Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 18/9/2018

15:33, Thứ Năm, 20-9-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+

TIÊU ĐIỂM.. 1

1.  Rình rang lễ kỷ niệm và những đứa trẻ chui túi nilon. 1

CHÍNH SÁCH MỚI 3

2.  Bán hàng hóa phải lập hóa đơn điện tử từ ngày 1.11. 3

CHỈ THỊ MỚI 3

3.  Rà soát nguồn thu để lại cho đầu tư chưa đưa vào cân đối ngân sách. 3

4.  Hạn chế thu phí, lệ phí hải quan bằng tiền mặt 4

5.  Thủ tướng chỉ thị tăng cường quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu. 4

TIN QUỐC HỘI 5

6.  Cần tiếp tục cụ thể hóa chính sách giảm nghèo bền vững. 5

7.  Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm như thế nào tháng 10 tới?. 5

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY.. 6

8.  Đà Nẵng: "Công dân điện tử" ở thôn. 6

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP. 7

9.  Việt Nam nằm trong nhóm 8 nước tiêu biểu của Đông Nam Á.. 7

10.  Viện McKinsey đánh giá tích cực triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam.. 8

11.  90% doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại do đâu?. 9

QUẢN LÝ.. 11

12.  Bắt đầu kiểm toán tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.. 11

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH.. 11

13.  Hàng loạt cán bộ “nhúng chàm” ăn tiền làm thủy điện Sơn La. 11


TIÊU ĐIỂM

Rình rang lễ kỷ niệm và những đứa trẻ chui túi nilon

Thủ tướng Chính phủ vừa ký, ban hành Nghị định 111 quy định, bắt đầu từ giữa tháng 10, đơn vị tổ chức lễ kỷ niệm sẽ “không tặng quà và tổ chức chiêu đãi trong các hoạt động kỷ niệm”. Điều này được hiểu rằng, sẽ không được chi mua quà tặng hoặc vận động kinh phí để phục vụ cho dịp kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng này khác của các bộ, ngành, địa phương...

Nghị định này ra đời trên tinh thần sẽ tổ chức kỷ niệm, ngày thành lập, ngày truyền thống theo một quy định khá nghiêm túc, trang trọng, an toàn, tiết kiệm, không hình thức, phô trương. Sẽ chỉ tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống khi có văn bản thành lập hoặc quyết định công nhận của cơ quan có thẩm quyền và chỉ được tổ chức kỷ niệm vào năm tròn. Với trường hợp các bộ, ngành, địa phương đồng thời có ngày thành lập, ngày tái lập, ngày truyền thống thì chỉ được lựa chọn một trong các ngày trên để tổ chức và điều đáng ghi nhận nhất, đó là không tặng quà và tổ chức chiêu đãi.

Theo một con số của Bộ VH-TT-DL, cả nước có hơn 200 ngày thành lập, ngày truyền thống của các bộ, ngành, các tổ chức thuộc T.Ư và địa phương, trong đó kỷ niệm cấp quốc gia có 7 ngày; ngày thành lập của các bộ, ngành, địa phương có 87 ngày; ngày truyền thống của các bộ, ngành, địa phương có 121 ngày; 63/63 tỉnh, TP có kỷ niệm ngày thành lập, tái lập tỉnh, thành. Đó là chưa kể ở cấp thấp hơn với nhiều chủng loại khác ở cấp sở, quận, huyện... mà lâu nay người ta cũng tổ chức kỷ niệm.

Tiền ngân sách chi cho khoản này mỗi năm của cả nước là bao nhiêu? Ngoài nguồn kinh phí trên, người ta còn đi vận động cơ sở bên dưới, nơi có quan hệ này nọ (mà chủ yếu là do nể thậm chí cả sợ cho nên miễn cưỡng hỗ trợ để lấy lòng) là bao nhiêu nữa? Điều này có lẽ ngay đến Bộ Tài chính cũng chỉ có thể nắm được con số một cách tương đối.

Nhưng dù là tiền từ nguồn nào đi nữa thì cũng rất tốn kém cho xã hội. Thử hình dung chỉ riêng tiền hoa tặng một đơn vị có khi đã tốn cả trăm triệu, thậm chí hơn thế nhiều, tuỳ từng ngành, lĩnh vực và năm lẻ/ chẵn... Ấy là chưa nói ngay hôm sau nơi tổ chức kỷ niệm lại cấp tập thuê xe chở hoa đi… đổ.

Nếu cộng toàn bộ khoản này trong cả nước số tiền sẽ lên đến bao nhiêu? Tương đương bao nhiêu chiếc cầu khỉ ở vùng ĐBSCL, bao nhiêu cầu treo ở vùng có suối sâu khi lũ về trên miền núi phía Bắc, để các em nhỏ không phải chui túi nilon bơi cùng người lớn đến trường khai giảng?

