Sáu bàn tay nâng niu số phận

14:39, Thứ Năm, 5-5-2011

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam - 05/05/2011 09:37
Tác giả: Quang Bình - Thiên Hà

Ngồi giữa sân nhà, anh Phan Thanh Danh (SN 1961 ở làng Xuân Hồi, xã Liên Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình) chăm đàn gà mới nở. Anh ít cười nhưng nét mặt không còn buồn nữa: Không hiểu sao, ba mẹ tôi sinh ra 3 người con đều bị tật nguyền. Sau tui là em Phan Thị Bi (SN 1963) và Phan Thanh Giản (SN 1964) cũng gần như chỉ có nửa người.

Định tự tử để mẹ bớt khổ

Bà Nguyễn Thị Bích, mẹ của ba anh em Danh, vẫn không khỏi rơi nước mắt khi ngồi kể chuyện về những đứa con của mình. Cả ba anh em chỉ có những cái chân ngắn ngủn, quặt quẹo, vắt lên nhau cho khỏi vướng. Khi ngồi, chỉ còn thấy nửa người trên và đôi tay. Chồng bà Bích không may mất sớm để lại cho bà 3 người con không lành lặn.

Bà Bích nói: “Không biết sức lực mô ở nơi tui mà ra, cho tui mần hết được mọi việc chú ạ. Những năm 1980 đói lắm. Tui phải đi mua củ sắn (mì) khô tận Vĩnh Linh (Quảng Trị) về nghiền thành bột nấu cho mấy đứa ăn. Có được hột gạo mô thì dè xẻn nấu cháo cho chúng lúc ốm đau”. Ban ngày bà sấp ngửa với một mẫu ruộng. Ban đêm, sau khi dỗ cho cả ba đứa ngủ, bà một mình vác chiếc thuyền tre nhỏ ra sông thả lưới kiếm cá trên dòng Kiến Giang, hay trên các khe lạch cuối làng. Bao đêm người làng tưởng bà đã chết mất xác trên sông vì mưa lũ bất ngờ từ những lần thuyền vướng cây, đâm vào cọc.

Bà không sợ. Và bà cũng không được sợ vì sau lưng bà là ba đứa con tật nguyền không ai chăm bẵm, nâng niu. Sau mỗi đêm thả lưới bắt cá, được đồng bán cá nào bà lận cẩn thận vào lưng, về cất vào tráp gỗ. Đó là khoản dành thuốc thang cho con lúc trái gió trở trời. “Lúc trước, cuộc sống quá khó khăn. Tui chạy vạy mấy cũng chỉ được bữa rau bữa cháo nuôi con. Thấy mẹ vất vả quá mà bản thân không làm chi được để giúp nên mấy anh em nó có ý định rủ nhau trầm mình xuống sông cho đỡ khổ thân mạ”, bà Bích thổn thức kể.

Anh Giản lết vào từ quán cắt tóc trước nhà, nghe vậy góp thêm chuyện: “Hồi đó, mẹ ráng nuôi con nên đau ốm. Mấy anh em tật nguyền nên không được như người ta, hơn nữa thân xác mỗi khi trái gió trở trời là đau đớn không chịu nổi nên mới nghĩ dại vậy”. Anh Giản kể tiếp: “Sau đó mẹ biết chuyện nên cứ khuyên nhủ mãi. Thương mẹ cực khổ nuôi nấng nên mấy anh em không nghĩ dại nữa. Có hôm tôi kêu hai đứa em lại nói, người ta không có con mắt, chỉ có đôi tay mà còn làm ăn sinh sống được. Mình thì cả ba anh em đều có đủ sáu con mắt, sáu cái tay, thì phải làm cho được bằng họ chớ”.

Thế là ba anh em chụm đầu bàn nhau cách đỡ đần cho mẹ. Ban đầu họ tập đan lưới đánh cá, công việc không phải đi ra khỏi nhà. Trầy trật mất vài ngày họ mới đan được những sợi dây cước thành lưới. Mỗi ngày ba anh em cật lực đan, xong 1,5- 2 mét lưới thì đem bán đi, đong được 6-7 lon gạo ăn hằng ngày. Chị Bi lau sạch cái phích nước, lết tới ngồi bên lưng bà Bích, góp chuyện: "Ngày đầu bán được lưới, cầm tiền trong tay mừng chảy cả nước mắt. Cứ sợ mình đan xấu người ta không thèm mua. Mà không khéo người ta mua cho mình vì thương đó anh ạ".

Về sau, người dân trong vùng ít mua lưới thả cá nên việc làm ăn của ba anh em cũng cụt đường phải chuyển sang nghề làm nón. Anh Giản khoẻ nhất nên lãnh nhiệm vụ đi mua tre. Với chiếc xe lăn cọc cạch có được từ một thương binh ở xã Phong Thuỷ nhường cho, anh Giản ngày ngày tìm đến các xã có trồng tre bên cạnh để mua. Mua được, anh nhờ họ cắt luôn thành từng khúc theo chiều dài khuôn nón và buộc vào hai bên xe chở về. Mua tre xong thì tìm đến chợ huyện mua lá nón. Chuẩn bị xong, anh Giản chẻ tre, vót thành nan, anh Danh đóng nan vào khuôn nón, chị Bi ủi lá cho phẳng và may vào khuôn...

