Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 31/7/2018
1. Sẽ đánh giá độc lập kết quả thực hiện Cơ chế một cửa của các bộ, ngành
3. Thanh Hóa: Nâng cao chỉ số cải cách hành chính cấp xã
4. Đà Nẵng đẩy mạnh cải cách hành chính
5. Thủ tướng: Có quá nhiều thủ tục “hành” doanh nghiệp khi đầu tư vào nông nghiệp
6. Triển khai dịch vụ một cửa điện tử tại cơ quan thuế
7. Xây trụ sở ngàn tỉ - không phải việc cấp bách!
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Cải cách điều kiện kinh doanh: Bước đầu biến lời nói thành hành động
10. Trung Quốc kỷ luật hơn 36.000 quan chức trong nửa đầu năm 2018
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Sẽ đánh giá độc lập kết quả thực hiện Cơ chế một cửa của các bộ, ngành
Thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập về kết quả thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) là 1 trong 5 giải pháp quan trọng trong dự thảo Kế hoạch hành động thúc đẩy NSW, Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018 – 2020, đang được Bộ Tài chính xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về “Thúc đẩy NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại” được tổ chức tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện dự thảo và trình Thủ tướng ban hành Kế hoạch hành động trong tháng 8.
Kế hoạch hành động được xem là động lực để đẩy nhanh thực hiện NSW, ASW trong thời gian tới. Một nội dung quan trọng trong dự thảo nhận được nhiều sự quan tâm là giải pháp để thúc đẩy thực hiện các cơ chế một cửa. Theo dự thảo được Bộ Tài chính xây dựng, có 5 nhóm giải pháp quan trọng được đề cập.
Nhóm giải pháp thứ nhất là hoàn thiện cơ sở pháp lý và cải cách thủ tục hành chính. Đối với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý với những nội dung trọng tâm là xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK.
Việc ban hành Nghị định sẽ tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc sử dụng, trao đổi chứng từ điện tử, hồ sơ điện tử đối với thủ tục hành chính trong nước và các nước, khối - cộng đồng kinh tế; tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ trên nền tảng Cổng thông tin một cửa quốc gia để phục vụ công tác quản lý nhà nước; đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc cung cấp dịch vụ công mức độ 4 thông qua NSW…
Nhóm giải pháp thứ hai, liên quan đến xây dựng, triển khai hệ thống công nghệ thông tin. Theo đó, việc xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ triển khai NSW, ASW sẽ hướng tới mục tiêu xử lý tập trung thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, trên nền tảng công nghệ tiên tiến phù hợp với xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 nhằm đáp ứng tiến độ triển khai theo cam kết của Chính phủ, tiết kiệm và đảm bảo hiệu quả đầu tư, tận dụng nguồn lực cũng như tăng cường khả năng bảo mật, an toàn thông tin.
Đồng thời sẵn sàng về mặt kỹ thuật để thực hiện ASW theo lộ trình và đảm bảo trao đổi, xử lý chứng từ thương mại với các nước, khối - cộng đồng kinh tế; giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi thương mại và tăng cường khả năng canh tranh quốc gia.
Một nội dung quan trọng khác trong nhóm giải pháp về công nghệ thông tin là thí điểm thuê dịch vụ của bên thứ ba trong cung cấp các tiện ích cho cả doanh nghiệp và các cơ quan Nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW, ASW.
Nhóm giải pháp thứ ba là xây dựng và triển khai đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới. Nhóm giải pháp này tập trung vào xây dựng và triển khai đề án tổng thể nhằm mục đích kết nối các cơ quan Chính phủ và các bên trong chuỗi cung ứng (bao gồm ngân hàng thương mại, bảo hiểm, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics...) liên quan đến các hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới trên nền NSW, ASW.
Thực hiện mục tiêu trên cần hoàn thiện chính sách quản lý hoạt động thương mại điện tử qua biên giới đối với hàng hóa XNK; nghiên cứu, ban hành các thủ tục hành chính nhằm quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng XNK qua biên giới; thiết lập cơ chế thanh toán, bảo lãnh và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch và thương mại điện tử đối với hàng hóa XNK qua biên giới.
Nhóm giải pháp thứ tư, liên quan đến đào tạo, tuyên truyền và hỗ trợ. Nội dung quan trọng của nhóm giải pháp này là xây dựng tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện NSW, ASW; xây dựng cơ chế và tổ chức hỗ trợ người sử dụng trên Cổng thông tin một cửa quốc gia; xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, doanh nghiệp về NSW.
