Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 26/8/2019
1. Đề xuất bãi bỏ giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ
2. Lạng Sơn: Xử lý nghiêm kiểu giải quyết công việc “ban ơn” cho doanh nghiệp
3. Sóc Trăng: Giảm thủ tục hành chính, đáp ứng nhu cầu người dân tốt hơn
4. Cần Thơ sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế
5. Cần cơ chế quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử
6. Bộ Tư pháp có quyền cho phép khai thác dữ liệu hộ tịch điện tử để phục vụ quản lý
7. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương thanh tra kiểm tra thuế
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Công chức ứng xử chệch chuẩn
9. Cắt giảm điều kiện kinh doanh: Vẫn là “cuộc chiến” dai dẳng
10. Khi “công bộc” có thói quen đổ lỗi
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Đề xuất bãi bỏ giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ
Bộ Nội vụ đang tiến hành lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về công tác văn thư, trong đó bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến văn bản điện tử cũng như bãi bỏ nhiều loại văn bản hành chính như giấy đi đường, biên nhận hồ sơ...
Bộ Nội vụ cho biết, tại thời điểm năm 2004, Nghị định 110/2004/NĐ-CP quy định về công tác văn thư chủ yếu quy định đối với việc soạn thảo, ban hành văn bản, quản lý và sử dụng con dấu trên vật mang tin là giấy.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư ngày càng được đẩy mạnh.
Cho nên, tại dự thảo Nghị định sửa đổi, Bộ Nội vụ đề xuất quy định giá trị pháp lý của văn bản điện tử: Văn bản điện tử đã ký số theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy.
Đối với văn bản điện tử, bên cạnh 7 yếu tổ thể thức giống văn bản giấy (quốc hiệu, tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản, địa danh và ngày tháng năm ban hành văn bản, tên loại và trích yếu nội dung của văn bản, nội dung của văn bản, nơi nhận văn bản), văn bản điện tử còn có thêm 2 yếu tố thể thức là chữ ký số của cơ quan và chữ ký số của người có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, dự thảo đề xuất văn bản hành chính gồm các loại văn bản: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, báo cáo, biên bản, tờ trình, công văn, công điện, giấy uỷ quyền, giấy giới thiệu, giấy mời, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công.
Đối chiếu với văn bản hiện hành, có 10 loại văn bản hành chính được đề xuất bãi bỏ gồm: phương án, đề án, dự án, hợp đồng, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thỏa thuận, giấy chứng nhận, giấy đi đường, biên nhận hồ sơ... Dự thảo Nghị định về công tác văn thư sẽ được lấy ý kiến đến hết ngày 19-10-2019. (An Ninh Thủ Đô 25/8, An Nhiên) Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Lạng Sơn: Xử lý nghiêm kiểu giải quyết công việc “ban ơn” cho doanh nghiệp
Tỉnh Lạng Sơn kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp giải quyết công việc kiểu “ban ơn” của cơ quan hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp.
Tỉnh Lạng Sơn hiện có trên 2.800 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký gần 24.000 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục có bước tăng trưởng khá với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 2,6 tỷ USD, nộp ngân sách gần 350 tỷ đồng, chiếm 22% số thu nội địa toàn tỉnh.
Lạng Sơn hiện có 2.800 doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho 50.000 lao động địa phương và đóng góp hơn 20% thu nội địa toàn tỉnh. Tuy nhiên, hiện các doanh nghiệp và nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh vẫn gặp một số khó khăn về nguồn vốn, mặt bằng, thủ tục hành chính, công nghệ…
Ông Hồ Phi Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh Lạng Sơn cho rằng, trong sản xuất kinh doanh nói chung có 4 vấn đề chính là đất đai, tài chính, người lao động, công nghệ và các vấn đề phụ trợ như cải cách hành chính, đồng hành doanh nghiệp…
“Mong cơ quan quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Đồng thời cũng đề nghị cộng đồng doanh nghiệp nâng cao quản trị doanh nghiệp, kinh doanh đúng pháp luật, nâng cao và cải tiến quản trị, khởi nghiệp sáng tạo để giúp cho doanh nghiệp Lạng Sơn tiếp tục phát triển”, ông Dũng nêu ý kiến.
Từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành của tỉnh Lạng Sơn đã tiếp nhận hàng chục kiến nghị từ các doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính còn chậm, một bộ phận cán bộ công chức hành chính chuyên môn yếu, giải quyết công việc theo kiểu “ban ơn” khiến doanh nghiệp nản lòng...
Ông Phạm Ngọc Thưởng, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: Những kiến nghị của doanh nghiệp đều được cơ quan chức năng của tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết thấu đáo, triệt để.
“Chủ tịch UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho các sở ngành với một tinh thần quyết liệt hơn và có thời hạn, đúng theo tinh thần đồng hành, bình đẳng với nhau”, ông Thưởng cho hay.
Ông Thưởng cũng đề nghị các doanh nghiệp, Hiệp hội cần chủ động, kịp thời phản ánh tới lãnh đạo tỉnh những thông tin về các sở ngành, về những nội dung còn vướng mắc để từ đó tỉnh kịp thời giải quyết, xây dựng môi trường doanh nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cũng như kêu gọi xúc tiến đầu tư.
Tỉnh Lạng Sơn đang có nhiều động thái tích cực nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, tiếp tục xây dựng môi trường doanh nghiệp minh bạch, an toàn, hấp dẫn... hướng đến mục tiêu là vùng đất doanh nghiệp có thể đặt niềm tin và phát triển./. (VOVNews 25/8, Hoàng Khánh) Về đầu trang
Sóc Trăng: Giảm thủ tục hành chính, đáp ứng nhu cầu người dân tốt hơn
Với tinh thần “Vì nhân dân phục vụ”, Công an tỉnh Sóc Trăng tập trung giảm thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi đến làm việc; góp phần quan trọng cải cách hành chính (CCHC) trên địa bàn tỉnh.
Năm 2018, Công an tỉnh Sóc Trăng xếp thứ nhất khối các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và xếp thứ tư trên tổng số các sở, ngành và UBND cấp huyện về kết quả xếp hạng chỉ số CCHC...