Tôi lấy ví dụ một ngành như Công an có ngày thành lập lực lượng CAND lẫn ngày truyền thống của từng ngành (ANND, CSND, PCCC, v.v...). Nếu tổ chức kỷ niệm đủ cả thì các bộ, ngành, địa phương… nhớ hết để đi chúc mừng không sót cũng đã mệt mỏi rồi.

Và chúng ta hẳn vẫn nhớ câu chuyện ở tỉnh Vĩnh Phúc năm nào chi đến hơn 60 tỷ đồng chỉ để tặng khác và trang bị cho mỗi hộ dân trong tỉnh một bộ ấm chén kỷ niệm 20 năm, ngày tái lập tỉnh; chuyện ở Tập đoàn Than, khoáng sản Việt Nam chi cả chục tỷ đồng làm logo biểu trưng ngành bằng kim loại quý tặng người lao động… Nghe qua thì có vẻ trang trọng nhưng thực chất tốn kém tiền của mà phỏng có mấy ý nghĩa khi tỉnh nhà cũng như người dân còn thiếu thốn bộn bề, còn doanh nghiệp thì cũng chẳng giàu mạnh gì lắm, đời sống cán bộ công nhân viên còn đầy lo toan.

Thuế là nguồn thu quan trọng đối với nhà nước. Nhưng một khi nguồn thu chưa dồi dào, còn khó khăn thì tiết giảm chi tiêu nặng tính hình thức hội hè là vô cùng cần thiết. Rồi thực tế, việc chi cho xây dựng cơ bản, cho phát triển hạ tầng chưa bao giờ dừng lại, mà ngày càng đòi hỏi nguồn vốn vô cùng lớn, trong khi nợ công vốn đã chạm trần cho phép. Chẳng hạn, tới đây vẫn phải tính đến việc xây dựng đường sắt Bắc - Nam tốc độ cao, tiến tới xây dựng đường sắt cao tốc sẽ là một thách thức cho nền kinh tế nước nhà.

Những điều này đặt ra cho chúng ta phải xem vấn đề tiết kiệm như một quốc sách, coi lãng phí là tội ác, nếu không sẽ rất nguy hiểm cho Chính phủ khi phải giải bài toán trả nợ. Đây là việc không thể xem nhẹ, cũng như không thể nói suông.

Bởi vậy, quy định là một chuyện, nhưng muốn quán triệt thực hiện nghiêm túc, hiệu quả thì cần cơ chế để có sự giám sát chặt chẽ của mặt trận, các tổ chức đoàn thể và nhân dân. Thực tế, đã có trường hợp địa phương, bộ, ngành phải dừng kế hoạch tổ chức kỷ niệm rình rang sau khi dư luận phát hiện và lên tiếng về sự tốn kém. Bên cạnh đó cũng cần quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu bộ, ngành, địa phương khi thực hiện không đúng quy định, có chế tài xử lý khi làm sai. (Thanh Tra 16/9, Quốc Phong)Về đầu trang

CHÍNH SÁCH MỚI

Bán hàng hóa phải lập hóa đơn điện tử từ ngày 1.11

Nghị định số 119/2018/NĐ-CP của Chính phủ vừa ban hành quy định, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán (trừ hộ, cá nhân kinh doanh quy định tại Khoản 6 Điều 12 Nghị định này) phải lập hóa đơn điện tử.

Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định cụ thể việc áp dụng hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ gồm: Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực: Điện lực; xăng dầu; bưu chính viễn thông; vận tải hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy; nước sạch; tài chính tín dụng; bảo hiểm; y tế; kinh doanh thương mại điện tử; kinh doanh siêu thị; thương mại và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đã hoặc sẽ thực hiện giao dịch với cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, có hệ thống phần mềm kế toán, phần mềm lập hoá đơn điện tử đáp ứng lập, tra cứu hoá đơn điện tử, lưu trữ dữ liệu hóa đơn điện tử theo quy định và bảo đảm việc truyền dữ liệu hoá đơn điện tử đến người mua và đến cơ quan thuế thì được sử dụng hoá đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Nghị định cũng quy định, hộ, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, bán lẻ thuốc tân dược, bán lẻ hàng tiêu dùng, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng tại một số địa bàn có điều kiện thuận lợi thì triển khai thí điểm hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế từ năm 2018. Trên cơ sở kết quả triển khai thí điểm sẽ triển khai trên toàn quốc... (Đại Biểu Nhân Dân 17/9)Về đầu trang

CHỈ THỊ MỚI

Rà soát nguồn thu để lại cho đầu tư chưa đưa vào cân đối ngân sách

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có Công văn số 6289/BKHĐT-TH về việc rà soát kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 và năm 2018.

Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các bộ, ngành, Trung ương phối hợp với Bộ Tài chính triển khai rà soát và xác định tính hợp pháp của các nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước của các đơn vị đã dự kiến kế hoạch đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020. Bên cạnh đó, các bộ, ngành, Trung ương cần báo cáo rõ căn cứ và quy định liên quan đến việc để lại số vốn nêu trên.

