Bản tin cải cách hành chính ngày 26/11/2019

16:27, Thứ Ba, 26-11-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Cán bộ, công chức đã nghỉ vẫn bị kỷ luật nếu có vi phạm

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Quảng Nam: Nhiều sở trễ hạn hồ sơ phớt lờ xin lỗi dân

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

3. Công chức chây ỳ đến mấy cũng khó bị đuổi việc vì luật

4. 2172 cán bộ công chức của 30 đơn vị sẽ được đánh giá năng lực trong năm 2019

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Ngành Tài chính tiếp tục 'ghi điểm' về cải cách thủ tục hành chính

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Bỏ biên chế suốt đời: Ai mừng, ai lo?

7. Khi nào hết phát sinh thủ tục?

TIN THẾ GIỚI

8. ASEAN-Hàn Quốc chia sẻ kinh nghiệm đổi mới dịch vụ công

9. Thủ tướng Israel không bị buộc từ chức sau cáo buộc tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Cán bộ, công chức đã nghỉ vẫn bị kỷ luật nếu có vi phạm

Chiều 25/11, với 88,2% đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Luật quy định rõ việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.

Theo đó, mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật. Việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác trước ngày 1/7/2020 được thực hiện theo quy định của Luật này. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Trước đó, với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội cũng thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam./. (Truyền hình Thông tấn ngày 25/11) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Nam: Nhiều sở trễ hạn hồ sơ phớt lờ xin lỗi dân

Dù UBND tỉnh Quảng Nam yêu cầu các đơn vị phải xin lỗi khi chậm giải quyết hồ sơ của tổ chức, cá nhân nhưng nhiều sở ngành phớt lờ.

Theo báo cáo của Trung tâm Hành chính công và Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Nam, trong 11 tháng đầu năm nay, có tổng cộng 1.052 hồ sơ của các đơn vị, sở ngành trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trễ hạn so với quy định (chiếm 1,5% hồ sơ giải quyết).

Dù UBND tỉnh Quảng Nam yêu cầu các sở ngành phải công khai xin lỗi đối với các hồ sơ trễ hạn nhưng đến ngày 15-11, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam và Ban quản lý Khu Kinh tế mở Chu Lai vẫn chưa thực hiện.

Trong đó, Sở Tài nguyên và Môi trường có tổng cộng 143 hồ sơ trễ hạn, chủ yếu thuộc lĩnh vực đất đai và bảo vệ môi trường. Những hồ sơ trễ hạn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan của sở trong xử lý hồ sơ. Đáng chú ý, có nhiều trường hợp các tổ chức đề nghị trả hồ sơ nhiều lần nhưng không được sở này giải đáp.

Tương tự, Sở Xây dựng có tổng cộng 254 hồ sơ trễ hạn và đều không có thông báo trễ hạn và thư xin lỗi đến tổ chức, cá nhân để biết. Sở Kế hoạch và Đầu tư có tổng cộng 12 hồ sơ trễ hạn, chủ yếu là các hồ sơ thuộc lĩnh vực thẩm định dự án nhưng chưa có thư xin lỗi. Ban Quản lý Khu Kinh tế mở Chu Lai có tổng cộng 17 hồ sơ trễ hạn và cũng chưa thực hiện việc xin lỗi. (Nld.com.vn 26/11, Tr.Thường) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Công chức chây ỳ đến mấy cũng khó bị đuổi việc vì luật

Luật Cán bộ, công chức sau hơn 10 năm triển khai đã cho thấy một số vấn đề mà Luật quy định không mang lại tác dụng mong muốn, khó triển khai.

Luật Cán bộ, công chức (CBCC) với hơn 10 năm triển khai đã thực sự góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC theo hướng nâng cao năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và phục vụ nhân dân.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành luật đã cho thấy một số vấn đề mà luật quy định không mang lại tác dụng mong muốn, khó triển khai và cần nghiên cứu sửa đổi.

Điều 4 của Luật CBCC khi xác định ai là CBCC nêu một dấu hiện đó là: "Trong biên chế”. Với quy định này, mặc nhiên Luật đã gắn việc vào được cơ quan hành chính nhà nước, vào được biên chế là khó có thể ra, là hưởng chế định công chức suốt đời.

Chế định công chức suốt đời đang gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý và sử dụng công chức. Có thể nói quy định như vậy là trói tay cơ quan quản lý CBCC. Về phía cá nhân người công chức, họ sẽ yên tâm không sợ phải thôi việc, ra khỏi biên chế, ra khỏi bộ máy.