Anh Danh cho biết: “Phải phân công nhau rạch ròi như rứa cho... chuyên môn hoá, may ra mần mau được. Chớ mới tập, một cái nón cũng rất lâu mới mần xong, lấy chi mà ăn cả nhà”. Dù đã “chuyên môn hoá” như vậy, nhưng cật lực lắm cả ba anh em cũng chỉ làm xong được một cái nón trong một ngày. Nhưng rồi “dây chuyền” nón của ba anh em lại bị “phá sản”, khi thị trường mũ vải tiện lợi hơn, lại rẻ nữa lên ngôi.

"Không ai cực hết cỡ, không ai sướng hết cỡ"

Anh Giản là người khoẻ nhất và học cao nhất (anh đã học xong lớp 5) nên luôn tìm tòi việc làm cho ba anh em. Thấy trong làng chưa có ai làm nghề cắt tóc, người làng phải đi sang làng khác, hoặc lên chợ huyện cắt nên anh tập cắt tóc để hành nghề. Anh kể: “Lần đầu tiên... ra tay, tui lấy luôn đầu của anh Danh để “thí nghiệm”. Vài lần nữa thì tay nghề lên. Nhưng người làng vẫn ngại, không tới cắt”. Về sau, họ thử tay nghề của anh bằng cách đưa trẻ con tới cho anh... thử nghiệm. Sau vài lần "thí nghiệm" và chịu không ít phàn nàn thì anh cũng cắt được.

Vậy là từ vài năm qua, quán cắt tóc của anh ngay trước nhà trở thành quán quen của khách trong và ngoài làng. Chỉ khác với các quán cắt tóc khác là ở quán của anh Giản, thỉnh thoảng khách lại... bồng chủ quán đặt lên một cái ghế cao để chủ quán cắt tóc cho, nếu không muốn thấy cảnh chủ quán phải loay hoay, khó nhọc leo lên chiếc ghế cao gần bằng vai khách mới hành nghề được. Bây giờ mỗi ngày anh Giản có từ 7- 10 người khách. Cuối ngày, anh vào nhà, ba anh em quây lại đếm tiền. 20-25 ngàn đồng là thu nhập của anh Giản từ nghề cắt tóc.

Anh Danh kiếm tiền phụ với anh Giản bằng cách nuôi gà, ngan. Hiện trong chuồng nuôi của anh còn có 20 con gà mái đẻ. Anh Danh cho hay: “Có bầy ngan gần 50 con nữa nhưng bị mắc bệnh chết gần hết mấy hôm trước rồi. May trước đó có bán kịp được một ít vốn, không thì coi như xong luôn”. Gà đẻ trứng, bà Bích mang ra chợ bán lấy tiền đong gạo. Một ít trứng anh Danh để lại cho gà mẹ ấp nở con, gây đàn. Vườn nhà còn hơn 200m2 đất, anh Danh trồng khoai lang, rau cải...

Anh Danh: “Anh em tui không buồn nữa, mạ tui cũng không còn buồn khổ nữa. Vì hiện tại bọn tui đã sống được rồi, sống tốt nữa là đằng khác”. Anh Giản mời chúng tôi uống nước, rồi tất tả dùng chiếc ghế nhựa để “đi” ra quán cắt tóc. Có tiếng khách vừa ơi ới gọi anh ngoài đó...

Không đi được như người ta, mỗi khi làm vườn, anh cho dây khoai vào bao tải rồi buộc vào lưng, dùng hai cánh tay đẩy người tiến tới phía trước, kéo theo bao. Với phân bón cho cây, anh cũng làm theo cách như vậy. Mùa hè, anh trước, kéo theo bao. Với phân bón cho cây, anh cũng làm theo cách như vậy. Mùa hè, anh cho nước vào can nhựa, vặn chặt nắp lại rồi cho vào bao, kéo ra vườn để tưới cho cây. Cứ vậy, cây trồng trong vườn anh xanh tốt quanh năm. Anh bảo: “Mình phải mần cho cuộc sống của mình. Nếu không thì mần răng mà sống? Mạ thì già rồi, mình đã không nuôi mạ, còn chờ chi mạ nuôi mình”. Anh ước ao gây được đàn gà mẹ khoảng 100 con là từ đó dư sống. “Nay chưa có một lúc được 100 con liền thì tui mần dần, nay 20 con, mai 25 con, đến mốt chi tui cũng có được 30 con chớ lẽ mô không được... Có mần thì có ra, lo chi”.

Chị Bi “phụ trách” mấy con heo với công việc thái chuối, cắt rau, nấu cám... Chị siêng lắm. Cả ngày cứ quanh quẩn theo heo. Mát tay nên mỗi năm chị xuất bán được hai lứa heo thịt, với 4- 5 con. Bên ấm nước trà pha đãi khách, anh Giản tâm sự như rút lòng mình ra: “Nếu nhìn mình rồi nhìn ra xã hội mà chán nản thì khó chi. Như ba anh em tui trước đây đã từng muốn mần, chỉ cần lẳng lặng bò ra sông Kiến Giang, cùng nhau ùm xuống một cái là hết. Nhưng tui nghĩ, ở đời không ai cực hết cỡ, không ai sướng hết cỡ cả. Dù số phận do ba mẹ sinh ra, nhưng mình cũng phải cố sức mới thoát được số phận. Anh em tui hơn người khác là còn đôi mắt, còn nhìn được ngoài đời. Mà còn mắt là còn sống được”.

Sưu tầm: Hồng Lựu

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)



Các tin khác

 

Lượt truy cập: 12.215.138 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này