Đến nay, Công an tỉnh Sóc Trăng giảm 25 TTHC (9 thủ tục trên lĩnh vực PCCC và 16 thủ tục trên lĩnh vực QLHC về TTXH) thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an tỉnh tiếp nhận hồ sơ tại Trung tâm, góp phần tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Kết quả giải quyết TTHC tại Trung tâm 6 tháng đầu năm 2019, Công an tỉnh Sóc Trăng được xếp loại xuất sắc; các chỉ số hài lòng về chất lượng phục vụ rất cao; chấm điểm cán bộ, công chức đạt điểm tuyệt đối (10/10).
“Nhằm giảm bớt thời gian chờ đợi nhận kết quả giải quyết TTHC cho người dân và doanh nghiệp, Giám đốc Công an tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định rút ngắn thời gian giải quyết TTHC đối với 38 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết trong Công an tỉnh so với quy định của pháp luật. Qua đó, mỗi thủ tục được rút ngắn từ 1-5 ngày, điều này đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Đây là bước đột phá so với các tỉnh, thể hiện sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành của người đứng đầu và cố gắng của CBCS, hướng tới xây dựng hình ảnh đẹp của lực lượng CAND, vì nhân dân phục vụ”, Đại tá Phạm Quốc Việt, Phó Giám đốc Công an tỉnh Sóc Trăng chia sẻ.
Nhằm giảm chi phí, thời gian đi lại cho người dân, Giám đốc Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị, Công an các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý Nhà nước nói chung, giải quyết TTHC nói riêng.
Cụ thể, triển khai, thực hiện có hiệu quả hệ thống khai báo tiếp nhận, quản lý thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài trên nền Internet tại 56 xã, phường, thị trấn; phối hợp với VNPT Sóc Trăng tổ chức tập huấn, triển khai hệ thống phần mềm quản lý lưu trú trực tuyến công dân Việt Nam, hiện đã triển khai 6/11 huyện, thị xã, thành phố, được nhân dân và doanh nghiệp, nhất là các cơ sở lưu trú ủng hộ, đánh giá cao. Tiến tới sẽ tiếp tục nhân rộng tại các địa phương còn lại.
Đến nay, Công an tỉnh Sóc Trăng đang quản lý, sử dụng 29 phần mềm trên nhiều lĩnh vực. Đẩy mạnh tiến độ thực hiện Đề án “Camera giám sát an ninh và TTATGT”. Từ giữa tháng 8-2019, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Sóc Trăng tổ chức triển khai thực hiện chương trình “Tờ khai điện tử đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông của công dân Việt nam”.
Đây là tỉnh đầu tiên trong khu vực ĐBSCL được Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) cho triển khai chương trình “Tờ khai điện tử đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông của công dân Việt Nam”. Đây là bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và hiệu quả công tác của lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh hướng đến mục tiêu giảm thời gian, giảm thủ tục và giảm chi phí cho người dân cũng như giảm áp lực cho cơ quan chức năng.
Về công tác đổi mới công tác kiểm tra; công khai minh bạch và đảm bảo thời hạn giải quyết TTHC, Công an tỉnh chỉ đạo Công an các đơn vị, các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh thực hiện nghiêm túc công tác giải quyết hồ sơ TTHC cho người dân và doanh nghiệp đảm bảo đúng quy định, không để xảy ra tồn đọng, trễ hẹn; niêm yết công khai, đầy đủ các quy định về hồ sơ, thủ tục, thời gian, phí và lệ phí tại các đơn vị, địa phương có giải quyết TTHC và trên cổng thông tin điện tử Công an tỉnh.
Đến nay chưa nhận được phản ánh, kiến nghị, tố cáo nào liên quan đến giải quyết TTHC; không có hồ sơ trễ hẹn người đứng đầu phải xin lỗi. Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên đề; rà soát các nội dung cần kiểm tra có liên quan đến doanh nghiệp thuộc thẩm quyền các đơn vị để có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, tránh gây phiền hà, cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo đó, Công an tỉnh đã đề xuất và ký Kế hoạch phối hợp liên ngành với Ban Quản lý các khu công nghiệp, Sở LĐ-TB&XH, Sở TN&MT, Sở KH&CN, Sở Xây dựng, Sở Y tế, Liên đoàn Lao động, Bảo hiểm xã hội... về kiểm tra doanh nghiệp trong Khu công nghiệp An Nghiệp; phê duyệt kế hoạch phối hợp kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện đảm bảo ANTT, PCCC tại các cơ sở hành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT...
Bên cạnh đó, Công an tỉnh Sóc Trăng tổ chức đối thoại, khảo sát mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn về giải quyết TTHC trên lĩnh vực QLHC về TTXH và PCCC thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an tỉnh.
Đại tá Lê Minh Quang, Giám đốc Công an tỉnh Sóc Trăng, cho biết: “Thời gian tới, Công an tỉnh Sóc Trăng tiếp tục phát huy kết quả đạt được, không ngừng nỗ lực, quyết tâm chung tay CCHC, lấy sự hài lòng và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn làm mục tiêu, góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc CCHC trong CAND”. (Công An Nhân Dân Online 24/8, V.Đức – C.Xuân) Về đầu trang
Cần Thơ sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế
Cần Thơ thực hiện thí điểm Trưởng ban Tổ chức cấp ủy đồng thời là Trưởng phòng Nội vụ; Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra đồng thời là Chánh Thanh tra; Trưởng Ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân...
TTXVN cho biết, nhờ thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW của Bộ Chính trị, đến nay, thành phố Cần Thơ đã bước đầu sắp xếp tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị, hoạt động có hiệu lực hiệu quả.
Theo Ban Tổ chức Thành ủy Cần Thơ, qua 4 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Trung ương, thành phố Cần Thơ đã tinh giản và cắt giảm 3.796 trường hợp, trong đó có 460 biên chế hành chính, 3.336 biên chế sự nghiệp, đạt 126,32% kế hoạch trong giai đoạn 2015-2021, giảm 14,22% so với biên chế phân bổ, sử dụng năm 2015 và 108 hợp đồng theo Nghị định số 68 của Chính phủ.