Động lực làm việc và nâng cao trình độ, năng lực hầu như không có ở những công chức này. Họ làm việc cầm chừng, chỉ vừa đủ để tránh không rơi vào tình trạng 2 năm liền không hoàn thành nhiệm vụ để bị buộc thôi việc. Về phía cơ quan, tổ chức cũng khó có thể làm gì để buộc những công chức này phấn đấu vươn lên…

Chế định công chức suốt đời vốn tồn tại rất lâu trong hệ thống công vụ các nước, có lịch sử gắn với sự tồn tại và phát triển của các nhà nước, kể cả nhà nước phong kiến.

Đến thời điểm hiện tại, một số nước thông qua cải cách công chức, công vụ đã xóa bỏ chế định này để chuyển sang chế định hợp đồng làm việc.

Ở nước ta, đã đến lúc nghiên cứu bỏ chế định này, chuyển sang chế định hợp đồng làm việc giống như đã áp dụng với viên chức.

Chế định vị trí việc làm (VTVL) được quy định trong Luật CBCC, sau đó được Nghị định số 36/2013 của Chính phủ và Thông tư số 05/2013 của Bộ Nội Vụ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành.

Đại thể, nếu thực hiện đúng các quy định này thì sau đó sẽ có kết quả như sau: ra số lượng VTVL, biên chế, cơ cấu ngạch công chức của một cơ quan, bản mô tả công việc của từng VTVL và bản khung năng lực ứng với từng VTVL.

Trên cơ sở đó là câu chuyện quản lý và sử dụng công chức từ tuyển dụng theo VTVL, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng…

Điều đáng tiếc là cả hệ thống hành chính triển khai việc này chỉ là hình thức, không thực chất. Do đó, việc quản lý, sử dụng công chức về cơ bản chưa có sự chuyển biến thực sự.

Đây thật sự là một điều đáng tiếc của Luật CBCC và các văn bản hướng dẫn, vì VTVL là một chế định mang tính cách mạng nếu được áp dụng đúng và chuẩn vào hệ thống hành chính nước ta sẽ khắc phục được khá nhiều bất cập lâu nay như xác định số lượng biên chế hành chính chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, cơ chế xin - cho trong phân bổ biên chế và chỉ tiêu thi nâng ngạch…

Chưa bao giờ đội ngũ CBCCVC nước ta lại nhiều bằng cấp, chứng chỉ như bây giờ. Gốc của vấn đề này nằm ở quy định về tiêu chuẩn chức danh CBCCVC.

Trong các nguyên tắc quản lý CBCC tại Điều 5 của Luật CBCC có nêu nguyên tắc kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Chỉ từ 1 quy định ngắn gọn như vậy của Luật nhưng trong thực tế đã sinh ra biết bao tiêu chuẩn của công chức. Tiêu chuẩn về chuyên môn, chính trị, ngoại ngữ, tin học…

Ngần ấy chứng chỉ lại nhân lên với ít nhất 3 mức độ là tiêu chuẩn chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp cho nên nếu một đời công chức lúc về hưu là chuyên viên cao cấp thì sẽ có rất nhiều văn bằng, chứng chỉ đi kèm. Mà điều quan trọng là nhiều tiêu chuẩn đã không còn phù hợp nhưng vẫn chưa có sự thay đổi.

Ví dụ về tiêu chuẩn ngoại ngữ: Đây là 1 trong các vấn đề ĐBQH chất vấn Bộ trưởng Nội Vụ. Bộ trưởng NV thừa nhận có quá nhiều bằng cấp, chứng chỉ và đề xuất sau này không cần chứng chỉ ngoại ngữ mà xin mời ứng viên vào thi luôn trên máy. Trình độ ngoại ngữ đến đâu là biết ngay. Kế đến, ông đề xuất sau này cấp vụ ở trung ương là phải thi ngoại ngữ hết.

Hướng giải quyết câu chuyện ngoại ngữ như vậy quả thực là chưa căn cơ, thậm chí còn rất dở dang. Thi trên máy hay thi theo kiểu truyền thống chỉ là phương thức để kiểm tra mà thôi. Thay đổi phương thức không giải quyết gốc rễ của vấn đề. Vấn đề nằm ở chính cái tiêu chuẩn ngoại ngữ mà CBCC phải có.

Theo quy định thì chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và tương ứng là viên chức đều phải có ngoại ngữ. Tất nhiên ngạch càng cao thì tiêu chuẩn càng cao hơn. Mà tiêu chuẩn này ban hành đã khá lâu, không sửa đổi.

Khái quát có thể nói 80% công chức địa phương và 70% công chức TƯ không đủ trình độ ngoại ngữ để dự thi nâng ngạch. Không đủ trình độ nhưng chứng chỉ xịn về ngoại ngữ vẫn có và đi thi đa số vẫn qua được môn này mới tài cho hệ thống của ta.

