại, minh bạch giữa chính quyền, Mặt trận với nhân dân, giúp người dân dễ dàng cập nhật thông tin chính thống, phản ánh kiến nghị và tham gia các phong trào thi đua yêu nước tại địa phương. (Mattran.org.vn 22/10)
Hải Phòng áp dụng ISO 18091:2020 nâng cao hiệu quả quản trị cấp xã
Hải Phòng đặt mục tiêu đến năm 2028, 100% chính quyền cấp xã áp dụng tiêu chuẩn TCVN ISO 18091:2020, hướng tới chuẩn hóa hoạt động quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ công và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Ngày 19/10/2026, tại Hội nghị triển khai xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 18091:2020 trong chính quyền địa phương cấp xã giai đoạn 2026 - 2028, thực hiện Kế hoạch số 241/KH-UBND, Phó Giám đốc Sở KH&CN Hải Phòng Phạm Việt Hùng nhấn mạnh, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý, điều hành khi cấp xã được giao thêm nhiều thẩm quyền, nhiệm vụ.
Việc áp dụng TCVN ISO 18091:2020 sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, gắn với cải cách hành chính, chuyển đổi số, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông và nâng cao mức độ hài lòng của người dân, tổ chức.
TCVN ISO 18091:2020 là tiêu chuẩn quốc gia hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001 tại chính quyền địa phương, với 39 chỉ số thuộc 4 nhóm lĩnh vực: xây dựng thể chế, phát triển kinh tế, phát triển xã hội và phát triển môi trường bền vững.
Việc áp dụng tiêu chuẩn giúp chính quyền địa phương nhận diện những điểm cần cải thiện trong hoạt động quản lý, làm rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng bước hình thành cơ chế tự đánh giá và cải tiến liên tục, lấy chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Tại Hội nghị, các đại biểu được giới thiệu nội dung cơ bản của tiêu chuẩn, các điều kiện xây dựng, áp dụng tại cấp xã, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và lộ trình thực hiện. Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuẩn bị triển khai cũng được trao đổi, giải đáp. (Mst.gov.vn 22/10)
Tuyên Quang: Đẩy mạnh cải cách hành chính, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026
Chiều 22/10, đồng chí Đỗ Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp chuyên đề đánh giá kết quả cải cách hành chính (CCHC) 9 tháng đầu năm, triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026. Dự họp có lãnh đạo một số sở, ngành, cơ quan, đơn vị là thành viên Tổ giúp việc.
Theo báo cáo, kết quả công bố năm 2025 của Bộ Nội vụ cho thấy, chỉ số CCHC (PAR INDEX) của tỉnh đạt 90,01 điểm, xếp thứ 18/34 tỉnh, thành phố, đứng đầu trong 7 tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt 83,44%, xếp thứ 16/34 tỉnh, thành phố và thứ 2 trong khu vực. Đây là những kết quả tích cực, phản ánh nỗ lực đổi mới phương thức điều hành, nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan hành chính.
Trong công tác chỉ đạo, điều hành, UBND tỉnh đã ban hành 401 văn bản về CCHC, hoàn thành 50/58 nhiệm vụ theo kế hoạch, đạt 86,2%; tổ chức kiểm tra tại 28/28 cơ quan, đơn vị theo kế hoạch. Công tác tuyên truyền, tập huấn được đẩy mạnh với nhiều hình thức phù hợp, trong đó có các video bằng tiếng dân tộc thiểu số, chương trình “Cầu nối số hóa từ cơ sở”, “Chiến dịch mùa hè số cùng VNeID” và “Bình dân học vụ số”. Tỉnh đã tổ chức 10 lớp tập huấn với 918 học viên, góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế tiếp tục được chú trọng.
Đối với cải cách thủ tục hành chính, tỉnh phê duyệt tái cấu trúc quy trình dựa trên dữ liệu đối với 13 thủ tục hành chính đặc thù, đơn giản hóa thành phần hồ sơ của 191 thủ tục hành chính và cắt giảm 50% thời gian giải quyết đối với 111 thủ tục hành chính. Cả 124 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã được trang bị cơ sở vật chất, phần mềm kết nối phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn đạt trên 98,8% ở cấp tỉnh, trên 99,4% ở cấp xã. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, gắn với vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, giảm 480 đơn vị, tương ứng 45,15% so với thời điểm ngày 1-7-2025.