Đến nay, thành phố đã thực hiện xong chủ trương Trưởng Ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị tại 9/9 quận huyện; thực hiện thí điểm Trưởng ban Tổ chức cấp ủy đồng thời là Trưởng phòng Nội vụ của 2/9 quận huyện; Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra đồng thời là Chánh Thanh tra của 2/9 quận huyện; Trưởng Ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại 6/9 quận, huyện; Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp ủy tại 1/9 quận, huyện và 19/85 xã, phường, thị trấn…
Từ kết quả sắp xếp, đến nay, thành phố đã giảm được 3 đầu mối Đảng ủy trực thuộc Thành ủy, giảm 32 tổ chức cơ sở Đảng, 1 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, 45 Ban Chỉ đạo thành phố, 68 đơn vị cấp phòng, 1 lãnh đạo cấp huyện, 177 trưởng, phó phòng và tương đương, 988 cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, thành phố cũng đã sắp xếp, kiện toàn, giải thể giảm 40 đơn vị sự nghiệp, chuyển đổi 11 đơn vị sự nghiệp công lập sang loại hình tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên, giảm được 1.896 biên chế.
Sau khi sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, Ban Thường vụ Thành ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ phù hợp với đề án đã được phê duyệt, ban hành quy định, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu, giúp việc của Thành ủy. Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố triển khai đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp công lập, rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ các sở và các đơn vị sự nghiệp công lập đã được phê duyệt đề án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy.
Qua sắp xếp, hệ thống chính trị ở cơ sở,đã giảm được 908 người, chiếm 24,58%, trong đó giải quyết chính sách cho 509 người và bố trí công tác khác cho 399 người.
Theo ông Nguyễn Hoàng Ba, Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ, thời gian qua, thành phố tập trung xây dựng các đề án về sắp xếp bộ máy, tinh giảm biên chế. Sở Nội vụ phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Thành ủy để triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong đề án. Hiện các nhiệm vụ cơ bản đã được thực hiện, bước đầu đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Đến nay, thành phố đã thực hiện tinh giảm được 77% kế hoạch đối với biên chế hành chính và đã thực hiện tinh giảm đạt 139% kế hoạch đối với biên chế sự nghiệp. Đây là kết quả đáng phấn khởi trong sắp xếp bộ máy, tinh giảm biên chế. Dự kiến trong năm 2019, thành phố Cần Thơ sẽ hoàn thành đề án về sắp xếp bộ máy, tinh giảm biên chế.
Ông Nguyễn Hoàng Ba cũng chia sẻ: Khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện đề án sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế trên địa bàn thành phố Cần Thơ đó là giữa các quy định của Đảng và các Thông tư, Nghị định, Hướng dẫn của các bộ ngành còn nhiều vướng mắc, chưa đồng bộ... Thành phố Cần Thơ dự kiến đến năm 2020 cơ bản sẽ tổ chức bộ máy biên chế theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương, tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm được được đầu mối, giảm biên chế, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy và công chức, viên chức./. (Báo Chính phủ điện tử 25/8, Thu Hà) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Cần cơ chế quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua thương mại điện tử
Thương mại điện tử là xu hướng tất yếu trong giai đoạn phát triển công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) của các nước trên thế giới, Việt Nam cũng nằm trong xu thế này. Song hiện nay trong công tác quản lý vẫn chưa có quy định thủ tục hải quan riêng đối với hàng hóa XNK thông qua thương mại điện tử.
Tại hội nghị mới đây do Cục Hải quan Hà Nội tổ chức, Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Song Bình phản ánh về vấn đề hiện nay chưa có quy định về thủ tục hải quan đối với hàng hóa của các cá nhân NK thông qua giao dịch thương mại điện tử gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh, do đó, việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa NK qua hình thức này được thực hiện như thủ tục hải quan đối với hàng hóa thông thường. DN đề nghị Tổng cục Hải quan sớm ban hành quy định riêng về thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK, NK thông qua thương mại điện tử.
Vấn đề vướng mắc của DN cũng là thực tế chung, cấp bách trong thời điểm hiện nay, vì vậy, tại Quyết định 1254/QĐ-TTg của Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XK, NK và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018-2020 đã giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng “Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK”, với mục tiêu tìm được những giải pháp tốt nhất trong việc quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK.
Trong quản lý thương mại điện tử qua biên giới, những vấn đề mà cơ quan quản lý phải đối mặt cũng đã được Tổng cục Hải quan phân tích cụ thể đối với từng cơ quan có liên quan. Với cơ quan Hải quan, số lượng các lô hàng nhỏ, trị giá thấp tăng nhanh do vậy cần nguồn lực phù hợp để đảm bảo thời gian xử lý nhưng vẫn phải đảm bảo tốc độ thông quan nhanh của hàng hóa; thiếu thông tin, khai báo không chính xác, không có hồ sơ tuân thủ của người mua do người mua là các đối tượng không thường xuyên; khó khăn trong kiểm soát, ngăn chặn các hành vi vi phạm, gian lận thương mại….
Với các cơ quan quản lý hoạt động thương mại điện tử, số lượng các sàn giao dịch, trang bán hàng điện tử tăng với tốc độ cao nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn nếu không có các biện pháp quản lý cải tiến; kiểm soát việc hàng hóa xâm phạm về sở hữu trí tuệ, hàng giả, hàng nhái cũng là vấn đề khó khăn.
Với cơ quan quản lý chuyên ngành, hàng hóa của mỗi lô hàng có số lượng nhỏ vì vậy cơ quan kiểm tra chuyên ngành không đủ nguồn lực thực hiện việc kiểm tra; người mua hàng là người không có kiến thức sâu về hàng hóa cũng như kiến thức về kiểm tra chuyên ngành nên gặp nhiều khó khăn trong việc xin các loại giấy phép.
Với cơ quan quản lý về cơ chế thanh toán, bảo lãnh, số lượng sàn các giao dịch thanh toán lớn, cơ quan quản lý nhà nước không thể trong kiểm soát giao dịch nào thực hiện thanh toán cho đơn hàng nào, sự phù hợp giữa thực tế thanh toán với đơn hàng.
Trên thực tế, thương mại điện tử phát triển là tất yếu, vì vậy các cơ quan quản lý nhà nước cần có các quy định cụ thể để thực hiện việc quản lý. Tránh trường hợp các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử muốn thực hiện đúng quy định nhưng không có quy định để thực hiện. Mặc dù thời gian qua để đáp ứng nhu cầu quản lý hoạt động giao dịch thương mại điện tử, nhiều văn bản đã được ban hành, tuy nhiên các quy định chưa đầy đủ, đồng bộ nên các bên tham gia hoạt động thương mại điện tử còn gặp nhiều khó khăn.