Mặt khác, cần tổ chức hỗ trợ tốt cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tham gia NSW; tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin ở các cơ quan quản lý nhà nước các cấp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về công nghệ thông tin; đào tạo, tập huấn cho công chức các bộ, ngành thực hiện xử lý thông tin trên Cổng thông tin một cửa quốc gia...
Giải pháp trọng tâm thứ năm, được đề cập là thiết lập cơ chế giám sát, báo cáo và đánh giá độc lập. Giải pháp này nhằm xây dựng và thiết lập cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của các bộ, ngành theo chương trình, kế hoạch của Chính phủ thông qua việc công bố ấn phẩm về các báo cáo thường niên liên quan đến đo lường thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và thông quan hải quan; đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dịnh vụ công thông qua NSW. (Hải Quan 31/7, Thái Bình)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội thay đổi sau 10 năm mở rộng địa giới hành chính: Người dân có thể ngồi nhà thực hiện các thủ tục hành chính
Dấu ấn của Hà Nội sau 10 năm mở rộng chính là sự bứt phá trong cải cách và hiện đại hóa nền hành chính. Ở khắp các địa bàn, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức, cập nhật tiến bộ công nghệ thông tin được chú trọng; Người dân, doanh nghiệp được hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện các thủ tục hành chính mà không cần đi lại nhiều lần.
Theo đánh giá của UBND TP Hà Nội, kết quả cải cách thủ tục hành (CC TTHC) chính sau 10 năm trên địa bàn Hà Nội đã thay đổi rõ rệt, chất lượng giải quyết TTHC ngày càng nâng cao. Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin đã có bước tiến mạnh mẽ, nền tảng chính quyền điện tử cơ bản được hình thành, thúc đẩy công tác cải cách hành chính.
Các Sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ, phần mềm một cửa điện tử, thiết lập hệ thống thư điện tử công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức trao đổi, giải quyết công việc...
Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ngày càng phát huy hiệu quả; kết quả giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt tỷ lệ cao (năm 2017 đạt 97,33%). Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước xây dựng và triển khai thành công cơ chế “một cửa” trong cung cấp dịch vụ công tại đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp Nhà nước.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI tăng liên tục từ năm 2012 (năm 2017 xếp thứ 13/63 tỉnh, TP, đạt vị trí cao nhất từ trước tới nay); chỉ số CCHC PAR INDEX đạt thứ hạng cao (năm 2017 xếp thứ 2/63 tỉnh).
Cùng đó, để thu hút đầu tư TP đã rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định CC TTHC trong đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, xây dựng, thu hồi, giao, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất; chấn chỉnh thái độ, trách nhiệm phục vụ nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, công chức; giảm thời gian giải quyết công dân; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin; tỷ lệ hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng đạt gần 100%. TP xây dựng và vận hành Cổng thông tin hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Hà Nội; đưa Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ thông tin vào hoạt động…
Để triển khai những chủ trương cải cách của TP, các huyện, xã trên địa bàn Hà Nội đã có nhiều việc làm cụ thể, hiệu quả. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà, Trưởng Phòng kinh tế huyện Mê Linh cho biết, CC TTHC trong nông nghiệp trên địa bàn có những biến đổi lớn-đặc biệt là nông nghiệp có định hướng an toàn vệ sinh thực phẩm, TTHC được rút ngắn thời gian giúp nhân dân thuận tiện hơn trong thực hiện các TTHC.
Còn tại huyện Quốc Oai, Phó Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Đức Phương khẳng định: CCHC là công việc được huyện đặc biệt quan tâm và coi trọng, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng đồng bộ và lựa chọn những công chức có trình độ, có kỹ năng giao tiếp, ứng xử để làm việc tại bộ phận một cửa các cấp.
“Có thể nói, đây là tấm gương phản chiếu hoạt động của chính quyền. Cán bộ bộ phận một cửa là những người đầu tiên người dân tiếp xúc và giao dịch khi đến xã, huyện nên việc giải quyết hồ sơ, TTHC nhanh hay chậm, được tạo điều kiện hay bị gây phiền hà, nhũng nhiễu sẽ là cơ sở để người dân đánh giá chính quyền hoạt động tốt hay không”.