Kết luận cuộc họp, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Anh Tuấn nhấn mạnh, 3 tháng cuối năm 2026 là giai đoạn nước rút, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành các mục tiêu CCHC của tỉnh. Đồng chí yêu cầu các sở, ngành, địa phương rà soát toàn diện nhiệm vụ được giao, xác định rõ những hạn chế, nguyên nhân, thời hạn khắc phục và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân; tập trung xử lý các tiêu chí bị trừ điểm, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện. (Baotuyenquang.com.vn 22/10)
Cần Thơ bố trí 1.825 tỷ đồng giải phóng mặt bằng khu công nghệ cao, thu hút đầu tư
Ngày 22/10, HĐND TP Cần Thơ thông qua nghị quyết cho phép một số trường hợp sử dụng đất trong Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao không phải hoàn trả kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng từ ngân sách Nhà nước.
Nghị quyết được thông qua nhằm tháo gỡ vướng mắc về chi phí đất đai, tạo thuận lợi thu hút đầu tư. Theo ông Trần Chí Hùng, Phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ, nghị quyết được xây dựng nhằm thống nhất cơ chế xử lý chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng tại khu công nghệ cao sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.
Nghị quyết áp dụng đối với ba nhóm trường hợp. Thứ nhất, người thuê đất trả tiền hằng năm thuộc diện được miễn, giảm tiền thuê đất nhưng có nguyện vọng không hưởng ưu đãi này. Thứ hai, tổ chức, cá nhân sử dụng đất xây dựng công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật, cây xanh, công viên công cộng theo quy hoạch. Thứ ba, Ban Quản lý khu công nghệ cao và các đơn vị trực thuộc sử dụng đất xây dựng trụ sở, công trình sự nghiệp và công trình phục vụ quản lý, khai thác hạ tầng.
Nghị quyết cũng quy định các trường hợp đã được cấp có thẩm quyền cho phép không phải hoàn trả kinh phí tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành. Hồ sơ đã tiếp nhận hoặc trường hợp chưa có quyết định, thông báo hoàn trả kinh phí tại thời điểm nghị quyết có hiệu lực sẽ được áp dụng theo quy định mới. (Baoxaydung.vn 22/10, Đào Văn)
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Bốn nhóm giải pháp đột phá cải cách thể chế
Ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc VCCI-HCM cho rằng, việc tối ưu hóa thủ tục, xóa bỏ chi phí không chính thức và minh bạch hóa quy định là bước đi thực chất đưa nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Nhằm góp phần phản ánh bức tranh về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển lực lượng doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế, dưới sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Diễn đàn “Tái cấu trúc doanh nghiệp trong bối cảnh mới”.
Ông Trần Ngọc Liêm, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh TP HCM (VCCI-HCM), cho biết để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả nước năm 2026, tăng trưởng GDP quý IV đòi hỏi đạt mức 12,5%, Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu khu vực kinh tế tư nhân phải duy trì tốc độ tăng trưởng từ 10% đến 12%/năm. Tốc độ này đảm bảo cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số từ năm 2026.
Nỗ lực cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước đạt được những kết quả ghi nhận. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định trên văn bản và thực tế thực thi tại cấp cơ sở vẫn là bài toán kéo dài. Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2025 do VCCI thực hiện phản ánh 25% doanh nghiệp gặp tình trạng quy trình xử lý thực tế không đúng với nội dung niêm yết công khai. Khoảng 1/3 số doanh nghiệp phản ánh thời gian giải quyết thủ tục bị kéo dài hơn so với quy định pháp luật.