Đối với các khoản để lại hoặc tự ý giữ lại không đúng quy định pháp luật, đề nghị nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định. Đối với các khoản để lại đúng quy định, đề nghị rà soát danh mục dự án dự kiến bố trí kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 và năm 2018 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp theo đề xuất của các bộ, ngành Trung ương.

Trên cơ sở đó, đề nghị dự kiến kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 và năm 2018 cho số vốn đúng quy định trên Hệ thống thông tin về đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, in báo cáo từ Hệ thống thông tin và gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (Đại Biểu Nhân Dân 17/9)Về đầu trang

Hạn chế thu phí, lệ phí hải quan bằng tiền mặt

Để tránh xảy ra tình trạng lợi dụng việc thu phí, lệ phí bằng tiền mặt để gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan vừa có công văn hướng dẫn các cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện việc thu nộp phí, lệ phí hải quan.

Về việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện quá cảnh, theo quy định hiện hành tại Thông tư số 274/2016/TT-BTC ngày 14/11/2016 của Bộ Tài chính: Người nộp phí, lệ phí thực hiện nộp phí, lệ phí tiền mặt trực tiếp cho cơ quan hải quan hoặc chuyển khoản vào tài khoản tiền gửi của cơ quan Hải quan mở tại Kho bạc nhà nước hoặc tài khoản của tổ chức được ủy nhiệm thu tại ngân hàng thương mại.

Hướng dẫn việc thu nộp lệ phí này, Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu thực hiện nộp phí, lệ phí hải quan qua ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước theo quy định, hạn chế tối đa việc thu phí và lệ phí hải quan bằng tiền mặt trực tiếp tại cơ quan Hải quan.

Đối với những trường hợp không thực hiện việc thu, nộp phí, lệ phí hải quan qua ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước (như tại địa bàn đặc biệt khó khăn, xa điểm thu của ngân hàng hoặc Kho bạc; khoản thu đối với hàng hóa phi mậu dịch ở sân bay, cảng biển, cư dân biên giới…) thì cơ quan Hải quan mới thực hiện thu tiền phí, lệ phí bằng tiền mặt.

Đối với những trường hợp nêu trên, Tổng cục Hải quan yêu cầu các cục hải quan tỉnh, thành phố tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng việc thu phí, lệ phí bằng tiền mặt để gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan. (Báo Chính Phủ Điện Tử 17/9, PM)Về đầu trang

Thủ tướng chỉ thị tăng cường quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Chỉ thị số 27/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường không cấp mới Giấy xác nhận, không gia hạn Giấy xác nhận đối với đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu phế liệu; chỉ xem xét cấp mới, cấp lại Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đối với đơn vị nhập khẩu phế liệu để sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất khi chứng minh được nhu cầu và năng lực sử dụng phế liệu.

Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục rà soát, hoàn thiện, bổ sung và xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu theo hướng quy định chặt chẽ các điều kiện bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất; không cấp phép cho các cơ sở sản xuất nhập khẩu phế liệu về chỉ để sơ chế, xử lý và bán lại nguyên liệu; thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu trước khi phế liệu được nhập vào lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam. Rà soát các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam đã tham gia, rà soát các quy định về quản lý nhập khẩu hàng hóa nhóm 2 là phế liệu nhập khẩu tại Việt Nam để không trái với các cam kết quốc tế.

Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất nhằm quản lý chặt chẽ chất lượng phế liệu nhập khẩu, đồng thời để thuận lợi cho công tác giám định phế liệu nhập khẩu, hoàn thành và ban hành trong quý III/2018.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ xem xét cấp mới, cấp lại Giấy xác nhận đối với đơn vị nhập khẩu sử dụng trực tiếp phế liệu làm nguyên liệu sản xuất khi chứng minh được nhu cầu và năng lực sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Gửi Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất và các thông báo về lô hàng phế liệu nhập khẩu theo thẩm quyền trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Cổng thông tin Một cửa quốc gia. (Báo Chính Phủ Điện Tử 17/9, Minh Hiển)Về đầu trang

TIN QUỐC HỘI

Cần tiếp tục cụ thể hóa chính sách giảm nghèo bền vững

Sáng 17/9, cho ý kiến báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cần bám sát các mục tiêu của Nghị quyết để tiếp tục cụ thể hóa các chính sách giảm nghèo bền vững. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chủ trì cuộc họp.

Hết năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 6,7%, giảm hơn 1,5% so với cuối năm 2016. Tuy nhiên, theo các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thành quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, việc chuyển đổi phương thức hỗ trợ người nghèo từ hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện, có thời hạn triển khai còn chậm.

