Tâm thức chủ quyền của con dân nước Việt

8:56, Thứ Ba, 4-12-2012

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Nguồn: Pháp luật - Cập nhật: 04/12/2012 - 05:00
Tác giả: MINH QUÊ

Từ bát cơm trong lễ mở biển đầu năm đến những câu hát trong bài Hải trình biển Đông, có thể thấy trong tâm thức của con dân nước Việt, từ xa xưa hai địa danh Hoàng Sa - Trường Sa đã thuộc chủ quyền của đất mẹ Việt Nam.

Hàng loạt làng biển ở Quảng Bình đều lập đền thờ thần biển từ thời khai canh mấy trăm năm trước. Những đền thờ thần biển lúc nhiều nhất lên đến cả trăm, nay phía chân sóng bể Đông còn bái vọng chừng mươi ngôi đền như thế. Tuy ít nhưng trong đó là cả một gia tài tinh thần vinh hiển về biển. Con dân làng biển đến kỳ lại mở hội cúng bái thần biển, nhớ ơn tổ tiên từng khai sóng biển Đông cho cuộc mưu sinh trường tồn của con dân xứ biển.

1. Mùa cuối năm, Hiển Linh Ngư (đền thờ cá voi) của xã Cảnh Dương (Quảng Trạch, Quảng Bình) bừng lên khí thế hội hè. Cảnh Dương không có thước đất trồng lúa, làng nhìn ra mặt biển mặn mòi. Hơn 600 năm trước, thế hệ khai canh đã chọn mô đất mũi rồng ở phía sông Loan để dựng làng, lập những xóm ngõ tựa vào núi Phượng, lấy nghề chính là biển khơi cho con cháu tụ quần. Lời thề của người khai canh trong 12 dòng họ lấy đất Cảnh Dương dựng nghiệp mở cõi đã thốt lên rằng: “Coi biển cả là đất đai mưu sống, lấy con nước mặn mòi làm khí cốt lẽ sống, coi cá Ông, cá Ngài là thần biển, lập đền thờ thần biển để biết huệ khí, huệ ân cúc cung khấn vái”. Ông Phạm Quốc Hồng, người coi giữ Hiển Linh Ngư, lật từng trang gia phả đọc lại.

Đi về chân sóng, Hiển Linh Ngư rọi bóng xuống dòng nước mùa đông, phía bờ đang khói hương kính cẩn, ông Hồng trịnh trọng mở cửa cho khách vào chiêm bái thần biển. Hai bộ xương cá voi được nói nặng cả trăm tấn, án ngự khắp nơi trong đền. Đó là thần mẫu của hơn 10.000 ngư dân Cảnh Dương. Lời chứng trong gia phả dòng họ Trương, một trong những dòng tộc cự phách có công khai canh, cho thấy: “Đời Gia Long thứ chín (1809, Kỷ Tỵ), một bà cá voi nặng hơn trăm tấn dạt vào biển Cảnh Dương, người dân cúng quải linh đình, gọi tên cá Bà. Vào năm Duy Tân 16 (Đinh Mùi, 1907), một ông cá voi cũng dạt vào Cảnh Dương, người dân gọi tên là cá Ông, hương khói vọng trọng. Thỉnh đưa vào đền Hiển Linh Ngư để đời đời cháu con coi sóc”.

Cá voi dạt vào Hiển Linh Ngư được người dân Cảnh Dương (Quảng Trạch, Quảng Bình) cúng bái, chôn cất.

Lệ làng ngày ấy, cứ một suất đinh mỗi năm đóng vài bơ thóc để khói hương, lý trưởng của làng đảm nhiệm nghĩa vụ tu bổ. Người Cảnh Dương thật sự sùng ân với cá voi mà họ thờ như thần. Bởi thế, dân gian làng biển dưới chân đèo Ngang đã phát tâm một bài hát của ngư phủ được truyền từ xưa: “Nay mừng mở hội cầu Xuân/ Trời sinh Thánh thượng Duy Tân trị vì/ Trời yên, biển lặng bốn bề/ Đức Ông thượng thọ nước về cõi tiên/ Lênh đênh mặt nước bao miền/ Tìm nơi đất tốt, dân hiền ghé vô…”.

Không chỉ Cảnh Dương, nhiều làng biển ở Quảng Bình và cả ở khắp nước Nam này đâu đâu cũng thờ thần biển trong đình làng. Nếu xóm nghèo, ngư phủ cũng góp đá lót gạch dựng miếu cá voi ở doi cát cao đầu làng, bởi với họ đó là niềm yêu thương, may mắn, trí tuệ biển khơi và cũng là nơi lau đi nỗi buồn khi vướng phải.