Quay trở lại tính thực tiễn của quy định này. Hãy hình dung, công chức làm việc ở cấp huyện, thậm chí cấp tỉnh có nhất thiết phải biết ngoại ngữ để phục vụ cho công việc? Thực sự là không nhất thiết phải biết.

Nếu biết thì là quá quý, nhưng không vì thế buộc đa số công chức phải biết, phải có ngoại ngữ như quy định. Sẽ khác hẳn khi xem đến bộ ngành TƯ. Đây là các cơ quan nghiên cứu hoạch định thể chế, chính sách cho cả nước. Mà thời buổi bây giờ muốn có thể chế, chính sách tốt buộc phải tham khảo kinh nghiệm nước ngoài.

Các quy định pháp luật của ta về cạnh tranh, chống độc quyền, đấu thầu, thị trường chứng khoán, BOT, PPP…ở mảng kinh tế và về công chức, viên chức, cải cách hành chính …ở mảng hành chính chủ yếu là học kinh nghiệm nước ngoài. Cho nên, CVC và CVCC làm việc ở các bộ này buộc phải có ngoại ngữ. Mức độ phải có này là khá cao như đọc được tài liệu bằng tiếng nước ngoài, giao tiếp được về chuyên môn…

Điểm đáng suy nghĩ ở đây chính là nghiên cứu sửa quy định về tiêu chuẩn ngoại ngữ đối với đội ngũ CBCCVC cả nước theo hướng không bắt buộc dàn đều như hiện nay, mà chỉ đối tượng nào thực sự cần do yêu cầu công việc mới quy định phải có.

Ví dụ về tiêu chuẩn tin học: Chứng chỉ tin học cũng là một trong các loại chứng chỉ bị kêu nhiều. Không ai không thấy tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong sự phát triển của xã hội, trong cuộc sống cá nhân và trong hoạt động công vụ. Do đó, CBCCVC buộc phải có trình độ nhất định.

Cách thứ nhất là quy trình độ phải có này ra thành chứng chỉ tin học như từ bao lâu chúng ta vẫn làm.

Cách thứ hai là không cần quy định cứng phải có chứng chỉ tin học gì cả mà khi cần thì chứng minh bằng thực lực. Cái vị trí việc làm đó đặt ra yêu cầu phải có trình độ tin học theo một mức nhất định nào đó thì cứ ứng viên nào qua kiểm tra đáp ứng tốt nhất là đỗ. Điều đó có nghĩa là không cần chứng chỉ, từng cá nhân tự học cho cái cần phải có theo yêu cầu công việc.

Minh chứng hùng hồn nhất cho vấn đề này chính là gần 500 vị ĐBQH khóa này. Lúc “tuyển“ các vị vào vị trí đại biểu QH, chắc không ai đặt ra tiêu chuẩn phải có chứng chỉ tin học này nọ, nhưng giờ đây nhìn vào việc triển khai công nghệ thông tin trong hoạt động của QH mới thấy năng lực, trình độ tin học của các vị ĐB đáng nể thông qua bồi dưỡng, tự học để có thể theo kịp yêu cầu về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của QH.

Chế định đánh giá công chức trong Luật và các văn bản hướng dẫn dưới Luật như Nghị định số 56/2015 và Nghị định số 88/2017 không mang lại tác động và kết quả tích cực.

Kết quả đánh giá cuối năm của CBCVC cả nước đã cho thấy rõ vấn đề này: cả nước chỉ có khoảng 0,65% CBCCVC qua đánh giá xếp ở mức không hoàn thành nhiệm vụ. Nếu con số này là chính xác, phản ánh đúng thực tế thì chúng ta khỏi cần phải làm cải cách công vụ, công chức làm chi cho lãng phí.

Có thể nêu nguyên nhân của tình trạng này như sau: Luật không xác định rõ đánh giá công chức thì trọng tâm là đánh giá kết quả làm việc của công chức trong năm, tức đánh giá dựa trên kết quả là chủ đạo.

Điều 5 của Luật quy định việc sử dụng, đánh giá, phân loại công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ.

Nhưng theo Điều 56 Khoản 1 của Luật thì nội dung đánh giá công chức lại bao gồm:

Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước;

Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; Thái độ phục vụ nhân dân.

5 nội dung đánh giá là quá rộng, rộng hơn so với quy định tại Điều 5 vừa nêu, có nội dung không cần thiết như đánh giá lối sống; có nội dung không phải công chức nào cũng có ví dụ như công chức làm việc ở một vụ thuộc bộ chuyên nghiên cứu chính sách, xây dựng thể chế, chính sách thì nội dung Thái độ phục vụ nhân dân ở đây là khó thấy biểu hiện, khó đo lường.