Nguồn lực đầu tư cho các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc và miền núi tuy đã được ưu tiên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, các chính sách giảm nghèo đã được tích hợp bước đầu nhưng vẫn còn dàn trải, còn có hiện tượng trục lợi chính sách giảm nghèo.

Phân tích những nguyên nhân của hạn chế này, các đại biểu cho rằng bên cạnh những nguyên nhân chủ quan, còn có sự tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt diễn ra thường xuyên, trên diện rộng làm phát sinh hộ nghèo mới. (VTV.vn 17/9)Về đầu trang

Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm như thế nào tháng 10 tới?

Theo dự kiến chương trình kỳ họp thứ 6 khai mạc ngày 21/10, Quốc hội (QH) khoá XIV sẽ lấy phiếu tín nhiệm với những người giữ các chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn.

Ở địa phương, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp cũng tiến hành công việc này vào kỳ họp cuối năm 2018.

Đây là lần thứ ba QH, HĐND lấy phiếu tín nhiệm. Theo đó, lấy phiếu tín nhiệm là việc QH, HĐND thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do các cơ quan này bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá cán bộ.

Lấy phiếu tín nhiệm được giải thích khác với bỏ phiếu tín nhiệm ở chỗ, nội dung trên là để "đánh giá mức độ tín nhiệm", còn khi đã khởi động quy trình bỏ phiếu tín nhiệm thì QH, HĐND sẽ thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm (hai mức) đối với người được bỏ phiếu để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm.

QH lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín. Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp” (ba mức). Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu QH, đại biểu HĐND đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức.

Trước hợp người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu QH, đại biểu HĐND trở lên đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình cấp có thẩm quyền khởi động quy trình bỏ phiếu tín nhiệm.

Ngoài nội dung trên, việc lấy phiếu tín nhiệm tới đây có một số điểm mới so với hai lần trước. Điểm mới đầu tiên là về thời điểm, việc lấy phiếu tín nhiệm được chuyển từ định kỳ hằng năm, bắt đầu từ năm thứ hai của nhiệm kỳ sang lấy phiếu một lần vào giữa nhiệm kỳ.

Ở địa phương, người được lấy phiếu tín nhiệm sẽ mở rộng đến Chánh Văn phòng HĐND và tất cả các thành viên UBND.

Việc lấy phiếu tín nhiệm lần này còn căn cứ vào thực hiện nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và các quyết định về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý... (VnExpress.net 17/9, Viết Tuân)Về đầu trang

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

Đà Nẵng: "Công dân điện tử" ở thôn

Để xây dựng “công dân điện tử”, thời gian qua, xã Hòa Phước (huyện Hòa Vang) triển khai nhiều biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận với công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng các dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) một cách tốt hơn. Trong đó, mô hình “Điểm ứng dụng CNTT nông thôn mới kiểu mẫu” phát huy hiệu quả rõ rệt khi nối gần khoảng cách giữa người dân và chính quyền điện tử.

Biết sáng thứ năm hằng tuần, “Điểm ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nông thôn mới kiểu mẫu” tại Nhà văn hóa thôn sẽ có cán bộ thuộc Tổ tuyên truyền, hỗ trợ thực hiện cải cách hành chính (viết tắt là Tổ CCHC) của xã hướng dẫn làm giấy tờ, anh Nguyễn Thành Việt ở thôn Trà Kiểm thu xếp công việc để liên hệ trích lục giấy khai sinh. Sau khi nhiệt tình tư vấn về thủ tục hành chính (TTHC), chị Phạm Thị Phương Thảo, cán bộ Văn phòng UBND xã Hòa Phước, thành viên của Tổ CCHC- tiếp tục hỗ trợ anh Việt lập tài khoản công dân trực tuyến.

Vẫn còn mới mẻ với điều này, anh Việt bối rối chia sẻ: “Tôi không rành rẽ về CNTT nên ban đầu hơi e ngại việc sử dụng tài khoản công dân trực tuyến. Tuy nhiên, sau khi được cán bộ xã tận tình giới thiệu và kiên nhẫn hướng dẫn sử dụng, tôi thấy vừa nhanh chóng, vừa tiện lợi. Sau này, khi có nhu cầu làm giấy khai sinh, khai tử..., tôi sẽ thao tác trên máy tính”.

Trong khi đó, anh Nguyễn Văn Sơn ở thôn Miếu Bông tâm sự: “Trước đây, cha mẹ là người liên hệ giải quyết TTHC nên tôi không biết nhiều về các dịch vụ công. Cách đây hơn 2 tuần, Điểm ứng dụng CNTT được xã đưa về tại thôn, gần nhà nên tôi tò mò, “giành quyền” đi đăng ký khai sinh cho con. Được làm quen với DVCTT, tôi thấy cách làm này hay và rất hài lòng. Tôi sẽ giới thiệu và hỗ trợ người thân mình về tài khoản công dân trực tuyến”.