Đánh giá về việc thực hiện TTHC tại Quốc Oai, ông Lê Tùng, Giám đốc Marketing, Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunhouse, KCN Quốc Oai bày tỏ: Doanh nghiệp chúng tôi được huyện hướng dẫn TTHC thuận tiện nhất. Trước đây chúng tôi có nhiều bỡ ngỡ nhưng nhờ sự hỗ trợ của địa phương thủ tục đã được giải quyết nhanh chóng.
Điều ấn tượng trong công tác CC TTHC là người dân được thụ hưởng nhiều những thành tựu này. Đơn cử như trong lĩnh vực khai sinh, khai tử, nếu như trước đây, khi thực hiện khai sinh, khai tử hay một số thủ tục khác, người dân phải đến tận trụ sở xã, phường thì ngay có thể ngồi tại nhà với vài thao tác đơn giản. Đó là sự tiến bộ vượt bậc, sự bứt phá lớn của TP Hà Nội trong ứng dụng công nghệ thông tin vào CC TTHC. (Pháp Luật Xã Hội 31/7, Thịnh An)Về đầu trang
Thanh Hóa: Nâng cao chỉ số cải cách hành chính cấp xã
Để theo dõi, đánh giá thực chất, khách quan kết quả cải cách hành chính hàng năm của UBND các xã, thị trấn, UBND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quy định xác định chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của UBND các xã, thị trấn. Đây là huyện đi đầu toàn tỉnh trong thực hiện đánh giá chỉ số CCHC cấp xã, thị trấn
Nội dung đánh giá dựa trên 8 lĩnh vực, 32 tiêu chí và 37 tiêu chí thành phần. Thang điểm đánh giá chỉ số CCHC của UBND các xã, thị trấn được quy định cụ thể đối với từng lĩnh vực, tiêu chí và tiêu chí thành phần. Hàng năm, UBND các xã, thị trấn tự theo dõi, đánh giá và cho điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ CCHC của đơn vị mình.
Điểm tự đánh giá của các xã, thị trấn sẽ được thẩm định trước khi trình chủ tịch UBND huyện quyết định công nhận. Hàng năm, lấy kết quả xác định chỉ số CCHC của UBND các xã, thị trấn là tiêu chí bình xét thi đua, khen thưởng và xem xét trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan. Thực hiện quy định này, 15 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đông Sơn đã và đang triển khai nhiều giải pháp để đạt được chỉ số CCHC cao. (Đài Phát thanh - Truyền hình Thanh Hóa 31/7, Xuân Thu)Về đầu trang
Đà Nẵng đẩy mạnh cải cách hành chính
Theo báo cáo của Sở Nội vụ Đà Nẵng, trong thời gian qua, về công tác cải cách hành chính thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp như: tổ chức mô hình một cửa tập trung tại Trung tâm hành chính thành phố, 7 quận, huyện, 56/56 phường, xã; ban hành bộ thủ tục hành chính thống nhất áp dụng cho khối quận huyện, phường xã.
Đồng thời, xây dựng tích hợp cơ sở dữ liệu nền về thủ tục hành chính của toàn thành phố; triển khai nhiều tiện ích hỗ trợ tổ chức, người dân trong tra cứu, phản ánh thông tin, giải quyết dịch vụ công như: tổng đài dịch vụ công, cổng thông tin góp ý, đăng ký hẹn giờ giao dịch giải quyết dịch vụ công...
Bên cạnh cuộc vận động 3 hơn (Nhanh hơn - hợp lý hơn - thân thiện hơn) trong cải cách hành chính, việc đánh giá xếp hạng giữa các sở, ngành, quận huyện và cơ quan trung ương đóng trên địa bàn đã góp phần chấn chỉnh những bất cập và chia sẻ nhân rộng mô hình tốt trong công tác cải cách hành chính một cách kịp thời và đồng bộ. (Dannangtv.vn 31/7)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Thủ tướng: Có quá nhiều thủ tục “hành” doanh nghiệp khi đầu tư vào nông nghiệp
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, môi trường đầu tư kinh doanh đang trói chân doanh nghiệp, có quá nhiều thủ tục hành chính "hành" doanh nghiệp trong quá trình đầu tư vào nông nghiệp.
Nhận diện những khó khăn của ngành nông nghiệp hiện nay, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng, dù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nhưng hiện vẫn tồn đọng 500 thủ tục hành chính liên quan cần rà soát, cắt giảm.
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần cắt giảm hơn 50% điều kiện đầu tư vào nông nghiệp, đây là giải pháp quan trọng giúp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Dù nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp song chưa hợp lý, mỗi nơi mỗi khác.