Ông Trần Ngọc Liêm cho biết cộng đồng doanh nghiệp coi việc cải thiện môi trường kinh doanh và minh bạch hóa thể chế là ưu tiên hàng đầu. Nhiều doanh nghiệp khẳng định môi trường pháp lý an toàn, dự báo được có ý nghĩa quan trọng hơn các biện pháp hỗ trợ tài chính ngắn hạn.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, ông Trần Ngọc Liêm đề xuất bốn nhóm giải pháp chiến lược nhằm biến cải cách thể chế thành động lực tăng trưởng thực chất.
Thứ nhất, đo lường hiệu quả cải cách bằng trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp. Việc cải cách cần chuyển trọng tâm từ cắt giảm số lượng văn bản sang nâng cao chất lượng thực thi. Cơ quan quản lý cần số hóa toàn bộ quy trình xử lý, kết nối dữ liệu liên thông theo nguyên tắc một lần khai báo, nhiều lần sử dụng. Đánh giá kết quả cải cách phải căn cứ vào thời gian và chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra. Năng lực vận hành công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở cần được nâng cao để tránh hiện tượng tắc nghẽn hạ tầng kỹ thuật.
Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế ổn định, minh bạch và có thể dự báo. Cơ quan soạn thảo văn bản pháp luật cần tăng cường tham vấn ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngay từ khâu dự thảo. Việc đánh giá tác động chính sách phải được thực hiện thực chất. Để tăng cường kết nối, VCCI TP HCM phối hợp với hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Lâm Đồng xây dựng cơ chế phản ánh trực tiếp với lãnh đạo địa phương. VCCI TP HCM đề xuất thành lập Hội đồng Doanh nghiệp vùng nhằm tạo kênh phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp thống nhất.
Thứ ba, xóa bỏ chi phí không chính thức và đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Cơ quan chức năng cần công khai toàn bộ quy trình, thời hạn xử lý và đề cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Cần thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh an toàn để bảo vệ doanh nghiệp khi tố giác vi phạm. Môi trường kinh doanh phải bảo đảm sự bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và khu vực FDI. Các địa phương cần có giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút FDI, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Thứ tư, chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phục vụ, gắn liền với liên kết vùng. Bộ máy hành chính cần lấy sự thành công của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả công vụ. Cần xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm vì lợi ích chung. Đối với vùng trung tâm kinh tế phía Nam, các địa phương phải thống nhất quy trình, thủ tục hành chính và chia sẻ dữ liệu liên thông. Việc áp dụng đồng nhất chính sách giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ khi hoạt động trên nhiều địa bàn. (Diendandoanhnghiep.vn 22/10)
https://diendandoanhnghiep.vn/bon-nhom-giai-phap-dot-pha-cai-cach-the-che-10186396.html
Sửa Luật Điện lực: Thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ để bảo đảm an ninh năng lượng
Thực hiện định hướng của Đảng và Nhà nước về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngành điện lực đã và đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại. Việc lồng ghép các quy định về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (trình Quốc hội chiều 20/10/2026) tạo động lực mạnh mẽ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn mới.
Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Điện lực số 61/2024/QH15 của Bộ Công Thương, ngay từ khi Luật Điện lực số 61/2024/QH15 có hiệu lực thi hành, bám sát các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị như Nghị quyết số 55-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 70-NQ/TW, công tác ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong ngành điện đã được triển khai đồng bộ.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2025/NĐ-CP, trong đó quy định chi tiết tại Chương III về chuyển đổi số, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lĩnh vực điện lực, xác định rõ trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước. Các quy định này đã tạo hành lang pháp lý để chuẩn hóa hệ thống dữ liệu số chuyên ngành, phục vụ công tác quản trị và quản lý nhà nước về phát triển điện lực.
Để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn và thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét bổ sung các quy định cụ thể tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.
Cụ thể, dự thảo luật bổ sung các chính sách ưu đãi về đầu tư, tài chính đối với hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực điện lực nhằm nâng cao hiệu quả khai thác năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời, dự thảo quy định rõ việc phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu số về điện lực và năng lượng phục vụ công tác quản trị nhà nước; thúc đẩy tự chủ về công nghệ, thiết bị và dịch vụ điện lực chiến lược; đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ năng lượng sạch, năng lượng mới cũng như đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. (Congthuong.vn 22/10)
Quy định mức phí khai thác thông tin Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 156/2026/TT-BTC quy định mức thu, giảm, chế độ thu, nộp phí khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
Thông tư nêu rõ, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành (01/11/2026) đến hết ngày 31/12/2028, mức thu phí khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia là 300 đồng/trường dữ liệu.
