Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 03/2/2020
1. Tiêu chuẩn chọn Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng
2. Chính sách mới áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức
3. Làm Chính phủ điện tử là phải dám loại bỏ lợi ích cục bộ
4. Ngành Tài chính cải thiện môi trường kinh doanh
5. Phát hiện sai phạm hơn 2 tỉ đồng ở quận Thốt Nốt
6. Bổ nhiệm cán bộ trái quy định, giám đốc sở tự nhận kỷ luật khiển trách
7. Nhiều sai sót trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức tại Hải Phòng
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Xây dựng nền hành chính hiện đại phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân
9. Quyết tâm và bền bỉ, cải cách sẽ thành công
10. Ông Mohammed Tawfiq Allawi trở thành tân Thủ tướng của Iraq
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Tiêu chuẩn chọn Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội ngoài các tiêu chuẩn chung về uy tín, năng lực thì mỗi chức danh đều gắn với các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể khác nhau.
Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định 214 -QĐ/TW về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Quy định này thay thế Quy định 90 được ban hành từ tháng 8/2017.
Ngoài quy định các tiêu chuẩn chung về chính trị, tư tưởng; về đạo đức, lối sống; về trình độ; về năng lực, uy tín và về sức khoẻ, độ tuổi, kinh nghiệm, Quy định 214 còn nêu rõ tiêu chuẩn với từng chức danh cụ thể.
Theo quy định mới, ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là người thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; không bị chi phối bởi sự can thiệp, sức ép bên ngoài và lợi ích nhóm.
Ngoài ra, phải là ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương trọn một nhiệm kỳ trở lên; đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố)… Trường hợp ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư công tác trong quân đội thì phải kinh qua chức vụ chủ trì cấp quân khu.
Các chức danh Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội đều có tiêu chuẩn chung là phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời, cần có uy tín cao trong Trung ương, Bộ Chính trị, trong toàn Đảng và nhân dân.
Tổng bí thư phải là trung tâm đoàn kết, quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân; Tiêu biểu nhất về đạo đức, trí tuệ của toàn Đảng. Có trình độ cao về lý luận chính trị. Có kiến thức sâu, rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, quản lý nhà nước…
Người đứng đầu Đảng cũng phải có bản lĩnh chính trị, tư duy nhạy bén, năng lực nghiên cứu, phát hiện, đề xuất và quyết đoán; bình tĩnh, sáng suốt trước những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến vận mệnh của Đảng, của quốc gia, của dân tộc. Có năng lực lãnh đạo, điều hành Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có năng lực lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đặc biệt là người kế nhiệm, cán bộ chủ chốt.
Đặc biệt, đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Chủ tịch nước cần có năng lực nổi trội, toàn diện trên các mặt công tác, nhất là lĩnh vực đối nội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng; hiểu biết sâu, rộng về công tác tư pháp. Là trung tâm đoàn kết các lực lượng xã hội và các cộng đồng dân tộc trong, ngoài nước.
Chủ tịch nước phải quyết liệt trong lãnh đạo, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
Và đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Thủ tướng cần có năng lực nổi trội toàn diện trên các lĩnh vực, nhất là trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; tư duy nhạy bén, năng động, quyết đoán, quyết liệt, quyết định kịp thời những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến lĩnh vực hành pháp.
Thủ tướng phải là người hiểu biết sâu, rộng nền hành chính quốc gia, kinh tế - xã hội đất nước; kinh tế, chính trị thế giới và hội nhập quốc tế. Có năng lực toàn diện về tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành cơ quan hành chính nhà nước và hệ thống chính trị.
Người đứng đầu Chính phủ cũng cần có năng lực cụ thể hoá và tổ chức thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Về kinh nghiệm, Thủ tướng phải là người đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Chủ tịch Quốc hội là người cần quyết liệt trong lãnh đạo, có năng lực nổi trội, toàn diện trong các lĩnh vực công tác, nhất là trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trong việc chỉ đạo thể chế hoá đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng pháp luật, giám sát thực thi pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Chủ tịch Quốc hội cũng phải hiểu biết sâu sắc hệ thống pháp luật của Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế. Có năng lực điều hành chất lượng, hiệu quả các phiên họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đặc biệt, phải kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Ngoài quy định tiêu chuẩn đối với các chức danh của cán bộ thuộc diện Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, Quy định 214 còn nêu rõ một số trường hợp đặc thù áp dụng tiêu chuẩn chức danh khi bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
Cụ thể, cán bộ được điều động, luân chuyển từ nơi khác đến không nhất thiết phải bảo đảm tiêu chuẩn "đã kinh qua chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp".
Cán bộ được bổ nhiệm giữ chức vụ tương đương hoặc kiêm nhiệm thêm chức vụ khác thì không nhất thiết phải bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn chức danh tương đương hoặc tiêu chuẩn chức vụ kiêm nhiệm.
Cán bộ đang công tác trong lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử không nhất thiết phải bảo đảm tiêu chuẩn "quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp".