Chị Phạm Thị Phương Thảo chia sẻ, khả năng sử dụng, cập nhật internet của đa số người dân tại địa bàn này còn thấp nên việc triển khai DVCTT gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để hỗ trợ người dân xây dựng thói quen giao dịch TTHC trực tuyến, thời gian đầu, xã vận động 8 tình nguyện viên CCHC để tập huấn kỹ năng sử dụng phần mềm ứng dụng các TTHC mức 3, 4 cấp huyện, xã. 100% cán bộ, công chức xã biết và có khả năng sử dụng thành thạo quy trình, phần mềm để mỗi cá nhân là một tuyên truyền viên CCHC.

“Hiện tại, Tổ CCHC đã lên đến con số 25 người (trong đó có 10 đoàn viên thanh niên của thôn, 14 người là cán bộ trẻ của UBND xã, 1 đoàn viên thanh niên trường học). Sáng thứ năm hằng tuần, tại mỗi “Điểm ứng dụng CNTT nông thôn mới kiểu mẫu”, có 2 thành viên Tổ CCHC túc trực để hướng dẫn người dân cách giải quyết các TTHC. Ngoài thời gian làm việc tại nhà văn hóa, người dân trong thôn có thắc mắc về TTHC sẽ liên hệ với Tổ CCHC để được hỗ trợ 24/24 giờ”.

Chủ tịch UBND xã Hòa Phước Lê Đình Ca cho biết, mô hình thí điểm “Điểm ứng dụng CNTT tại thôn kiểu mẫu nông thôn mới Trà Kiểm” đi vào hoạt động vào tháng 8-2017 với một số trang thiết bị bước đầu. “Cách làm này tạo được nhiều tiện ích cho tổ chức, công dân trong việc lựa chọn thực hiện dịch vụ công nhằm thực hiện phương châm: giảm phiền hà, bảo đảm nhanh chóng, chính xác. Sau một năm đi vào hoạt động, mô hình đã đem lại hiệu quả nhất định. Đến nay, xã đã hướng dẫn tạo được 163 tài khoản công dân trực tuyến cho cán bộ quân dân chính và công dân tại thôn, đã có 56 hồ sơ hành chính thuộc lĩnh vực tư pháp được tiếp nhận và giải quyết mức độ 4”, ông Lê Đình Ca hồ hởi. (Baodanang.vn 17/9, Kha Miên)Về đầu trang

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

Việt Nam nằm trong nhóm 8 nước tiêu biểu của Đông Nam Á

Theo một báo cáo gần đây nhất của Viện Toàn cầu McKinsey, Việt Nam nằm trong nhóm 8 nước tiêu biểu của Đông Nam Á trong tăng trưởng.

Báo cáo điểm tên 18 nền kinh tế mới nổi tiêu biểu trong khu vực, trong đó, có 8 đại diện từ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Các nền kinh tế được cho là vượt trội nếu chỉ số GDP hàng năm bình quân đầu người đạt ít nhất 3,5% trong 50 năm hoặc 5% trong 20 năm.

Nhóm các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar là các quốc gia "xuất chúng gần đây" vì đạt mức chuẩn 20 năm. (VTV.vn 17/9)Về đầu trang

Viện McKinsey đánh giá tích cực triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam

Theo báo cáo công bố cuối tuần qua này, những nền kinh tế mới nổi được cho là tăng trưởng vượt trội nếu chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hằng năm bình quân đầu người đạt mức tăng trưởng ít nhất 3,5% trong 50 năm hoặc 5% trong 20 năm.

Viện Toàn cầu McKinsey, thuộc Tập đoàn Tư vấn chiến lược kinh doanh quốc tế McKinsey, đã chia tám nước ASEAN trên thành hai nhóm, theo đó Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan là những quốc gia "tiêu biểu lâu dài" vì đạt mức chuẩn 50 năm, trong khi nhóm thứ hai gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar là các quốc gia "tiêu biểu gần đây” vì đạt mức chuẩn 20 năm.

Ông Oliver Tonby, Giám đốc điều hành và Chủ tịch Văn phòng McKinsey tại châu Á, cho biết mức tăng trưởng ấn tượng của các nước ASEAN không gây bất ngờ cho nhiều nước trong khu vực.

Với nhận định trên, các nước ASEAN sẽ phải đối mặt với thách thức duy trì đà tăng trưởng và thu hẹp khoảng cách GDP giữa hai nhóm nước.

Báo cáo của Viện Toàn cầu McKinsey cho rằng nếu nền kinh tế ASEAN có thể tăng trưởng ở mức 4,1%/năm từ nay đến năm 2030, GDP của khu vực sẽ tăng gấp đôi lên 5.000 tỷ USD, đóng góp cho 5% GDP của toàn thế giới. Điều này sẽ phụ thuộc nhiều vào bốn quốc gia đi đầu trong khối là Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan.