Kể từ ngày 01/01/2029 trở đi, mức thu phí khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia là 600 đồng/trường dữ liệu.
Thông tư nêu rõ, người nộp phí nộp tiền phí vào ngân sách nhà nước theo hình thức quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phí và lệ phí.
Tổ chức thu phí nộp 100% số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước theo chương, tiểu mục của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành, bao gồm tiền lãi phát sinh (nếu có) trên số dư tài khoản liên quan trong quá trình thu phí. Nguồn chi phí trang trải cho hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí được ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổ chức thu phí khai, nộp và quyết toán phí theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP.
Trường hợp người nộp phí đã nộp phí nhưng không được cung cấp hoặc chỉ được cung cấp một phần thông tin theo yêu cầu đã thanh toán hoặc phát sinh giao dịch thu trùng, thu vượt mức quy định, tổ chức thu phí có trách nhiệm kiểm tra, đối soát, xác định số tiền phí được hoàn trả và hoàn trả cho người nộp phí theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. (Baochinhphu.vn 22/10)
Quy định mới về thủ tục hải quan với hàng hóa mua gom của cư dân biên giới
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 154/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 80/2019/TT-BTC ngày 15/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục hải quan, quản lý thuế, phí và lệ phí đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Nghị định số 14/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới.
Thông tư số 154/2026/TT-BTC đã sửa đổi một số quy định của Thông tư số 80/2019/TT-BTC về: Thủ tục hải quan, quản lý thuế, phí và lệ phí đối với hàng hoá nhập khẩu thương nhân mua gom của cư dân biên giới; kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân, hàng hoá nhập khẩu thương nhân mua gom của cư dân biên giới; thủ tục hải quan, quản lý thuế, phí và lệ phí đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của cư dân biên giới; kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của cư dân biên giới…
Theo Thông tư số 154/2026/TT-BTC, thương nhân khi thực hiện mua gom hàng hóa nhập khẩu đã được hưởng định mức miễn thuế của cư dân biên giới tại khu vực chợ biên giới theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới thực hiện thủ tục hải quan như đối với hàng hoá nhập khẩu của thương nhân qua cửa khẩu biên giới, trong đó khai thông tin số tờ khai cư dân biên giới tại ô số vận đơn trên tờ khai hải quan và đính kèm tờ khai cư dân biên giới lên hệ thống; trường hợp khai tờ khai hải quan giấy thì nộp kèm bộ hồ sơ hải quan.
Thông tư số 154/2026/TT-BTC nêu rõ, việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân, hàng hóa nhập khẩu thương nhân mua gom của cư dân biên giới thực hiện như sau: Hàng hoá chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khi tập kết tại kho, bãi, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan tập trung tại khu vực cửa khẩu cho đến khi hoàn thành thủ tục hải quan và đưa ra khỏi khu vực giám sát hải quan; Cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực thể hàng hoá theo quy định Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 167/2025/NĐ-CP, hướng dẫn tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC và các văn bản pháp luật liên quan đến kiểm tra, giám sát hải quan.
Theo Thông tư số 154/2026/TT-BTC, hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới qua các cửa khẩu, lối mở biên giới là hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới được hưởng định mức miễn thuế theo quy định tại Phụ lục V Nghị định số 134/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.(Baochinhphu.vn 22/10)
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Thí điểm vị trí việc làm để cải cách tiền lương: Phải đo lường bằng hiệu quả thực tế, không bằng số lượng giấy tờ
Mới đây, theo thông báo của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã giao Bộ Nội vụ, TP.Hà Nội và một địa phương phù hợp thí điểm áp dụng hệ thống vị trí việc làm nhằm phục vụ cải cách tiền lương. Bước đi này đánh dấu sự chuyển dịch từ quản lý nhân sự theo biên chế, ngạch, bậc truyền thống sang đánh giá dựa trên năng lực, trách nhiệm và hiệu quả công việc thực tế.