Với đặc điểm nổi bật của thương mại điện tử xuyên biên giới là thời gian để đưa ra các giao dịch là rất nhanh, thuận tiện trong việc thanh toán, nhận hàng, do đó cơ quan quản lý cũng cần thay đổi theo hướng đơn giản, nhất quán, minh bạch, không phân biệt và tìm ra những biện pháp quản lý nhằm giải phóng nhanh hành hóa trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu về tuân thủ pháp luật.
Hiện nay, dự thảo Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK đang được Tổng cục Hải quan nghiên cứu để đề xuất giải pháp quản lý, xây dựng khung pháp lý cho hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK. Mục tiêu là đưa ra các giải pháp quản lý hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa XK, NK nhằm đảm bảo việc quản lý toàn diện của nhà nước trong lĩnh vực thương mại điện tử; nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo việc kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, tránh việc lợi dụng hoạt động thương mại điện tử để trốn thuế, vi phạm các chính sách mặt hàng, sở hữu trí tuệ, xuất xứ, vận chuyển hàng cấm vào Việt Nam và ngược lại. Bên cạnh đó, đề án cũng phải đưa ra giải pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại điện tử phát triển từ việc đơn giản thủ tục hải quan, thủ tục liên quan đến việc kiểm tra chuyên ngành, bảo vệ lợi ích của DN sản xuất, kinh doanh chân chính và người tiêu dùng Việt Nam. Dự thảo đề án hiện đang được Tổng cục lấy ý kiến các đơn vị hải quan địa phương và cơ quan có liên quan. Những vấn đề thực trạng vướng mắc trong công tác quản lý, kinh nghiệm các nước trên thế giới, giải pháp quản lý đã được đưa ra. (Hải Quan 25/8, N. Linh) Về đầu trang
Bộ Tư pháp có quyền cho phép khai thác dữ liệu hộ tịch điện tử để phục vụ quản lý
Thông tin được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử bao gồm: Các việc hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật; Các thông tin hộ tịch của cha, mẹ, vợ, chồng của cá nhân có sự biến động.
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến.
Để triển khai thực hiện Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, trong điều kiện còn nhiều hạn chế về nguồn lực, Bộ Tư pháp đã chủ động xây dựng và triển khai áp dụng từ thí điểm đến nhân rộng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung, có kết nối với phần mềm quản lý số định danh cá nhân để cấp số định danh cá nhân cho trẻ em được đăng ký khai sinh từ ngày 1-1-2016.
Trên toàn hệ thống đã có 14.035 người dùng là công chức tư pháp - hộ tịch tại 8.919 UBND cấp xã, 579 Phòng Tư pháp cấp huyện và 52 Sở Tư pháp cấp tỉnh tham gia tác nghiệp hàng ngày.
Dự thảo Nghị định nêu rõ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là Cơ sở dữ liệu điện tử chuyên ngành, gồm tập hợp thông tin hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật và lưu giữ theo cấu trúc, bằng thiết bị số, trong môi trường mạng, thông qua phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung thống nhất toàn quốc.
Thông tin được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử bao gồm: Các việc hộ tịch của cá nhân được đăng ký theo quy định pháp luật; Các thông tin hộ tịch của cha, mẹ, vợ, chồng của cá nhân có sự biến động do thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc; ghi vào sổ các thay đổi theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ghi vào sổ các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Đáng chú ý, cá nhân có quyền khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua việc thực hiện thủ tục “đề nghị cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch có thẩm quyền cấp trích lục hộ tịch, xác nhận thông tin hộ tịch”, với phạm vi khai thác chỉ là thông tin hộ tịch của chính cá nhân đó.
Cơ quan đăng ký hộ tịch có quyền khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua hình thức đăng ký hộ tịch bằng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch dùng chung; cấp trích lục hộ tịch; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch; tra cứu dữ liệu hộ tịch và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch theo quy định pháp luật, không phụ thuộc vào nơi đã đăng ký việc hộ tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu.
Cơ quan quản lý hộ tịch cấp tỉnh (Sở Tư pháp), Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, ngoài thẩm quyền như cơ quan đăng ký hộ tịch, còn có thẩm quyền xác nhận thông tin hộ tịch theo yêu cầu của cá nhân.
Riêng Bộ Tư pháp là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xem xét, cho phép cơ quan, tổ chức khác được khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước. Các yêu cầu khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử nhằm các mục đích khác (điều tra xã hội học, cung cấp dịch vụ ...) đều không được giải quyết. (Pháp Luật Xã Hội 25/8, H.L) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương thanh tra kiểm tra thuế
Để thanh tra, kiểm tra thuế ngày càng hiệu quả, bên cạnh việc tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, ngành Thuế đã liên tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quán triệt đội ngũ công chức làm công tác thanh tra thực hiện đúng quy định của pháp luật, tránh phiền hà, nhũng nhiễu doanh nghiệp.
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thuế, tính đến hết tháng 7, toàn ngành Thuế ước thực hiện được 42.784 cuộc thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế; thực hiện kiểm tra được 219.318 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế. Trên cơ sở đó, tổng số tiền kiến nghị xử lý qua thanh tra, kiểm tra ước đạt 24.237 tỷ đồng. Trong đó, tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 6.724 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 1.105 tỷ đồng; giảm lỗ là 16.406 tỷ đồng.
Đáng chú ý, đến hết tháng 7, ngành Thuế đã thanh tra 214 doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết. Từ đó, số tiền kiến nghị xử lý qua thanh tra là 6.748 tỷ đồng. Trong đó: Truy thu, truy hoàn và phạt 837 tỷ đồng; giảm lỗ 2.774 tỷ đồng; giảm khấu trừ 11 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 3.123 tỷ đồng. Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra xác định lại giá thị trường đối với giao dịch liên kết đã truy thu 236 tỷ đồng, giảm lỗ 1.088 tỷ đồng, điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 2.942 tỷ đồng.Năm 2019, theo kế hoạch, ngành Thuế phấn đấu thanh tra, kiểm tra đạt tối thiểu 19% số lượng doanh nghiệp thuộc diện quản lý thuế. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm, ngành Thuế đã có các biện pháp đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, thực hiện thanh tra theo trọng điểm các ngành có rủi ro cao về thuế và những sắc thuế có nguy cơ thất thu.