Các thủ tục kiểm tra chuyên ngành chồng chéo, một mặt hàng bị nhiều lần kiểm tra ở bộ; chính sách tiền kiểm cũng đang gây trở ngại, khó khăn cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị Toàn quốc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, môi trường đầu tư kinh doanh đang trói chân doanh nghiệp, có quá nhiều thủ tục hành chính "hành" doanh nghiệp trong quá trình đầu tư vào nông nghiệp.
Qua rà soát có khoảng 16 bước với hàng chục văn bản, dẫn đến việc triển khai các dự án thường chậm. Một số quy định về điều kiện kinh doanh, cấp giấy phép còn gây cản trở, chưa khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là đối với các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao. Ngoài ra, doanh nghiệp còn gánh nặng thanh tra, kiểm tra, có doanh nghiệp phản ánh trong vòng 20 ngày phải tiếp tới 7 đoàn thanh tra, kiểm tra.
Bên cạnh đó, từ thực tế hoạt động, ông Phạm Anh Tuấn cũng cho rằng, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách cho khu vực nông nghiệp nông dân nông thôn và có nhiều chính sách cho các doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã (HTX), HTX đầu tư vào nông nghiệp và liên kết chuỗi, nhưng khi áp dụng thực tiễn thì còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Do đó, Chính phủ cần có các cơ chế chính sách đủ mạnh, cụ thể, dễ tiếp cận, dễ áp dụng cho các doanh nghiệp, Liên hiệp HTX và các HTX khi tham gia đầu tư vào nông nghiệp gắn với chuỗi liên kết, đặc biệt rất mong Chính phủ có cơ chế riêng và đặc thù cho các doanh nghiệp, Liên hiệp HTX và các HTX khi tham gia đầu tư vào nông nghiệp gắn với chuỗi liên kết về nguồn vốn vay ưu đãi, vay tín chấp có thể dùng các hợp đồng liên kết bao tiêu, các phương án sản xuất để làm tài sản tín chấp vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Ví dụ như liên hiệp hiện nay đã đầu tư hàng chục siêu thị cửa hàng, kho bãi, xe vận chuyển, hỗ trợ các HTX thành viên với số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng nhưng cũng không thể tiếp cận được nguồn vốn vay kể cả vay các ngân hàng thương mại dẫn đến việc mở vộng quy mô kinh doanh và liên kết bao tiêu cho các thành viên gặp rất nhiều khó khăn.
"Tại hội nghị này, kính mong Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ có các chỉ đạo cho phép các doanh nghiệp, Liên hiệp HTX và các HTX khi tham gia đầu tư vào nông nghiệp gắn với chuỗi liên kết được áp dụng cơ chế chính sách tín dụng đặc thù phù hợp với nhu cầu và điều kiện phát triển", ông Tuấn kiến nghị. (Theleader.vn 31/7, Thu Phương)Về đầu trang
Triển khai dịch vụ một cửa điện tử tại cơ quan thuế
Cùng với việc cải cách thủ tục hành chính thông qua giảm số giờ nộp thuế, Tổng cục Thuế cũng đang đẩy nhanh tiến độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ một cửa điện tử tại cơ quan thuế.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, ngoài việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, sửa đổi chính sách theo hướng đơn giản, dễ thực hiện nhằm giảm số giờ nộp thuế, Tổng cục Thuế cũng đang đẩy nhanh tiến độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo Nghị quyết 19-2018 của Chính phủ.
Để thực hiện Nghị quyết 19-2018 của Chính phủ, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 670/QĐ-TCT về Đề án “dịch vụ một cửa điện tử và hỗ trợ trực tuyến tập trung tại Tổng cục Thuế”.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, hiện cơ quan thuế đã thực hiện đánh giá thực trạng công tác hỗ trợ người nộp thuế thông qua việc khảo sát ý kiến của người nộp thuế. Việc khảo sát này được thực hiện theo hướng khảo sát những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tuân thủ nghĩa vụ thuế, tiếp cận thông tin, tiếp cận dịch vụ hỗ trợ của cơ quan thuế.
Khảo sát ý kiến của cán bộ thuế về khả năng, năng lực tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện các quy trình nghiệp vụ cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế; những đề xuất để nâng cao chất lượng dịch vụ của cơ quan thuế tại Cục Thuế TPHCM, Đồng Tháp, Long An.
Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng giao Ban Cải cách và Hiện đại hóa (Tổng cục Thuế) nghiên cứu, đưa ra yêu cầu, nội dung và trao đổi với các đơn vị công nghệ thông tin để tìm hiểu về hệ thống, cấu trúc của một trang thông tin cung cấp dịch vụ điện tử, từ đó đề xuất xây dựng trang thông tin một cửa điện tử phù hợp với ngành Thuế.
Được biết, Tổng cục Thuế cũng đang tiến hành nghiên cứu xu hướng công nghệ dịch vụ khách hàng điện tử, phân đoạn người nộp thuế trong việc nghiên cứu hành vi tuân thủ của người nộp thuế để định hướng các dịch vụ hỗ trợ phù hợp với yêu cầu từng nhóm người nộp thuế, những nội dung, yêu cầu cần thiết khi xây dựng kho dữ liệu. (Thanh Tra 31/7, Nhật Minh)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Xây trụ sở ngàn tỉ - không phải việc cấp bách!
Sau khi Dự án hợp khối các trụ sở, cơ quan hành chính tỉnh Hà Giang với tổng số tiền phải thanh toán hơn 1.000 tỉ đồng được đề xuất, đã có phân tích phản biện từ các bộ. Và mới đây, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng có ý kiến cụ thể: “UBND tỉnh Hà Giang rà soát để thực hiện việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc hiện nay của các cơ quan hành chính, đáp ứng nhu cầu và điều kiện làm việc”.
Trong lúc đất nước rất khó khăn về vốn, nợ nước ngoài, nợ quá hạn là áp lực ghê gớm đối với nền tài chính quốc gia, thì việc đưa ra đề xuất xây trụ sở của Hà Giang là không phù hợp.
Hà Giang là địa phương thu ngân sách vào hàng kém nhất nước, chỉ đạt gần 1.900 tỉ đồng, phải nhận trợ cấp từ Trung ương đến 80%. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng đề nghị Hà Giang đến cuối nhiệm kỳ phấn đấu tự cân đối được 40-50% ngân sách, giảm trợ cấp từ Trung ương.
Một tỉnh còn nhận trợ cấp từ ngân sách đến 80% thì không thể xây trụ sở phải thanh toán ngàn tỉ. Một sự phi lý đến mức các bộ đều phản đối. Bộ KHĐT đã có ý kiến: “Hà Giang là tỉnh nghèo, khả năng cân đối nguồn lực hạn chế, đang có nợ đọng xây dựng cơ bản lớn, nợ ứng lớn, đề nghị tỉnh nghiên cứu, rà soát lại tính cấp bách, sự cần thiết phải thực hiện dự án trong giai đoạn hiện nay”.
Tất nhiên Hà Giang thu ngân sách kém là vì địa phương thuộc vùng núi, không thu hút được đầu tư, không có điều kiện phát triển kinh tế. Nhưng khó khăn khách quan là một việc, còn khả năng lãnh đạo điều hành là yếu tố then chốt.
Chính vì vậy, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng không đồng ý đề xuất của Hà Giang, mà yêu cầu địa phương tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa thực hiện công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Hà Giang nên tiếp thu ý kiến của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, xây nền móng của chính quyền trong lòng dân. Đem lại cơm ăn, áo mặc, giảm được nhiều hộ nghèo là việc khẩn cấp hiện nay.
Nếu lo cho dân thực sự thì “nếm mật, nằm gai” để chiến thắng giặc nghèo, đừng vội xây 2 tòa nhà 12 tầng với tổng diện tích 30.000m2 trên một vùng đất mà người dân còn quá nghèo.
Nếu chưa thu hút được đầu tư, thì tổ chức lại bộ máy, sáp nhập các sở như Lào Cai đã làm, giảm bớt chi tiêu ngân sách. Việc này cần hơn vạn lần xây trụ sở. (Lao Động 31/7, tr2, Lê Thanh Phong)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Cần chính sách phù hợp
Sau 14 năm thực hiện Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (Đề án 922), Đà Nẵng đã cử 616 học viên đi đào tạo với kinh phí 680 tỷ đồng. Tuy nhiên, chỉ bố trí công tác có 460 người, còn 156 học viên không rõ đi đâu, tương đương số tiền 160 tỷ đồng. Đáng nói, trong số đó chỉ tuyển vào công chức, viên chức được 207 người. Con số này quá khiêm tốn so với kinh phí bỏ ra. Nhiều ý kiến băn khoăn: Nên tiếp tục duy trì đề án hay chấm dứt?