2. Làng biển ở ta chỉ là những làng chài bé bỏng trước sóng gió ba đào. Thế nhưng dù ở bất cứ đâu trên mảnh đất hình chữ S này, hễ làng nào có người cưỡi sóng bắt cá biển Đông ắt ở đó có trầm tích văn hóa miệt biển mặn mòi. Thờ thần biển không chỉ là khói hương cầu khấn mà bao truyền tích và bao câu ca điệu múa của làng biển cũng khởi bông trong tâm hồn ngư phủ. Người miệt biển nói dưới cát là nước thì với họ, sau từng câu ăn sóng nói gió là cả một huyết quản hát hò, bản ngã gắn chặt với biển Đông. Người miệt biển hát với tất cả niềm thích thú, họ đặt ca từ để hát về cá voi, về cảnh non sắc hữu tình, về địa vực vùng biển cha ông tạo dựng.

Mùa mở biển, các làng biển thường rước linh đi khắp làng như cách khơi gợi nghĩa xóm tình làng của người miệt biển.

Thế nên không phải ngẫu nhiên mà người làng biển đã có nhiều dị bản về Hải trình biển Đông bằng thơ, có hơn 300 câu theo cấu trúc tự do, nhịp điệu bằng trắc mang âm hưởng sóng gió. Thật may mắn khi diện kiến những lão ngư già, họ vẫn còn nhớ hải trình bằng thơ truyền tải kinh nghiệm dân gian của từng con sóng. Bài thơ hàm chứa cả cốt tính mực thước của từng vùng đất phía Bắc và cả cốt tính hào hoa của người phương Nam (vì khuôn khổ của bài báo, chúng tôi không chép nguyên hết ra đây).

Đặc biệt, trong Hải trình biển Đông, bóng dáng hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc vẫn ngời ngời trong tim của bao ngư phủ, làng chài: “Xưa nay chốn ấy đã truyền/ Chộ hòn Lò Riệu ghênh thuyền cho khơi/ Thảnh thơi ba ngọn thảnh thơi/ Buông qua Quảng Ngãi một hơi dặm trường/ Thuyền qua Quảng Ngãi mía đường/ Chộ Hoàng Sa đó, Trường Sa cũng nằm…”. Rõ ràng trong tâm thức của con dân nước Việt, hai địa danh Hoàng Sa - Trường Sa từ xa xưa đã thuộc chủ quyền của đất mẹ Việt Nam.

3. Người phía biển hát hò những lúc vui và cả khi buồn, tình cảm dành cho nước non được truyền đạt qua những kỳ cúng bái hội rằm ở đình làng và trong lễ mở cửa biển vào ngày tết cổ truyền. Họ chẳng mở lớp dạy hát đặt vần, cũng chẳng gò ép ai theo, lớp trước hát từ nhỏ đến lớn rồi truyền lại cho con cháu lớp sau từ lúc còn nằm nôi. Cứ thế, tình yêu thương được vun dần lên thành yêu làng, yêu xóm, rồi phát tiết mạnh mẽ thành tình yêu bờ bãi cội nguồn.

Dù chưa đủ lực xây đền nhưng đến mùa cúng biển, ngư dân vẫn khăn đóng áo dài tươm tất cúng thần trước miếu để cầu cho cuộc mưu sinh nghề biển vẹn lành. Ảnh trong bài: MINH QUÊ

Nếu người đồng bằng lấy cây lúa làm nền tảng vun đắp cuộc sống thì người phía biển có bữa cơm khai tâm chia biển ngày đầu năm mới. Từ ngày có bậc khai canh đến nay đã 450 năm nhưng người làng ở thôn Thanh Bình, xã Quảng Xuân (Quảng Trạch) chưa có năm nào bỏ trễ việc khai tâm chia biển. Bữa cơm đầu năm, xóm làng chung nhau đấu gạo, họ nấu tập thể, góp chung những chiếc bánh chưng, bánh tét, dọn sẵn trên mâm kiệu hành, bánh tráng. Cơm trắng đơm lên, cá biển dọn xuống, họ cúng khấn trời đất, mặt hướng phía biển mong mùa biển được tốt lành. Sau bữa cơm đó, ngày mùng 6 tết, làng đẩy thuyền ra khơi, chuyến khơi đầu tiên, bất luận thu được thứ gì, cả ba xóm của làng đều huy động trai tráng lực lưỡng ra biển tung lưới. Nước mùa đông lạnh giá, con cá con tôm không nhiều nhưng chiều lại, trên cả tiếng sóng vỗ bờ, mọi người từ làng ùa ra đón đội thuyền mở biển đầu năm. Cả làng dồn cá mú đánh được cộng đều, chia nhau toàn làng, khẩu đinh nào cũng được nhận cá, kể cả cháu bé vừa mới khai sinh đến người đàn bà mù cuối xóm.

Trưởng thôn Thanh Bình Đậu Thanh Minh nói: “Bữa cá đầu năm được chia đều cả làng là nghe lời dạy của thành hoàng làng khai canh năm xưa làm gì cũng phải đoàn kết để giữ đất giữ nước, giữ biển giữ khơi. Trước biển cả bao la, người làng dễ bị sóng vùi nếu từng người sức yếu ra sóng nhưng cả làng cùng đoàn kết lại thì sóng to gió lớn mấy cũng không thể đánh bạt được ý chí giữ biển của ngư dân, nói rộng ra là của toàn dân tộc”.

Sưu tầm: T.Q

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

Các tin khác

 

Lượt truy cập: 12.178.329 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này