Tổng cục Thuế cũng liên tục yêu cầu các cục thuế tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong công tác thanh tra, kiểm tra. Theo đó, ngoài việc cơ quan Thuế phải đẩy mạnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng ngừa vi phạm, nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ và uy tín của người làm công tác thanh tra, kiểm tra, Tổng cục Thuế cũng chỉ đạo các cục thuế tổ chức quán triệt, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc việc chấp hành nghiêm quy định về những việc công chức, viên chức không được làm. Toàn ngành Thuế luôn thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.
Tổng cục Thuế cũng quán triệt các cục thuế thực hiện nghiêm pháp luật về công vụ, công chức, pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thực hiện nghiêm quy trình chuyên môn nghiệp vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường trách nhiệm, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức thanh tra trong thực thi công vụ, nhiệm vụ.
Đặc biệt, Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế thực hiện tốt quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, của công chức, viên chức thanh tra trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, trong thực hiện nhiệm vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc, tài sản công; cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm của từng công chức, viên chức…
Hiện, để công tác thanh tra, kiểm tra được minh bạch, hiệu quả, Tổng cục Thuế đang từng bước đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào áp dụng trong quá trình quản lý và thanh tra, kiểm tra thuế. Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng tiếp tục nâng cấp ứng dụng hỗ trợ thanh tra kiểm tra phục vụ công tác báo cáo, tổng hợp, giải quyết tố cáo; nâng cấp ứng dụng kiểm soát số lượng và chất lượng báo cáo tài chính; xây dựng và hoàn thiện một số quy chế, quy trình để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của công tác thanh tra, kiểm tra. Cùng với đó, ngoài việc áp dụng các ứng dụng công nghệ thông tin, ngành Thuế cũng đang chú trọng bổ sung nhân lực cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Tổng cục Thuế đã chỉ đạo các cục thuế huy động nguồn nhân lực tối đa cho thanh tra, kiểm tra. Các cục thuế lập kế hoạch triển khai cụ thể, giao việc và kiểm soát công việc của từng phòng, bộ phận. Hàng tháng, hàng quý, các đơn vị có đánh giá kết quả, với mục tiêu phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2019. (Hải Quan 25/8, Thùy Linh) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Công chức ứng xử chệch chuẩn
Những bộ quy tắc ứng xử của địa phương, của ngành được ban hành; những cuộc tổng kết cuối năm với kiểm điểm đạo đức được tổ chức, nhưng vẫn còn những công chức tát người thi hành công vụ, chửi bới mạt sát người khác, từ chối cấp giấy chứng tử cho kịp việc hiếu...
Nhà nghiên cứu văn hóa Lại Nguyên Ân rất bất bình với những lời rủa xả của nữ cán bộ Công an Q.Đống Đa (Hà Nội) Lê Thị Hiền đang lan tràn trên mạng. Theo ông, dù việc chửi bới, "động tay động chân" của nữ cán bộ này là hành động thiếu kiềm chế, cũng còn có lớp nghĩa khác nằm dưới những lời văng tục đó. “Chúng ta thấy một phụ nữ chửi bới rủa xả người phụ nữ khác là không lấy được chồng, rồi lấy chồng thì con tàn tật… thì đó cho thấy tâm địa chứ không chỉ là việc nói tục. Việc người này là cán bộ càng cho thấy vấn đề nặng nề thêm. Lớp nghĩa dưới của câu chửi nó cho thấy tâm địa, có những mong muốn rất tệ cho người khác”, ông Ân nói.
Nữ cán bộ công an mạt sát người, “đại náo” sân bay Tân Sơn Nhất
Vụ việc này cũng khiến ông Ân ngay lập tức nhớ đến vụ cán bộ từ chối cấp giấy chứng tử cho dân ở P.Văn Miếu (Q.Đống Đa, Hà Nội). Những vụ việc đó không chỉ cho thấy sự yếu kém về kỹ năng giao tiếp với người dân. Ông Ân phân tích: “Trong giao tiếp thì cán bộ công chức cần theo quy chế, ấy là tránh gây xúc phạm cho người dân. Việc nguyền rủa hay thấy việc nghĩa tử nghĩa tận mà không làm thì điều đó về ý thức. Cái tránh xúc phạm người dân cũng là thuộc về ý thức. Người ta phải thực sự tôn trọng người dân. Chẳng qua là mình thay mặt chính quyền để giải quyết cho họ thôi”.
Cũng theo ông Ân, các vụ việc xâu chuỗi cho thấy văn hóa ứng xử của cán bộ vẫn còn nhiều vấn đề. Trong khi đó, đã có nhiều bộ quy tắc, cũng như các quy định được ban hành. Chẳng hạn, Hà Nội có Bộ quy tắc ứng xử cho cán bộ công chức ban hành hồi năm 2017. Các ngành cũng có bộ quy tắc riêng. Chưa kể, ở cấp cao hơn, Thủ tướng cũng ký ban hành đề án Văn hóa công vụ, một trong các đề án thuộc Chương trình tổng thể cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Kèm theo đó là việc phát động, tuyên truyền thực hiện hằng năm. Chẳng hạn, Hà Nội có nhiều đợt tuyên truyền thực hiện Bộ quy tắc ứng xử của cán bộ công chức. Đã có khoảng 40 tọa đàm, hội thi được tổ chức, như Hội thi tuyên truyền Quy tắc ứng xử nơi công cộng TP.Hà Nội. TP cũng tổ chức cuộc thi ảnh Người Hà Nội ứng xử văn minh thanh lịch, giải báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội. Khoảng 3.000 bộ tài liệu tuyên truyền cũng đã được in và phát.
PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia, cho rằng nếu liên tiếp có những vụ việc như cán bộ công chức mạt sát người, hay cán bộ bị dừng xe còn tát cả người thi hành công vụ thì có thể chất lượng soạn thảo quy tắc ứng xử có vấn đề. “Nếu bộ quy tắc được soạn thảo quá dài dòng, quá hình thức thì nó cũng khó phù hợp thực tế. Chúng ta nhớ Bác Hồ rất coi trọng nguyên tắc đạo đức từng ngành, nhưng quy tắc Bác đưa ra rất dễ hiểu, dễ áp dụng. Nên điều đầu tiên là rà xem các bộ quy tắc nêu trên đã đủ ngắn gọn dễ hiểu dễ thực hiện chưa”, ông Sơn nói.