Theo Viện Toàn cầu McKinsey, chính phủ đóng vai quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng ở các nước ASEAN, nhất là ở các nước thu nhập thấp. Ở các nước thu nhập cao như Singapore, Malaysia, chính phủ giúp chuyển đổi các nguồn ngân quỹ tiết kiệm sang vốn đầu tư, thường thông qua các doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp liên doanh.

Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng nếu muốn theo kịp Singapore và Malaysia, một số quốc gia có mức độ tăng trưởng thấp hơn cần cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó có tình trạng bảo hộ doanh nghiệp.

Báo cáo của Viện Toàn cầu McKinsey cho rằng có hai động lực thúc đẩy tăng trưởng của các nước ASEAN, đó là các chính sách khuyến khích tăng trưởng, tiết kiệm ngân sách và vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp lớn.

Với yếu tố đầu tiên, chính sách tích lũy vốn đã đem lại kết quả ấn tượng cho nhiều nước Đông Nam Á. Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan đã tiến hành tích lũy từ những thập niên 70 của thế kỷ trước.

Trong giai đoạn 2000-2015, lượng ngân quỹ Singapore tích lũy đã đạt 51% GDP của nước này, trong khi Malaysia đã tiết kiệm được 40%, Indonesia 32% và Thái Lan 30%. Trong khi đó, Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu thực hiện chính sách này trong 20 năm trở lại đây.

Tỷ lệ tiết kiệm cao tương quan với mức độ đầu tư tăng mạnh. Trung bình, các quốc gia “tiêu biểu lâu dài” đầu tư khoảng 30% GDP, trong khi các quốc gia “tiêu biểu gần đây” chỉ được khoảng 20%.

Để Đông Nam Á có thể phát huy được tối đa tiềm năng kinh tế, Viện Toàn cầu McKinsey đưa ra ba đề nghị cho các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo các doanh nghiệp, đó là thúc đẩy ứng dụng tiến bộ công nghệ, tái cơ cấu thị trường lao động và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. (VietnamPlus.vn 17/9, Thanh Hương)Về đầu trang

90% doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại do đâu?

Một trong những nguyên nhân chính khiến hoạt động khởi nghiệp chưa hiệu quả là thiếu vốn, các ý tưởng, dự án khởi nghiệp còn thiếu tính sáng tạo.

Vài năm trở lại đây, khởi nghiệp đã tạo thành làn sóng mạnh mẽ trong cộng đồng người dân. 2016 được xem là năm “Quốc gia khởi nghiệp”. 2 năm trở lại đây, mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ và thúc đẩy khởi nghiệp, thế nhưng tỷ lệ thất bại ở các doanh nghiệp khởi nghiệp vẫn chiếm tới 90%.

Theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 2015/2016, dựa trên phương pháp tiếp cận GEM của Phòng Thương mại-Công nghiệp Việt Nam (VCCI), chỉ số đổi mới của các hoạt động khởi nghiệp của Việt Nam thuộc loại thấp, xếp thứ 50/60 các nền kinh tế.

Trong giai đoạn khởi nghiệp ở Việt Nam, các định hướng “mới” có chỉ số cực thấp khi chỉ 4,8% sản phẩm được xem là mới, 4,4% công nghệ mới, 2,2% thị trường mới. Thậm chí khi đã bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định, 3 yếu tố chính là sản phẩm, thị trường và công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn tụt thấp hơn nữa.

Vậy đây có phải là mấu chốt dẫn đến tình trạng 90% doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam thường bị thất bại trong 1-2 năm đầu tiên?

TS. Đinh Việt Hòa, Hiệp hội khởi nghiệp quốc gia phân tích, phần lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam có tinh thần khởi nghiệp rất cao nhưng kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp thì còn rất yếu và thiếu. Có những doanh nghiệp năng lực tài chính tốt nhưng vẫn có thể đóng cửa vì năng lực quản trị tài chính lại không tốt. Cùng với đó, doanh nghiệp khởi nghiệp còn thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tư duy về thị trường.

Một nguyên nhân khách quan mà ông Hòa đưa ra là môi trường kinh doanh của Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Trong bối cảnh hội nhập, hàng hóa từ nước ngoài tràn vào Việt Nam với số lượng lớn, chất lượng tại tốt hơn, trong khi khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp Việt lại yếu. Điều này dẫn đến hàng hóa không tiêu thụ được, thị phần hàng hóa của Việt Nam bị sản phẩm nước ngoài lấn át, cạnh tranh gay gắt…

Bên cạnh đó là sự thiếu hụt về vốn và tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp. Bởi đây là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp. Thiếu vốn doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều rủi ro và có thể đóng cửa bất cứ lúc nào. Ông Hòa cho rằng: “Để góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp, nên chăng, Nhà nước có những chính sách đặc biệt chấp nhận rủi ro cho các ngân hàng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp vay để khi họ gặp khó khăn thì cần “bơm” vốn cho họ, truyền cho họ một chút máu thì doanh nghiệp ấy có thể sống lại và đi tiếp”.