So với các chính sách khác, đây là sự đầu tư rất lớn của thành phố. Dù được đánh giá là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nhưng việc đào tạo nhân tài theo đề án đang tiềm ẩn những rủi ro không lường trước được. Nhiều học viên đã rời đề án sau khi học xong, thậm chí xin thôi việc sau khi đã bố trí việc làm. Trong khi đó, số tiền thành phố bỏ ra trên thực tế phải nhiều hơn con số 680 tỷ đồng. Bởi theo Bí thư Trương Quang Nghĩa thì “các em về nước, mỗi em phải bố trí căn hộ chung cư, cùng với rất nhiều chi phí khác. Nếu sòng phẳng ra thì phải đến 1.000 tỷ đồng”.
Đà Nẵng có tiền để cử người đi đào tạo là điều đáng quý, nhưng có công bằng không khi Nhà nước bỏ tiền ra để lo cho một nhóm người đi học; song về nước công việc bố trí cho nguồn nhân lực chất lượng cao chưa hợp lý, khiến nhiều người chưa sử dụng hết năng lực gây lãng phí chất xám? Hoặc trường hợp có tới 93 học viên xin và được thành phố cho rút ra khỏi đề án được lãnh đạo Sở Nội vụ TP Đà Nẵng cho biết “do không đạt kết quả học tập theo yêu cầu”. Nghĩa là khâu chọn lựa “người tài” ngay từ đầu đã không đúng chuẩn?
Thực tế hiệu quả của cơ chế cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước, chưa nói đến hiệu quả làm việc sau này của các học viên khi về nước sẽ phát huy ra sao, chỉ riêng chuyện thực hiện không đúng các thỏa thuận giữa Nhà nước và học viên như trên đã cho thấy không đạt như mong muốn. Tâm lý chung của cán bộ được cử đi đào tạo đều so sánh giữa thu nhập sau này và các chế độ đãi ngộ khác của nhà nước trả cho họ khi về nước với thu nhập khi làm việc cho các cơ quan, doanh nghiệp bên ngoài có sự chênh lệch quá lớn, thậm chí nếu ở lại nước ngoài thì còn cao hơn dẫn đến tư tưởng sẵn sàng bỏ việc, chấp nhận bồi thường…
Vô hình trung Nhà nước đã “nắm đằng lưỡi” khi tuyển dụng và cử cán bộ đi đào tạo kiểu này, bởi bỏ tiền ngân sách cho đi đào tạo, nhưng không biết có về làm việc hoặc làm việc có hiệu quả hay không, rồi lại phải theo đuổi kiện cáo để đòi lại tiền cho ngân sách cũng là cả chặng đường gian truân, trong khi đó các cơ quan nhà nước vẫn bị động về nguồn nhân lực, trông chờ ở cán bộ được đào tạo về để bố trí công tác nhưng muốn tuyển người làm thì lại hết chỉ tiêu…
Có lẽ, không chỉ riêng Đà Nẵng mà với nhiều địa phương khác, đề án phát triển nguồn nhân lực như hiện nay chưa thực sự phát huy hết vai trò. Đã đến lúc cần đặt câu chuyện thu hút hay đào tạo nhân tài, cái nào hiệu quả và tránh được rủi ro hơn để giải quyết vấn đề. Nếu như thực sự phát triển nguồn nhân lực, thì cách công bằng nhất là tạo cơ hội cho tất cả nhân tài của địa phương, thi thố tài năng công khai để chọn những người giỏi nhất. Phương án như Phó Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Viết Hùng đưa ra “khi có nhu cầu đào tạo thì chúng ta chọn người của chúng ta đi đào tạo hợp lý hơn là chọn sinh viên đi đào tạo” được nhiều chuyên gia đồng tình.
Từ thực tế đó, thiết nghĩ, cần mạnh dạn bỏ cơ chế dùng ngân sách nhà nước để cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài như hiện nay. Số tiền đó, hoàn toàn có thể sử dụng để cung cấp các chế độ đãi ngộ rất cao cho việc tuyển dụng nhân sự đã được đào tạo bên ngoài xã hội. Đà Nẵng chỉ cần tận dụng nguồn lực này, lựa chọn cho đúng, cho tốt, cho phù hợp với từng lĩnh vực, từng ngành nghề mình cần, không nhất thiết phải bỏ tiền ngân sách đào tạo thêm một đội ngũ cán bộ mới mà vẫn không làm được việc, vẫn phải bỏ ra đi. (Đại Biểu Nhân Dân 31/7, tr2, Chi An)Về đầu trang
Cải cách điều kiện kinh doanh: Bước đầu biến lời nói thành hành động
Sáng 31/7 Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức hội thảo Điểm lại pháp luật kinh doanh 6 tháng đầu năm 2018.