Ông Sơn cũng đặt vấn đề về các chế tài trong quy định hiện hành về văn hóa ứng xử, đó là: “Các chế tài xử phạt không rõ ràng, nên dẫn đến người ta khó xử phạt. Không biết ai xử phạt, không biết xử phạt ai, không biết xử phạt thế nào. Hay mức độ xử phạt quá nhẹ, thì việc xử phạt thành chủ đề hài hước trong xã hội. Nhiều vi phạm rất khủng khiếp mà chỉ phạt 200.000 đồng, người ta cứ nói trong túi tôi có tờ 200.000 là vì thế”.
Ông Lại Nguyên Ân cho rằng nên tăng hình phạt và bổ sung hình phạt. Theo ông Ân, cán bộ công chức còn không thực hiện quy định vì mình chưa rà soát và áp dụng nghiêm pháp luật. “Chúng ta thấy cán bộ cũng dễ bỏ qua cho nhau. Nếu không có người đăng clip về cô cán bộ công an thì rồi cô ấy cũng không làm sao cả. Như thế cũng do không nghiêm từ sân bay. Không nghiêm thì dần dần cán bộ sẽ theo chiều hướng xấu”, ông Ân nêu quan điểm. Ông Sơn cũng đồng ý với ý kiến này và theo ông: “Nên tăng các hình thức xử phạt vi phạm mang tính nêu gương, như lao động công ích”.
PGS-TS Bùi Hoài Sơn cũng nói tới việc tổng kết, kiểm điểm cuối năm hiện nay ở các công sở còn chung chung, hình thức dù cũng có đề cập đến lối sống, ứng xử của từng cá nhân. Ông Sơn cũng cho rằng, việc làm gương của cán bộ cần phải được đẩy mạnh hơn thì mới tăng văn hóa công chức, viên chức được. “Những vụ việc liên tiếp là bài học cho đội ngũ công chức ý thức hơn về vai trò trong xã hội. Họ cần chú ý hành vi của mình không chỉ ở nơi làm việc mà cả ở nơi khác nữa. Phải ý thức hơn về vai trò vị trí làm gương của mình”, ông Sơn nói. (Thanh Niên 25/8, Trinh Nguyễn) Về đầu trang
Cắt giảm điều kiện kinh doanh: Vẫn là “cuộc chiến” dai dẳng
Rất khó có thể khẳng định thời điểm “cuộc chiến” cắt giảm điều kiện kinh doanh sẽ kết thúc. Vì đến nay, cuộc chiến ấy vẫn tiếp diễn khi việc cắt giảm điều kiện kinh doanh vô lý, trái luật thực sự không đơn giản như nhiều người nghĩ. Quyết tâm chính trị từ lãnh đạo thì không thiếu, nhưng những hành động tương đương với quyết tâm ấy lại không nhiều. Hôm 21/8, 14 Bộ, nhiều chuyên gia, cơ quan phản biện độc lập đã mất cả một buổi sáng tại Văn phòng Chính phủ chỉ để thống nhất với nhau rằng: “vẫn còn nợ đọng văn bản và việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành cần phải thực chất hơn”. Nhưng sự thống nhất này dường như chưa cụ thể khi vẫn còn đó những điều kiện kinh doanh theo kiểu chung chung, khó thực hiện và trở thành kẽ hở cho nhũng nhiễu, tiêu cực chưa được điểm mặt đặt tên một cách dứt khoát.
Đại diện 14 Bộ dường như vẫn nặng về báo cáo thành tích và “chống chế” hơn là đề ra được một chương trình, kế hoạch cụ thể. Thực ra, ai cũng biết rằng, cắt giảm được một điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành vô lý thì người dân và doanh nghiệp sẽ “dễ thở” đến thế nào. Những báo cáo mà 14 Bộ ấy trình bày có điểm chung rằng: khi một điều kiện kinh doanh, thủ tục chuyên ngành được cắt giảm thì cũng đồng nghĩa với việc tiền bạc, thời gian của người dân, doanh nghiệp được tiết kiệm, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển. Cũng có nghĩa là, cơ hội kinh doanh sẽ được tận dụng tốt hơn.
Có những Bộ báo cáo rằng: việc cắt giảm điều kiện kinh doanh của họ đã tiết kiệm được hàng triệu ngày công, tương đương với hàng nghìn tỷ đồng. Vậy mà không hiểu tại sao cho đến nay, dù lợi ích mang lại cho cả nền kinh tế là rất rõ như vậy mà cắt giảm điều kiện kinh doanh vẫn mãi là một… cuộc chiến khiến cho nhiều bên phải đau khổ, đoạn trường. Bước đường kinh doanh của doanh nghiệp ngoài việc “chiến đấu” trên thương trường thì còn phải dành khá nhiều nguồn lực “chiến đấu” với những điều kiện kinh doanh vô lý.
Thì vẫn có những kết quả được ngợi ca, vẫn có những con số được đôn lên như một thành tích. Nhưng những khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hay Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vẫn hiển hiện một sự thật rằng: doanh nghiệp, người dân vẫn phải gặp rắc rối với biết bao nhiêu thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Hệ quả là ngay cả chi phí ngầm, chi phí cơ hội dù có dấu hiệu giảm đi vẫn ngốn của doanh nghiệp và người dân những nguồn lực mà lẽ ra nếu được dành cho phát triển sẽ đưa đất nước này đến những thành tựu thật sự.
Cứ như một quán tính, có Bộ còn cho rằng nếu cắt giảm điều kiện kinh doanh thì có thể xã hội sẽ không được cung cấp những dịch vụ tốt. Có lẽ cơ quan này quên mất rằng: quy luật cạnh tranh và sự chọn lọc của thị trường sẽ mang đến cho người dân những dịch vụ tốt như các nước phát triển vẫn làm. Vẫn có những tư duy cũ kỹ khi cho rằng: nếu cắt giảm điều kiện kinh doanh thì thị trường sẽ loạn, nước ngoài sẽ vào chiếm lĩnh thị trường. Có lẽ cơ quan này đã quên mất rằng: khi các điều kiện kinh doanh bị giảm đi thì đồng nghĩa với việc sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được tăng lên, đồng nghĩa với việc sức khỏe của nền kinh tế sẽ bền vững.