Đấy là chưa kể đến sự phân loại công chức qua đánh giá có 4 mức, trong đó có mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực tại Điều 58 của Luật. Rất khó hình dung công chức đã hoàn thành nhiệm vụ nhưng năng lực lại hạn chế.

Điều 6 Luật quy định Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng. Hơn 10 năm đã qua, nhưng vẫn chưa có được văn bản hướng dẫn thi hành quy định này. Cái khó nhất chính là định nghĩa thế nào là người có tài năng.

Rất nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm về vấn đề này đã được tổ chức, nhưng sự thống nhất về cái định nghĩa này quả là khó có được. Nên chăng xem xét bỏ Điều 6 vì tính không khả thi của quy định. (Vietnamnet.vn 25/11, Đinh Duy Hòa) Về đầu trang

2172 cán bộ công chức của 30 đơn vị sẽ được đánh giá năng lực trong năm 2019

Sáng ngày 25/11, tại Bắc Ninh, Đoàn Giám sát, hỗ trợ kỹ thuật việc tổ chức đánh giá năng lực công chức năm 2019 đã đến hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra công tác chuẩn bị tại Cụm thi số 2 (Cục Hải quan Bắc Ninh).

Tại Cụm thi số 2, Đoàn Giám sát đã lắng nghe đại diện các Cục Hải quan: Bắc Ninh, Hà Nam Ninh, Thanh Hóa báo cáo các công việc chuẩn bị tại địa điểm tổ chức thi, cũng như công tác bố trí công chức tham gia đánh giá năng lực.

Cụ thể, phòng thi được bố trí bàn ghế, máy tính, máy in theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật do Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan (Tổng cục Hải quan) đề ra.

Trong đó, máy tính, máy in, hệ thống đường truyền đảm bảo vận hành tốt, đáp ứng yêu cầu phần mềm đánh giá năng lực.

Cũng tại Cụm thi số 2, Hội đồng thi đánh giá năng lực đã niêm yết thông báo sơ đồ phòng thi, thời gian thi, nội quy thi, danh sách thí sinh theo số báo danh và theo ca thi.

Ở mỗi ca thi, Hội đồng Cụm thi số 2 phân chia các thí sinh ở các đơn vị khác nhau.

Trước đó, để đảm bảo việc bố trí thí sinh dự thi không ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị, Hội đồng đã gửi danh sách thí sinh từng ca thi để xin ý kiến các đơn vị.

Qua ghi nhận của phóng viên tại Cụm thi số 2, công tác chuẩn bị thi đánh giá năng lực công chức đã được hoàn tất.

Tại Phòng thi có 25 máy tính dành cho thí sinh và giám thị coi thi được cài đặt phần mềm đảm bảo chỉ tiêu theo Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan yêu cầu.

Được biết, tham gia thi đánh giá năng lực năm 2019 có 2.172 cán bộ, công chức đến từ 28 cục hải quan tỉnh, thành phố và Cục Kiểm định Hải quan, Vụ Thanh tra-Kiểm tra (Tổng cục Hải quan) được chia thành 7 đợt thi, tổ chức ở 7 Cụm thi: Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cần Thơ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Bình, Bình Định và Tổng cục Hải quan.

Tại Cụm thi số 2 có 174 thi sinh đến từ 3 Cục Hải quan: Bắc Ninh, Hà Nam Ninh, Thanh Hóa tham gia thi đánh giá năng lực từ ngày 26 đến 28/11/2019.

Cũng giống như thi đánh giá năng lực ở 7 cục hải quan tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, TP HCM và khối cơ quan Tổng cục Hải quan năm 2018, lần này Tổng cục Hải quan tiếp tục tổ chức thi ở 6 lĩnh vực: Giám sát quản lý, Thuế xuất nhập khẩu, Chống buôn lậu, Kiểm tra sau thông quan, Quản lý rủi ro, Xử lý vi phạm. (Haiquanonline.com.vn 25/11, Quang Hùng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Ngành Tài chính tiếp tục 'ghi điểm' về cải cách thủ tục hành chính

78% doanh nghiệp (DN) hài lòng đối với cải cách thủ tục hành chính (TTHC) thuế; xếp hạng về chỉ số nộp thuế của Việt Nam trong 4 năm qua đã tăng lên 64 bậc…

Là kết quả ghi nhận nỗ lực trong công tác cải cách TTHC không ngừng nghỉ của các cơ quan thuộc ngành Tài chính, đặc biệt là về lĩnh vực thuế và hải quan.

Thời gian gần đây, công tác cải cách TTHC trong ngành Tài chính đi vào thực chất hơn. Không còn việc cắt giảm với số lượng lớn, việc rà soát, cắt giảm các thủ tục thực hiện ngay từ khi dự thảo ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Bộ đã đẩy mạnh thực hiện rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm, bãi bỏ những TTHC không cần thiết, không ban hành các quy định làm gia tăng thủ tục gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân.