Phá biểu khai mạc hội thảo, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh, trung bình, mỗi năm các cơ quan nhà nước trung ương ban hành trên dưới 1.000 văn bản quy phạm pháp luật và khoảng 50% số văn bản này có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Trong đó, có từ 10-20 luật, khoảng 200 nghị định và quyết định của Thủ tướng, còn lại là thông tư của các bộ và cơ quan ngang bộ.
Mỗi văn bản đó lại có hàng chục, thậm chí hàng trăm quy định. Như vậy, chỉ trong vòng 6 tháng, chính quyền trung ương có thể đưa ra hàng chục ngàn quy định có tác động đến các doanh nghiệp, ông Lộc nói. "Tại Quốc hội tôi đã từng phát biểu con đường dài nhất Việt Nam không phải từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau mà là từ lời nói đến hành động", Chủ tịch VCCI phát biểu. Tuy nhiên, theo ông Lộc hai năm qua hành trình biến lời nói thành hành động đã được gia tốc.
Nhận định đáng chú ý tại báo cáo về pháp luật kinh doanh 6 tháng đầu năm nay của VCCI là trong 2 năm qua, có thể nhìn thấy rất rõ một xu hướng chung là thể chế kinh tế đang ngày càng theo hướng kinh tế thị trường, các rào cản kinh doanh, sự can thiệp quá mức của Nhà nước vào thị trường đang dần được gỡ bỏ.
Đây là dòng chảy xuyên suốt trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhiệm kỳ này, báo cáo của VCCI nhấn mạnh.
Theo báo cáo, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chính phủ mới đã thể hiện mạnh mẽ quan điểm thể chế kinh tế thị trường. Tuy nhiên, dường như việc chuyển các quan điểm này thành quy định pháp luật cụ thể còn khá hạn chế.
Nhưng, tình trạng nói trên đã có những dấu hiệu chuyển biến tích cực trong nửa đầu năm 2018, với khá nhiều các văn bản pháp luật đã được ban hành để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các văn bản ở cấp nghị định. Đây là những vấn đề đã được các bộ ngành xác định từ những năm trước, đã có kế hoạch và đưa ra dự thảo để lấy ý kiến từ đầu năm 2017, nhưng phải đến đầu năm 2018 mới có thể ban hành.
"Nói một cách lạc quan, có thể coi sáu tháng đầu năm 2018 là giai đoạn chứng kiến những bước đầu tiên của việc "biến lời nói thành hành động", VCCI nhận định. Và, biểu hiện ra bên ngoài của "các hành động" hiện thực hoá quyết tâm cải cách thể chế nửa năm qua dưới góc nhìn của VCCI là rất phong phú.
Đó có thể là những hành động "tấn công" trực diện vào những rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp (các điều kiện kinh doanh), đối với các sản phẩm cụ thể mà doanh nghiệp làm ra (các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa), hay đối với hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp (quyền tự chủ, tự do kinh doanh). Đó có thể là những hành động hướng tới việc giảm bớt gánh nặng quản lý hành chính Nhà nước dưới hình thức cải cách thủ tục hành chính hay cải cách quy trình quản lý quy hoạch ngành, vùng, địa bàn... Đó cũng có thể là hành động nhằm thúc đẩy cạnh tranh công bằng, đáng tin cậy và được bảo vệ bởi công lý thông qua việc minh bạch hóa các bản án của tòa án trong các vụ tranh chấp liên quan tới hoạt động kinh doanh, VCCI nhìn nhận.
Sau nhận định chung, báo cáo nêu một số ví dụ về những xu hướng "hành động cải cách thể chế" nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2018. Không thể không kể tới, theo VCCI, là những nghị định mới về điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ Công Thương, đặc biệt là các nghị định về kinh doanh khí và kinh doanh xuất khẩu gạo.