Đương nhiên, bảo vệ người tiêu dùng, duy trì trật tự, đạo đức xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng là một mục tiêu chung. Nhưng sự thật là người tiêu dùng chỉ được bảo vệ khi các điều kiện kinh doanh không làm cho doanh nghiệp suy yếu. Trật tự, đạo đức xã hội chỉ được duy trì và nâng cao khi điều kiện kinh doanh không làm mất đi tính cạnh tranh và tạo ra sự độc quyền cho những sân sau, bình phong hoặc lợi ích nhóm. Điều kiện kinh doanh chỉ có thể góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng khi nó thực sự nhắm vào lợi ích chung là sự lớn mạnh của doanh nghiệp, sự bình đẳng của thị trường và được triển khai nghiêm minh.
Tăng cường quản lý nhà nước là điều cần thiết, nhưng nó không thể là lý do để kìm hãm sự phát triển bằng cách đặt ra các điều kiện kinh doanh tù mù khiến doanh nghiệp và người dân không thể tiên lượng. Tăng cường quản lý nhà nước là cần thiết nhưng đây không phải là lý do để bao biện cho việc không cắt giảm, không công khai phương án cắt giảm hoặc để những dữ liệu doanh nghiệp thuộc ngành mình nằm riêng ở một ốc đảo, không cho vào hệ thống chung của quốc gia.
Đã đành, rủi ro của thị trường, của sản xuất, kinh doanh đối với người tiêu dùng và quốc gia là không thể không tránh. Nhưng nếu dùng lý do này để ban hành những điều kiện kinh doanh đánh cả vào cộng đồng doanh nghiệp là điều không thể chấp nhận. Đây đó vẫn cố gắng níu giữ tư duy “chọn cho” thay vì “chọn bỏ”.
Trong khi đó, “quyền anh quyền tôi” vẫn là một thực tế trong xây dựng không chỉ chính sách kinh doanh.
Xét cho đến cùng, vấn đề cắt giảm điều kiện kinh doanh vô lý không thể tùy nghi, nhưng cũng không thể để nó dai dẳng khiến cho những cuộc họp về vấn đề này không đi đến tận cùng bản chất. Phải có một quyết sách cắt giảm điều kiện kinh doanh dựa vào những tiêu chí cụ thể như đã chỉ ra chứ không phải chỉ căn cứ vào số lượng như được tiến hành thời gian qua. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 25/8, Đại Dương) Về đầu trang
Khi “công bộc” có thói quen đổ lỗi
Văn bản sai là do đánh máy, thủy điện vỡ, xả lũ bừa bãi hay không hoạt động là do thiên tai, quy định ban hành sai là do người soạn thảo thiếu năng lực…
Có lẽ, không đâu như ở ta, người cán bộ cơ quan công quyền lại có nhiều lý do cho cái sai của mình đến vậy, kể cả những lý do đầy ngớ ngẩn làm trò cười cho người dân.
“Lỗi đánh máy” đáng ra là một cụm từ mang tính kĩ thuật, thế nhưng từ bấy lâu nay đã trở nên quen thuộc được sử dụng khi một văn bản ban hành có sai sót, sai phạm hoặc dư luận phản ứng. Mức độ sử dụng liên tục của cụm này cho thấy sự đáng buồn trong văn hóa nhận trách nhiệm - phủi trách nhiệm nói chung.
Với cơ quan công quyền, đây là cụm từ rất quen thuộc được dùng để giải thích cho những cái sai khi công bố văn bản. Có cảm giác như có trách nhiệm đánh văn bản trong các cơ quan nhà nước của chúng ta dường như là những người đãng trí nhất thế giới, khi lỗi đánh máy liên tục xảy ra, từ lớn đến nhỏ, từ vô thưởng vô phạt đến nghiêm trọng, từ gây cười đến... cười ra nước mắt.
Thi thoảng, người ta lại thấy người dân phải “nhảy dựng” vì một văn bản đưa ra. Ví như cách đây vài năm, một thông tư của Bộ Tài nguyên - Môi trường làm người dân hốt hoảng vì sợ phải phải ghi hết tất cả thành viên trong gia đình vào số đỏ.
Ngay sau sự phản ứng của người dân, Bộ này lập tức chỉnh sửa lại và giải thích do đánh máy không rõ khiến người dân hiểu lầm. Hay năm rồi, ở Thanh Hóa, kết quả thi công chức của một vài người cao bất thường từ rớt thành đậu, bị đặt nghi vấn, cũng được giải thích là do… đánh máy.
Rồi tại một vài bệnh viện nọ, chả biết lỗi đánh máy thế nào mà bệnh nhân nam được chẩn đoán u xơ tử cung, bệnh nhân nữ thì rối loạn cương dương, rồi ra đủ thứ kết quả chữa trị loạn xạ làm bệnh nhân hãi hùng. Chuyện khiến người dân “giật mình” từ lỗi đánh máy thì đều đều, năm nào cũng có từ vài đến vài mươi vụ. Năm nay cũng thế, lại cũng đến hẹn lỗi đánh máy xuất hiện, từ thành phố lớn đến tỉnh lẻ, huyện lỵ xa xôi. Từ y tế đến giáo dục, quản lý nhà nước...
Hay như Nghị quyết 01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của tòa. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 11/1/2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2019.
Tuy nhiên, theo TAND Tối cao, do sơ suất trong lỗi đánh máy, soát xét nên Nghị quyết 01/2019 có sai sót về kỹ thuật, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Thông báo 15/HĐTP để đính chính nghị quyết này.
Bộ Tư pháp từng đưa ra một con số, có khoảng 20% văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành nhưng vi hiến, trái luật. Nhưng không ít trong số đó đã được cơ quan có trách nhiệm giải thích nguyên nhân sai là do sơ suất khâu đánh máy.
Như vậy, có vẻ như người quan trọng nhất để mọi văn bản nhà nước được ban hành trơn tru không phải là người lãnh đạo hay người phụ trách chuyên môn mà chính là người đánh máy. Người đánh máy cũng được xem là những kẻ “thích” đánh sai, sửa ý của cấp trên khi các văn bản đến tay họ thường xuyên bị biến ý, đổi từ, gây ra nhiều sai lệch hay bức xúc cho người dân.
1001 lỗi đều từ đánh mà ra và dường như cơ quan nào cũng nên có sẵn một đánh máy để sẵn sàng nhận lỗi khi văn bản bị sai (!). Nếu như với nhiều cơ quan công quyền, lỗi do đánh máy là một cụm từ quen thuộc để giải thích, để đưa nguyên nhân lỗi sai, thì với người dân, giờ đây, “lỗi đánh máy” đã trở thành cụm từ mang tính châm biếm cao. Khi người dân nhắc đến “lỗi đánh máy”, nghĩa là họ nghĩ đến sự giải thích, chống chế một cách thô vụng, trơ trẽn.