Theo bà Phan Hoàng Lan, Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay, nhiều chính sách liên quan đến khởi nghiệp của Việt Nam còn đang rất mới, để hoàn thiện khung pháp lý cũng như chính sách hỗ trợ thì phải cần khoảng 3 năm nữa mới xong.

 

Ví dụ như việc tài trợ dành cho khởi nghiệp, hiện tại gần như chỉ tài trợ cho những khoản liên quan đến nghiên cứu phát triển. Còn những khoản liên quan đến tìm hiểu thị trường như thế nào, đi ra nước ngoài ra sao thì hiện tại chưa có khoản chính sách hỗ trợ như vậy. Bởi đây là công cụ đầu tư, trong khi mô hình đầu tư kiểu sàn giao dịch gọi vốn cộng đồng hay sàn dành cho khởi nghiệp chưa có. Những chính sách dành cho nhà đầu tư thiên thần thì cũng còn thiếu. 

Bà Phan Hoàng Lan cho biết: “Việc toàn cầu hóa trong đầu tư khởi nghiệp là xu hướng không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới đều có cả. Không phải nước nào cũng có đủ nguồn năng lực để đầu tư nhiều dành cho khởi nghiệp. Trên thế giới có hàng loạt doanh  nghiệp khởi nghiệp tỷ USD, nguồn tiền đó ở những nước như Việt Nam rất khó có được”.

Theo bà Lan, một trong những lý do khiến nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải đóng cửa sớm là do nhiều nhà đầu tư Việt Nam còn e ngại, không dám mạnh tay đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp vì mức độ rủi ro cao. Họ quan niệm rằng, trong 10 doanh nghiệp khởi nghiệp thì có tới 9 doanh nghiệp sẽ “chết”. Do đó, đối tượng doanh nghiệp này đã “non” lại còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn vốn. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp bị “chết yểu” là không tránh khỏi.

Hiện nay, các nhà đầu tư cá nhân/thiên thần chủ yếu hoạt động tự phát, chưa có nhiều liên kết với nhau và chưa chuyên nghiệp hóa trong hoạt động đầu tư khởi nghiệp. Chính vì còn thiếu nhiều yếu tố và dù khởi nghiệp được quan tâm nhiều nhưng sức hút của các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt so với khu vực và thế giới vẫn còn khá khiêm tốn.

Mặc dù thực tế từng có các thương vụ trị giá vài chục triệu USD, nhưng tính chất của thương vụ lại thiên về việc thâu tóm doanh nghiệp khởi nghiệp, khác biệt với đầu tư để tăng trưởng. Do đó, không thể phủ nhận một thực tế, dù các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định, nhưng sức hút của khởi nghiệp Việt vẫn còn hạn chế hơn so với các nước trong khu vực. (VOV.vn 16/9)Về đầu trang

QUẢN LÝ

Bắt đầu kiểm toán tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam

Thông tin từ Kiểm toán Nhà nước cho biết, chiều 14/9/2018, tại trụ sở Bộ Quốc phòng đã diễn ra Hội nghị công bố Quyết định kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2017 của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trước đó, Kiểm toán Nhà nước có Quyết định số 1892/QĐ-KTNN ngày 10/9/2018 về việc kiểm toán tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đoàn Kiểm toán sẽ được thực hiện trong thời gian 60 ngày, kể từ ngày công bố Quyết định kiểm toán. Đoàn kiểm toán của KTNN chuyên ngành Ia sẽ thực hiện kiểm toán tổng hợp tại 2 đơn vị, kiểm toán chi tiết tại 15 đơn vị dự toán, sự nghiệp có thu, 09 dự án xây dựng cơ bản và 02 doanh nghiệp của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng.

Mục tiêu kiểm toán nhằm xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo kiểm toán quyết toán (báo cáo tài chính, chi phí đầu tư); đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý tài chính - kế toán, đầu tư xây dựng, đầu tư, mua sắm tài sản, đất đai;

Đồng thời, phát hiện những tồn tại, bất cập trong cơ chế, chính sách để kiến nghị sửa đổi, bổ sung; phát hiện kịp thời các hành vị tham nhũng, lãng phí, sai phạm trong công tác quản lý; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan để kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Đoàn kiểm toán sẽ tiến hành kiểm toán việc lập, phân bổ, giao dự toán và quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ngân sách và tài sản công; hoạt động có thu và thu, chi quỹ đơn vị; báo cáo tài chính (doanh thu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ với đất nước);

Việc thực hiện Quy chế giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp; việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ quản lý tài chính - kế toán, quản lý đầu tư xây dựng và các chính sách pháp luật khác có liên quan... cũng nằm trong kế hoạch kiểm toán lần này. (Bizlive.vn 17/9, Lâm An)Về đầu trang

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

Hàng loạt cán bộ “nhúng chàm” ăn tiền làm thủy điện Sơn La

Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Sơn La vừa hoàn tất kết luận điều tra bổ sung vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại huyện Mường La (Sơn La).