Cụ thể hơn, báo cáo cho biết, ngày 22/3/2016, Chính phủ ban hành nghị định 19/201/NĐ-CP về kinh doanh khí với kỳ vọng là sẽ chấn chỉnh hoạt động kinh doanh khí gas, giảm nguy cơ mất an toàn cháy nổ trong toàn bộ ngành khí đốt. Tuy nhiên, điều 9 của nghị định này lại yêu cầu các thương nhân phân phối khí đốt phải sở hữu ít nhất 100.000 bình gas và bồn chứa 300m3 thì mới được kinh doanh. Nghị định đưa ra thời hạn 2 năm để các doanh nghiệp phải tuân thủ quy định này.
Ngay khi vừa được ban hành, nghị định đã vấp phải những ý kiến không thuận từ một số doanh nghiệp gas nhỏ tại nhiều địa phương trên cả nước. Theo các doanh nghiệp, không chỉ gây lãng phí, quy định này còn có thể khiến nhiều doanh nghiệp đang kinh doanh bình thường bỗng dưng phá sản, hoặc phải bán lại tài sản của mình cho những doanh nghiệp lớn hơn với giá chỉ bằng một phần nhỏ vốn đã đầu tư.
Dù rất nhiều tuyên bố, lời hứa đã được đưa ra từ cuối năm 2016, nhưng phải mất đến 27 tháng, ngày 15/6/2018, nghị định 87/2018/NĐ-CP thay thế nghị định 19/2016/NĐ-CP về kinh doanh khí mới được ban hành, gỡ bỏ quy định về điều kiện kinh doanh về số lượng bình gas và dung tích bồn chứa.
Tương tự như nghị định 19 về kinh doanh khí, nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 4/11/2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo cũng có nhiều điều kiện kinh doanh ràng buộc quy mô kinh doanh vượt quá mức cần thiết. Điều 4 của nghị định yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải có kho ít nhất 5000 tấn, và có cơ sở xay xát thóc gạo công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ. Các điều kiện về quy mô này cản trở trực tiếp việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp nhỏ trong khi không rõ mục tiêu quản lý là gì (nếu quy mô thấp hơn thì ảnh hưởng gì tới lợi ích công cộng).
Trong năm 2017, Bộ Công Thương đã đăng tải công khai dự thảo nghị định thay thế nghị định 109 để lấy ý kiến doanh nghiệp. Dự thảo cũng đã đề xuất bãi bỏ tất cả những điều kiện kinh doanh phân biệt quy mô doanh nghiệp. nghị định này cũng đã được thẩm định tại Bộ Tư pháp từ cuối tháng 8/2017.
Mặc dù vậy, cho đến hết tháng 6/2018, không rõ vì lý do gì nghị định vẫn chưa được ban hành. Cộng đồng doanh nghiệp đang rất chờ đợi ở việc ban hành nghị định thay thế nghị định 109 để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, báo cáo nhấn mạnh. (Vneconomy.vn 31/7, Nguyên Vũ)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Trung Quốc kỷ luật hơn 36.000 quan chức trong nửa đầu năm 2018
Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Trung Quốc (CCDI) cho biết trong nửa đầu năm 2018, đã có 36.618 quan chức, trong đó có một quan chức cấp bộ, bị kỷ luật do vi phạm các quy định và điều lệ Đảng.
Theo phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh, trong một thông báo công bố ngày 30/7, CCDI nêu rõ các quan chức này đã dính líu vào 25.677 vụ việc, trong đó tội nhẹ phổ biến nhất là trao tặng tiền thưởng và trợ cấp trái phép, tiếp đến là tặng hoặc nhận quà và sử dụng các phương tiện công sai mục đích.
Theo CCDI, riêng trong tháng 6/2018, có 9.519 cán bộ dính líu tới 6.692 vụ việc đã bị kỷ luật.
Cuối năm 2012, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành bộ quy tắc 8 điểm nhằm giảm bớt các thói quen làm việc đáng trách và yêu cầu duy trì các mối quan hệ chặt chẽ với người dân.
Hiện CCDI sở hữu một cơ chế báo cáo hàng tháng về công tác thực thi các quy định trong các chính quyền cấp tỉnh, các cơ quan trung ương và chính phủ, các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức tài chính trung ương. (Thanh Tra 31/7)Về đầu trang./.
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/7/2018 (31/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 27/7/2018 (27/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 26/7/2018 (26/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 25/7/2018 (26/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 24/7/2018 (25/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/7/2018 (24/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 20/7/2018 (23/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/7/2018 (19/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/7/2018 (19/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/7/2018 (19/07/2018)