Nếu như giai đoạn 2011 - 2015 thực hiện rà soát cắt giảm, đơn giản hóa lên đến hơn 1.000 TTHC, thì đến nay số lượng các TTHC phải cắt giảm, đơn giản hóa không còn nhiều. Công tác cải cách TTHC được triển khai mạnh mẽ theo hướng tạo thuận lợi và giảm chi phí tuân thủ TTHC cho DN. Bộ Tài chính đã cắt giảm và đơn giản hóa 119/190 điều kiện kinh doanh thuộc 14 ngành nghề hỗ trợ DN và dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa thêm 47 điều kiện.

Báo cáo tại Quốc hội vừa qua, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, việc cắt giảm 3.451/6.191 điều kiện kinh doanh, đã tiết kiệm được 893 tỷ đồng/năm. Cắt giảm 6.776/9.926 TTHC kiểm tra chuyên ngành đã tiết kiệm được 5.542,8 tỷ đồng/năm.

Bộ Tài chính đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực tài chính. Trong lĩnh vực thuế, đã ứng dụng CNTT trong khai, nộp, hoàn thuế điện tử. Việc thí điểm triển khai hóa đơn điện tử tại 3 thành phố lớn có hàng trăm DN tham gia với số thuế đã xác thực là gần 1.700 tỷ đồng. Lĩnh vực hải quan, thực hiện hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Đến nay đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối Cơ chế một cửa quốc gia; 174 TTHC được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia xấp xỉ 2,34 triệu bộ hồ sơ và trên 31,8 nghìn DN tham gia.

Ngành Tài chính đã kiện toàn đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách TTHC, hiện đại hóa ngành. Kết quả khảo sát đo độ hài lòng của DN với cải cách TTHC thuế vừa được VCCI công bố mới đây cho thấy có 78% DN hài lòng. Theo Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới đánh giá năm 2020, thời gian nộp thuế của Việt Nam đã giảm 300 giờ so với năm 2014 và giảm 114 giờ so với năm 2019; xếp hạng về chỉ số nộp thuế trong 4 năm qua đã tăng 64 bậc (từ thứ 173 lên 109/190).

Ông Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội DN nhỏ và vừa TP. Hà Nội đánh giá cao nỗ lực đơn giản hóa, cắt giảm TTHC của Bộ Tài chính. Ông Mạc Quốc Anh cho rằng, đây là việc làm “hết sức nổi bật”, minh chứng là hầu hết thủ tục được thực hiện bằng hình thức trực tuyến, giảm dần đầu mối nhờ ứng dụng CNTT. Việc cơ quan thuế, hải quan dẫn đầu về chi phí tuân thủ thấp đã hỗ trợ DN tiết giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Thời gian tới, các cơ quan thuộc Bộ Tài chính tiếp tục cải cách TTHC, tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và DN. Tổng cục Thuế hiện triển khai các phương án đơn giản hoá 140 TTHC hành chính trong lĩnh vực thuế. Đồng thời, triển khai đơn giản hóa chế độ báo cáo định kỳ và đơn giản hoá TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư trong lĩnh vực thuế theo kế hoạch của Bộ Tài chính và Ban chỉ đạo Đề án 896. Từ nay đến cuối năm, Tổng cục Thuế tiếp tục rà soát, đánh giá các TTHC theo kế hoạch năm 2019, đề xuất phương án đơn giản hóa TTHC, góp phần giảm chi phí tuân thủ TTHC trong việc thực hiện kê khai, nộp thuế.

Công tác cải cách TTHC của Tổng cục Hải quan thời gian tới tiếp tục được triển khai mạnh mẽ theo hướng tạo thuận lợi và giảm chi phí tuân thủ TTHC cho DN. Trong đó, thực hiện các đề xuất bãi bỏ thủ tục không cần thiết; cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, nhằm tiết kiệm chi phí cho cộng đồng DN nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan.

Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Tổng cục Hải quan tập trung xây dựng Đề án tái thiết kế tổng thể hệ thống CNTT ngành Hải quan; triển khai Đề án đầu tư hệ thống seal định vị điện tử phục vụ công tác giám sát đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan vận chuyển bằng container; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến và mở rộng thực hiện thanh toán điện tử. Thời gian tới, cơ quan này tiếp tục triển khai Hệ thống quản lý hàng hóa tự động (VASSCM) tại các cảng biển. Đồng thời, để tiếp tục triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Công an tập trung triển khai Cơ chế một cửa đường hàng không; triển khai mở rộng hệ thống quản lý giám sát hàng hóa đường hàng không./. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 25/11, Minh Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bỏ biên chế suốt đời: Ai mừng, ai lo?