Vụ án có 17 bị can, phần nhiều là cán bộ chủ chốt của Sơn La gồm: Trương Tuấn Dũng - Phó GĐ Sở Tài chính; Triệu Ngọc Hoan - GĐ Sở TN&MT;   Phan Đức Chính - Trưởng phòng TN&MT huyện Mường La; Sòi Ngọc Hùng - GĐ Văn phòng đăng ký đất đai (VP ĐKĐ); Phan Xuân Khoa - Phó Ban quản lý di dân tái định cư Mường La...

Nội dung vụ án thể hiện, năm 2013, khi trả tiền bồi thường, nhiều hộ dân có đất bị thu hồi tại khu vực Nhà máy thủy điện Sơn La không đồng ý vì cho rằng còn thiếu nhiều diện tích chưa được hỗ trợ. Để xác định, tỉnh Sơn La chỉ đạo UBND huyện Mường La đo đạc lại, thống kê diện tích đất từng hộ và đưa phương án bồi thường trên diện tích chưa được bồi thường trước đó.

Năm 2014, Trương Tuấn Dũng (lúc này là Phó Chủ tịch UBND huyện Mường La) ký ban hành Kế hoạch số 41 để triển khai thực hiện chỉ đạo của tỉnh, đồng thời chỉ định cho VP ĐKĐ và Cty Bảo Bình (trụ sở tại Hà Nội) đo đạc, lập bản đồ địa chính.

Cơ quan tố tụng xác định, Kế hoạch 41 được ban hành sai quy định; chỉ đạo của UBND tỉnh Sơn La ; đo đạc trước, hoàn thiện hồ sơ pháp lý sau… Khi thực hiện Kế hoạch 41, tại Sơn La xuất hiện nhiều đơn thư vượt cấp, đặc biệt là đơn của bị can Đèo Văn Ban ( một cá nhân nằm trong diện được đền bù) đã gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự, buộc công an phải điều tra.

Kết quả cho thấy, ông Ban từng được cấp 1 thửa đất rộng 32.400m2 tại xã Tạ Bú và đã nhận đủ tiền đền bù từ dự án thủy điện. Tuy vậy, bị can liên tục gửi đơn thư vượt cấp, đề nghị được bồi thường theo khung giá đất năm 2015 thay vì giá năm 2013. Năm 2014, khi đo đạc lại theo Kế hoạch 41 nói trên, Đèo Văn Ban đã tự ý khoanh vùng đất của mình trên bản đồ với diện tích lớn hơn nhiều lần thực tế.

Ông Ban cũng đề nghị và được bị can Bùi Văn Tân (cán bộ Văn phòng Đăng ký đất đai) chuyển loại đất để được bồi thường giá cao. Đèo Văn Ban cũng được Vũ Hồng Giang (lúc này làm việc cho Cty Bảo Bình) chia, số hóa đất trên bản đồ thành 97 thửa trong khi thực tế Ban chỉ có 1 thửa. Đối tượng Ban còn tự nhận là Trưởng bản để ký xác nhận hồ sơ cho chính mình. Kết quả, Đèo Văn Ban được huyện Mường La phê duyệt thu hồi gần 170.000 m2 với số tiền hơn 1,2 tỷ đồng.

Theo cơ quan tố tụng, việc chỉ đạo sai của bị can Trương Tuấn Dũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sai phạm nói trên. Bị can Triệu Ngọc Hoan (GĐ Sở TN&MT) dù không nắm được kết quả đo đạc đất của hộ Đèo Văn Ban nhưng vẫn ký ban hành bản đồ địa chính dẫn tới đền bù sai. Các bị can khác biết thực hiện Kế hoạch 41 sẽ dẫn tới sai phạm nhưng vẫn cố ý làm theo…

Trước đó, ngày 11/7, VKSND tỉnh Sơn La đã ra cáo trạng truy tố 17 bị can trên về các tội “Cố ý làm trái…”, “Thiếu trách nhiệm…”. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, TAND tỉnh Sơn La trả lại, yêu cầu điều tra việc bồi thường cho các hộ dân theo Kế hoạch 41 có sai phạm không; làm rõ mục đích, động cơ phạm tội của các bị can và số tiền được hưởng lợi nếu có.

Tuy nhiên, cơ quan ANĐT Công an tỉnh Sơn La cho biết không có căn cứ để làm rõ các nội dung theo yêu cầu. Cơ quan ANĐT cũng kết luận không đủ căn cứ chứng minh và quy kết trách nhiệm hình sự về sai phạm của các bị can và đối tượng khác có liên quan trong đo đạc, bồi thường với các hộ dân khác trừ hộ Đèo Văn Ban. (Tiền Phong 17/9, Xuân Ân)Về đầu trang

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.107.221 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này