Trao đổi với PV Dân Việt, TS.LS Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng luật sư Chính Pháp, nhấn mạnh có một khoảng cách lớn giữa khái niệm “vị trí việc làm” trong khu vực công và khu vực tư nhân. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét qua ba yếu tố: mục tiêu quản lý, cơ chế xác lập và hậu quả pháp lý.
Cụ thể, đối với khu vực công, vị trí việc làm đóng vai trò là công cụ để thực thi quyền lực nhà nước, cung cấp dịch vụ công và quản lý biên chế. Do đó, việc xác định vị trí phải tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn, danh mục và trình tự pháp lý. Các cơ quan công quyền hoàn toàn không thể tùy ý lập ra vị trí mới hay tự thiết kế cơ chế đãi ngộ trái quy định.
Ngược lại, ở khối tư nhân, doanh nghiệp được trao quyền tự quyết cao hơn. Họ có thể linh hoạt xây dựng cơ cấu tổ chức, mô tả công việc và đưa ra mức lương dựa trên nhu cầu kinh doanh thực tế cùng sự thỏa thuận với người lao động, trong khuôn khổ cho phép của Bộ luật Lao động 2019.
Theo luật sư Cường, xu hướng phân hóa này hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết số 27-NQ/TW. Theo đó, nhà nước định hướng khu vực công sẽ trả lương theo vị trí việc làm và chức vụ lãnh đạo; còn khu vực doanh nghiệp sẽ hình thành tiền lương theo cơ chế thị trường, dựa trên năng suất và hiệu quả kinh doanh.
Luật sư Cường cho rằng, cần thiết lập quy trình kiểm soát nhiều lớp, trong đó trách nhiệm xây dựng nội dung phải gắn với cơ quan sử dụng nhân sự, còn trách nhiệm thẩm định, kiểm tra và phê duyệt phải tuân theo đúng thẩm quyền pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, luật sư Đặng Văn Cường cũng cho biết, cải cách nhân sự phải đi đôi với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang công tác. Việc xác định lại vị trí việc làm không đồng nghĩa với việc cơ quan quản lý có quyền tùy ý điều chuyển, hạ thấp quyền lợi hoặc loại bỏ một cán bộ mà không có căn cứ.
Luật sư cho rằng, cần phân biệt ba tình huống. Một là, có sai sót trong mô tả công việc hoặc đánh giá năng lực. Người bị ảnh hưởng có thể đề nghị rà soát, cung cấp tài liệu chứng minh trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kết quả công tác và mức độ đáp ứng yêu cầu vị trí. Cơ quan quản lý cần tiếp nhận, xem xét và trả lời theo thẩm quyền.
Hai là, có quyết định quản lý nhân sự làm ảnh hưởng đến quyền lợi. Nếu quyết định hoặc hành vi đó thuộc đối tượng khiếu nại theo pháp luật, người bị ảnh hưởng có thể thực hiện quyền khiếu nại theo Luật Khiếu nại và các quy định chuyên ngành có liên quan. Khiếu nại cần xác định rõ quyết định hoặc hành vi bị phản đối, căn cứ cho rằng có vi phạm và yêu cầu giải quyết.
Ba là, có căn cứ khởi kiện tại tòa án. Việc khởi kiện chỉ thực hiện được khi quyết định hoặc hành vi bị phản đối thuộc phạm vi xét xử của Tòa án theo pháp luật tố tụng hành chính hoặc theo cơ chế tố tụng có liên quan. Không phải mọi quyết định phân công công việc nội bộ đều đương nhiên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. (Danviet.vn 23/10, Gia Khiêm)
Bài viết cùng chuyên mục
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 22/10/2026 (22/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 21/10/2026 (21/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 26/10/2026 (26/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 20/10/2026 (20/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 19/10/2026 (19/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 16/10/2026 (16/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 15/10/2026 (15/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 14/10/2026 (14/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 13/10/2026 (13/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 12/10/2026 (12/10/2026)