Bỏ biên chế suốt đời để những cán bộ, viên chức có năng lực thực sự được cống hiến, được trả lương đúng với giá trị lao động họ đã bỏ ra.

Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Điểm đáng chú ý là sẽ không còn viên chức suốt đời như lâu nay chúng ta thường áp dụng. Quy định này được đưa ra với hy vọng sẽ chấn chỉnh tình trạng chây ỳ, lười đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức bằng việc trả lương theo vị trí việc làm, xóa bỏ tư tưởng vào được cơ quan nhà nước là "ấm chân" đến già.

Từ lâu nay chúng ta vẫn thường nói đến một bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả khiến cho khả năng chi trả của ngân sách nhà nước ngày một khó khăn. Vì đâu nên nỗi? Trong một thời gian dài chúng ta tiến hành công cuộc tinh giản biên chế nhưng kết quả "càng tinh giản bộ máy càng phình to" bởi rất nhiều người vẫn chỉ lo cho các lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm mà không quan tâm đến đại cục. Họ ra sức tuyển dụng, đưa vào hệ thống những nhân lực yếu kém, không có năng lực trình độ chuyên môn. Khi vào được bộ máy Nhà nước, không ít kẻ trong số này lại cậy quyền cậy thế, trong quá trình thực thi nhiệm vụ luôn gây khó khăn, cản trở cho người dân, doanh nghiệp, khiến hình ảnh người cán bộ, viên chức ngày một xấu xí. Đó là còn chưa kể, nhiều viên chức được tuyển dụng từ hàng chục năm nay nhưng rất trì trệ, lười làm việc, chỉ biết đòi hỏi quyền lợi, nhiều khi còn chống đối, cản trở sự phát triển. Họ chính là những hòn đá tảng cần phải đưa ra khỏi hệ thống để dòng chảy công việc được khơi thông.

Bỏ biên chế suốt đời là một qui định được đánh giá là cần thiết phải làm lúc này. Bởi nguồn lực kinh tế không cho phép chúng ta kéo theo một đoàn tàu dài quá sức. Dễ thấy nhất là mỗi lần tăng lương là một lần đau đầu các nhà quản lý mà vẫn như "muối bỏ bể". Thế nhưng ai là người dám lấy dao gọt chân mình khi mà rất nhiều viên chức là con ông cháu cha nhưng không làm được việc?

Nhiều người mong muốn qui định bỏ biên chế suốt đời còn được áp dụng với cả công chức, đặc biệt là với các công chức lãnh đạo. Để những người có tài thực sự làm quản lý thì các vị trí lãnh đạo trong các đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập phải thi tuyển công khai chứ không  bổ nhiệm như hiện nay. Công chức nếu không làm được việc thì phải nghỉ chứ không thể chỉ có lên mà không có xuống, lên rồi không làm được việc lại bố trí vòng quanh.

Từ nay tới 1/7/2020 còn một quãng thời gian không phải là ngắn để một số người, một số đơn vị lợi dụng tăng tốc tuyển dụng “né” qui định để được hưởng chế độ viên chức suốt đời. Để tránh tình trạng này, các cá nhân, đơn vị được giao nhiệm vụ phải tăng cường kiểm tra, giám sát, thực hiện công khai, minh bạch công tác tuyển dụng.

Bỏ biên chế suốt đời, trả lương theo vị trí, chất lượng công việc... được kỳ vọng là sẽ khuyến khích được người làm việc hiệu quả, giữ chân được người tài. Cách làm mới này khiến những người có năng lực thực sự vui mừng, là cơ hội để đưa những kẻ yếu kém, cơ hội ra khỏi bộ máy. Và như vậy mới hy vọng hệ thống hành chính công được cải cách hiệu quả, môi trường kinh tế - xã hội thực sự kiến tạo để doanh nghiệp, người dân phát triển./. (Vov.vn 26/11, An Nhi) Về đầu trang

Khi nào hết phát sinh thủ tục?

Tháng 4.2014, khi Hà Nội cùng 14 tỉnh thành khác triển khai cấp chứng minh nhân dân mới 12 số, tôi đã đăng ký đổi với tâm trạng vô cùng háo hức. Thực tế tại thời điểm đó, tôi vẫn buộc phải dùng song song 2 chứng minh nhân dân, cả mới lẫn cũ khi phải đối chiếu, chứng minh sự thống nhất trong việc thực hiện các loại giao dịch, thủ tục, giấy tờ... Nhưng rắc rối đã xảy ra khi chứng minh thư cũ của tôi có dấu hiệu mờ số, rất nhiều giấy tờ của của tôi vẫn đang mang số chứng minh nhân dân cũ, buộc phải về công an phường nơi cư trú trước đây xin xác nhận số chứng minh nhân dân cũ và mới là của “cùng một người”. Và hành trình xin xác nhận của cơ quan công quyền cũng không hề đơn giản!