Trong ban hành văn bản thì có lỗi đánh máy, còn trong các lĩnh vực khác, cũng có hàng loạt cách chống chế tương tự như thế. Một khi những “lỗi đánh máy” thành lý do phổ biến để “cứu” người sai, và cán bộ gây lỗi vẫn ung dung “thoát hiểm” sau khi đưa ra “lỗi đánh máy”, thì đây cũng có thể là mô hình được các cán bộ thiếu trách nhiệm sử dụng trong nhiều trường hợp khác.
Ví như “đánh trống lảng”, hay “trùng hợp”, “nguyên nhân khách quan”...vv và vv. Như câu chuyện xả lũ. Cứ đến hẹn lại lên, thời điểm nào lũ lớn về thì người dân trong một số vùng có đập thủy điện lại tang thương, lao đao vì vấn đề xả lũ. Người ta xả lũ vô tội vạ, xả lũ bất ngờ, bất chấp sinh mạng, tài sản, đường sinh sống của người dân vùng lũ.
Thế rồi đợt lũ nào cũng thế, cũng sẽ có những điệp khúc quen thuộc “xả lũ là cần thiết” diễn ra. Người ta đổ thừa cho thiên tai, đổ thừa cho biến đổi khí hậu, cho hồ dung tích không đủ so với lượng nước từ trời đổ xuống.
Những nhà đầu tư, những đơn vị chủ quản chống chế tới cùng, cho đến lúc bị khởi tố thì thôi. Trong khi đó, hàng trăm sinh mạng, hàng trăm ngôi nhà, hàng chục tỉ, trăm tỉ tài sản của người dân ra đi chỉ sau một động thái xả lũ bừa bãi không kế hoạch, thì họ chẳng may may áy náy, xin lỗi lấy một lời.
Như chủ sở hữu Nhà máy thủy điện Sử Pán 1, nơi diễn ra vụ xả lũ kinh hoàng đêm 24/6 khiến nhiều người dân rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”, mất mạng chỉ trả lời đơn giản một câu đầy vô cảm: “Nhà máy thuỷ điện cần làm để chống vỡ đập. Lúc đó, vào 3h sáng nên chúng tôi không thể kịp thông báo với người dân cũng như chính quyền.
Chúng tôi chỉ quyên góp ủng hộ bà con theo sự kêu gọi của lãnh đạo tỉnh và UBND huyện. Còn đền bù và khắc phục hậu quả, chúng tôi không phải trực tiếp gây ra lũ. Nếu không xả mưa bà con vẫn bị lũ”.
Hay giải thích cho việc van cửa xả hồ thủy điện Đắk Kar không hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng trong trận lũ vừa qua tại Tây Nguyên, Giám đốc Công ty CP Thủy điện Đắk Kar cho rằng, nguyên nhân vì hồ mới, chưa vận hành nên nhiều cây củi, cây gỗ trôi về kẹt vào phay tràn khiến cửa van không nâng lên được!
Chuyện thủy điện đã vậy, những câu chuyện trong các lĩnh vực khác cũng chẳng khác là mấy. Như chuyện một vị Bộ trưởng, sau khi ban hành một văn bản quy định nữ sinh viên không được phép bán dâm… quá 4 lần, khi bị chỉ trích mạnh mẽ, đã đổ lỗi cho… người soạn thảo văn bản có năng lực hạn chế.
Rồi những câu chuyện, lý do cười ra nước mắt, khi các vị quan chức cấp xã, huyện bị phát hiện có hành vi vi phạm đạo đức, cùng vợ người khác trong nhà nghỉ, thì vị nào cũng như vị nấy, giải thích do trúng gió, do mệt, phải vào nhà nghỉ nói chuyện…
Dường như, cho dù chả ai tin, cho dù bị chỉ trích, bị chế giễu vì những đổ lỗi, những lý do quá ngớ ngẩn, thì nhiều bậc lãnh đạo của các cơ quan vẫn cho rằng, thà thế vẫn còn hơn đứng ra nhận trách nhiệm về mình. Nguyên nhân của thói quen đổ lỗi này chính là sự thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu lòng dũng cảm, thậm chí thiếu cả tự trọng đã ăn sâu vào trong tâm thế của một số cán bộ cơ quan công quyền.
Nhận sai, nghĩa là tạo cơ hội cho người ta chỉ trích; nhận sai, nghĩa là bị công kích, bị cảnh cáo, có nguy cơ chiếc ghế bị lung lay. Nguyên nhân sâu xa cũng là do tâm thế của nhiều cán bộ, làm cán bộ là để nhận bổng lộc chứ không phải để phục vụ dân, xảy ra chuyện gì, thà dân cười, dân chê, thà mặt dày đưa ra lý do trẻ con chả thèm tin, cũng cố thủ bảo vệ ghế.
Thi thoảng người ta lại đọc cái tin, lãnh đạo ban ngành, địa phương của một nước phát triển nào đó từ chức vì lỗi lầm từ thuộc cấp, từ khách quan hay lỗi bản thân mình. Sự việc xảy ra, họ ngay lập tức nhận lỗi về mình, từ chức và cúi đầu xin lỗi dân.
Ở ta, chỉ đơn giản là chuyện cái văn bản ban hành, số cán bộ chủ động nhận lỗi khi sai không phải không có, những hiếm hoi như sao giữa ban ngày. Phải chăng, văn hóa nhận trách nhiệm, nhận lỗi của chúng ta đang “hổng” từ nền tảng?
Chỉ khi nào người cán bộ dám mạnh dạn và thẳng thắn nhận lỗi của mình chứ không đổ lỗi loanh quanh; Chỉ khi nào nhận trách nhiệm, nhận lỗi về mình trở thành một tâm thế, một thói quen hành xử… thì khi ấy, người dân mới có niềm tin hoàn toàn vào cơ quan công quyền và xa hơn, là đất nước mới có thể vững, mạnh đúng như tiềm lực của mình. (Phapluatplus.vn 25/8, N.M) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/8/2019 (23/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/8/2019 (22/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 21/8/2019 (21/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 20/8/2019 (20/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/8/2019 (19/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/8/2019 (16/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/8/2019 (15/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 14/8/2019 (14/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 13/8/2019 (13/08/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/8/2019 (12/08/2019)