Theo các cơ quan quản lý, chứng minh nhân dân 9 số, 12 số hay thẻ căn cước công dân đều có giá trị như nhau, tồn tại song song, không có bất cứ sự phân biệt nào. Lý do của việc chuyển đổi là nhằm hoàn thiện hệ thống dữ liệu lưu giữ vân tay nối mạng trong toàn quốc nên thuận tiện cho việc xác định danh tính của mỗi công dân, không thể xảy ra trường hợp một người có 2 - 3 chứng minh nhân dân. Ngoài ra, còn góp phần phục vụ công tác điều tra, giúp lực lượng công an đấu tranh phòng, chống tội phạm khi cần tra cứu nhanh một số thông tin cá nhân và vân tay tội phạm tại hiện trường gây án.

Tuy nhiên, những bất cập, phiền toái phát sinh cho người dân như trường hợp của tôi, có lẽ nhiều người không lường trước được các tình huống việc không có sự thống nhất giữa các cơ quan như quản lý nên đã xảy ra những tình huống dở khóc, dở cười trong thực tế. Nếu số chứng minh nhân dân không đồng nhất, các giao dịch từ đăng ký xe, tài khoản, sổ tiết kiệm tại ngân hàng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà… sẽ không thể thực hiện. Hay đơn giản hơn chỉ là khi một người làm mất thẻ sim điện thoại, ra yêu cầu khôi phục, lấy lại sim, nhà mạng cũng không giải quyết, bởi chủ thuê bao đăng ký với nhà mạng là bằng một số chứng minh nhân dân hoàn toàn khác.

Để việc sử dụng các giấy tờ, bằng cấp có liên quan đến số chứng minh nhân dân cũ không gặp nhiều phiền phức, đồng thời giải quyết các giao dịch được thiết lập trước đó với cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo hướng dẫn của ngành công an, khi làm thủ tục cấp đổi chứng minh nhân dân, người dân có thể yêu cầu cơ quan công an cấp thêm giấy xác nhận về số chứng minh cũ. Tuy vậy, việc xin giấy xác nhận của ngành công an đối với tôi và nhiều người dân khác cũng là một thủ tục không đơn giản, phải đi lại, chờ đợi mất thời gian. Hơn thế, khi hàng loạt giấy tờ mang số chứng minh nhân dân cũ, nghĩa là chúng tôi phải thực hiện rất nhiều công việc, giao dịch liên quan.

Đáng nói, nhiều cơ quan khi giải quyết công việc còn đề nghị giữ lại luôn bản chính (hoặc photo có chứng thực) để làm “bằng chứng” chứng minh người thực hiện giao dịch đó đúng là người có số ghi trên chứng minh nhân dân. Việc này đồng nghĩa bất kỳ người dân nào rơi vào trường hợp sở hữu một vài số chứng minh nhân dân đều phải đi xin xác nhận nhiều lần, hoặc phải đi đến UBND cấp xã chứng thực sao y. Vậy nên chăng để tạo điều kiện cho người dân, ngành công an cần trù liệu những rắc rối phát sinh và tạo điều kiện tối đa khi người dân có yêu cầu xác nhận giữa chứng minh nhân dân cũ - mới? Nên chăng trao cho mỗi người dân một giấy xác nhận số cũ và số mới kèm theo để người dân có thể sao y bản chính lưu lại bản cũ để làm bằng chứng trước khi xin cấp đổi lại, liệu trù các tình huống để xin xác nhận số cũ và số mới?

Chứng minh nhân dân 9 số, 12 số hay thẻ căn cước công dân, không tính đến chuyện Nhà nước phải tiến hành thay đổi, quản lý lại số chứng minh nhân dân của tất cả các công dân, thì chỉ riêng việc chính các cá nhân ấy phải thực hiện các thủ tục điều chỉnh thông tin đối với các giấy tờ giao dịch cũng đã gây rất nhiều tốn kém, thậm chí là sợ hãi rồi. Việc đổi mới trong phương pháp quản lý thông tin cá nhân của người dân là cần thiết nhưng thay đổi thế nào cho phù hợp với thực tế, không làm phát sinh những hệ lụy khó lường vẫn luôn là bài toán khó. Thực tiễn đã cho thấy, nếu thẻ căn cước ra đời mà chưa thay thế được các giấy tờ liên quan như chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sổ đỏ thì không những không đơn giản hóa mà còn làm phát sinh thủ tục. Sẽ còn rất nhiều người tiếp tục hành trình xin xác nhận của cơ quan công quyền “tôi chính là tôi”. (Daibieunhandan.vn 26/11, Duy Anh) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

ASEAN-Hàn Quốc chia sẻ kinh nghiệm đổi mới dịch vụ công

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất của Hàn Quốc dưới thời chính quyền của Tổng thống Moon Jae-in. Nhân kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ, ngày 25/11 tại thành phố cảng Busan đã diễn ra Triển lãm ASEAN-Hàn Quốc và Hội nghị bàn tròn về đổi mới dịch vụ công. Đây là  nỗ lực tăng cường hợp tác mới nhất giữa Seoulvà các quốc gia thành viên ASEAN.

Với chủ đề "Vì Con người, Hòa bình và Thịnh vượng", cũng chính là 3 nguyên tắc chủ đạo trong Chính sách hướng Nam mới của chính phủ Hàn Quốc, triển lãm ASEAN - HQ đã nêu bật nhu cầu của người dân và chia sẻ những thực tiễn, phương thức tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu của họ.

Tại cuộc triển lãm, phía Hàn Quốc đã giới thiệu một số dịch vụ công sử dụng công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, từ hệ thống ứng phó thảm họa sử dụng mạng 5G đến hệ thống thông quan điện tử và hệ thống điều hành giao thông thông minh. Về phía ASEAN, Thái Lan đã mang tới triển lãm Cổng thông tin doanh nghiệp trực tuyến, trong khi Indonesia mang tới nền tảng giải quyết khiếu nại của người dân. Theo Ban tổ chức, cuộc triển lãm sẽ giúp xác định các dự án chung và thúc đẩy giao lưu nhân dân giữa Hàn Quốc và ASEAN.

Bên cạnh triển lãm, ASEAN và Hàn Quốc cũng đã tiến hành Hội nghị bàn tròn lần thứ 2 của các quan chức Bộ Nội vụ, sau hội nghị lần đầu được tổ chức năm 2014. Đây là cơ hội để các nước ASEAN và Hàn Quốc nhìn lại những thành tựu đã đạt được trong 5 năm qua và tìm kiếm cách thức tăng cường hợp tác dịch vụ công hơn nữa trong những năm tới./. (Truyền hình Thông tấn 25/11) Về đầu trang

http://vnews.gov.vn/asean-han-quoc-chia-se-kinh-nghiem-doi-moi-dich-vu-cong

Thủ tướng Israel không bị buộc từ chức sau cáo buộc tham nhũng

Theo Reuters, Tổng Chưởng lý Israel Avichai Mandelblit ngày 25/11 khẳng định, ông Benjamin Netanyahu có thể tiếp tục đảm nhiệm cương vị thủ tướng lâm thời mặc dù cơ quan chức năng nước này trước đó đã tuyên bố sẽ xét xử ông Netanyahu trong 3 vụ án riêng rẽ với 3 tội danh tham nhũng, gian lận và lạm dụng lòng tin.

Tuyên bố của Tổng Chưởng lý Israel đồng nghĩa với việc để ngỏ khả năng Thủ tướng Netanyahu có thể được chỉ định thành lập chính phủ mới trong thời gian tới.

Thông báo của Bộ Tư pháp Israel cho biết, Tổng chưởng lý Mandelblit đã triệu tập ban lãnh đạo cấp cao để thảo luận về việc liệu ông Netanyahu có nên bị tuyên bố tạm thời không phù hợp với cương vị thủ tướng hay không, và nếu tuyên bố được đưa, ông Netanyahu sẽ được yêu cầu từ chức hoặc rời khỏi nhiệm sở.

Tuy nhiên, xét đến thực tế là ông Netanyahu đang lãnh đạo một chính phủ lâm thời, ông Mandelblit cho rằng “vấn đề về sự không phù hợp tạm thời đối với cương vị này nên để lại cho lĩnh vực công cộng-chính trị (bởi) hiện không có có chỗ cho quyết định của một Tổng Chưởng lý."

Giới bình luận Israel nhận định, “lĩnh vực công cộng-chính trị” là một sự ám chỉ tới các cuộc bầu cử được tổ chức trong phạm vi nội bộ chính đảng hoặc trên quy mô toàn quốc, cũng như là những đơn thỉnh cầu tiềm tàng gửi đến Tòa án Tối cao nước này để yêu cầu ông Netanyahu từ chức.

Theo quy định của luật pháp Israel, một thủ tướng sẽ được phép tiếp tục tại vị cho đến khi có phán quyết cuối cùng về việc truy tố nhân vật này. Bên cạnh đó, một thủ tướng cho dù từ chức sẽ vẫn có thể tiếp tục đảm nhiệm cương vị cho đến khi chính phủ mới được thành lập./. (VietnamPlus.vn 26/11) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.035.499 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này