Khi xem xét, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức danh mới chưa có trong quy định này thì áp dụng tiêu chuẩn chung và vận dụng tiêu chuẩn chức danh tương đương có vị trí, tính chất tương đồng. (News.zing.vn 2/2, Hoài Thu) Về đầu trang
Chính sách mới áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã được thông qua và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1-7-2020. Theo đó, sẽ có nhiều chính sách mới tác động trực tiếp đến mọi cán bộ, công chức, viên chức từ năm 2020.
Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập không còn là công chức
Từ ngày 1-7-2020, đội ngũ lãnh đạo, quản lý tại các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ là viên chức thay vì công chức như quy định của pháp luật hiện hành. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định hiện hành, Luật cũng đã có quy định giao Chính phủ quy định chuyển tiếp đối với công chức trong các đơn vị sự nghiệp tiếp tục thực hiện chế độ, chính sách và áp dụng các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức cho đến hết thời hạn bổ nhiệm giữ chức vụ (Điều 85); đồng thời cũng giao Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện chế độ công chức đối với người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí, phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 3 Điều 84).
Kiểm định chất lượng đầu vào công chức
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ: "Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực".
Luật Cán bộ, Công chức và các văn bản quy định chi tiết đã phân cấp cho cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức trong công tác tuyển dụng. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm tổ chức tuyển dụng đối với công chức thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện do Chính phủ quy định và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện.Tuy nhiên, việc chấp hành các quy định về tuyển dụng công chức tại một số Bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm, còn để xảy ra nhiều sai phạm; chưa thực sự tuyển dụng được người đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm; chưa gắn thẩm quyền của người trực tiếp sử dụng công chức với thẩm quyền quyết định tuyển dụng.
Để khắc phục những bất cập này, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng theo hướng "thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực". Thể chế hóa chủ trương của Đảng, khoản 2 Điều 39 Luật Cán bộ, công chức đã bổ sung quy định về thực hiện kiểm định chất lượng đầu vào công chức theo lộ trình, bảo đảm công khai, minh bạch, thiết thực, hiệu quả, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết việc kiểm định chất lượng đầu vào. Có thể nói đây là quy định mới nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác tuyển dụng thời gian vừa qua. Việc thống nhất kiểm định chất lượng đầu vào không làm ảnh hưởng đến thẩm quyền tuyển dụng của bộ, ngành, địa phương. Các bộ, ngành, địa phương vẫn có thẩm quyền quyết định trong tuyển dụng công chức phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm và điều kiện đặc thù của bộ, ngành, địa phương mình.Việc giao Chính phủ quy định chi tiết và thực hiện theo lộ trình cũng nhằm bảo đảm thực hiện từng bước, tránh những xáo trộn không cần thiết, ảnh hưởng đến việc tuyển dụng công chức trên phạm vi cả nước. Khi xây dựng các văn bản trình Chính phủ quy định chi tiết, Bộ Nội vụ sẽ đặc biệt chú trọng tới yếu tố này, đồng thời bảo đảm giảm thiểu thủ tục hành chính, không quy định phát sinh "chứng chỉ kiểm định đầu vào", đồng thời bảo đảm chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm theo đúng chủ trương của Đảng.
Ký hợp đồng xác định thời hạn với viên chức
Về ký kết hợp đồng xác định thời hạn, theo quy định của pháp luật hiện hành thì có 2 loại là hợp đồng làm việc có thời hạn và hợp đồng làm việc không thời hạn. Viên chức được tuyển dụng sẽ ký hợp đồng xác định thời hạn (từ 12 đến 36 tháng); sau khi kết thúc hợp đồng xác định thời hạn thì viên chức được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Đồng thời, Luật cũng quy định về chế độ tập sự đối với người trúng tuyển viên chức.
Quy định về việc ký kết hợp đồng làm việc có thời hạn và hợp đồng làm việc không thời hạn trong thời gian qua còn một số vướng mắc, cụ thể như sau:
Việc phân biệt 2 loại hợp đồng dẫn đến sự bất bình đẳng, tâm lý "trên" – "dưới" giữa người ký hợp đồng có thời hạn và hợp đồng không thời hạn;
Việc quy định về hợp đồng không xác định thời hạn đối với đội ngũ viên chức sẽ không khuyến khích cơ chế cạnh tranh, không có vào, có ra, từ đó không tạo động lực trong công việc, dẫn đến giảm năng suất, hiệu quả; Quy định về hợp đồng không xác định thời hạn cũng dẫn tới một thực trạng là các đơn vị sự nghiệp công lập còn ỷ lại, trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước, kém năng động, sáng tạo dẫn đến quá trình xã hội hóa cung cấp dịch vụ công diễn ra rất chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.
Để giải quyết bất cập nêu trên, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã xác định "Thống nhất thực hiện hợp đồng có thời hạn đối với trường hợp viên chức được tuyển dụng mới (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).". Đây là chủ trương lớn, tác động trực tiếp đến đội ngũ viên chức, trong đó phần lớn là viên chức hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học công nghệ.
Quá trình xây dựng chính sách và thể chế hóa, nội dung này cũng đã được phân tích rất kỹ về ưu, nhược điểm của từng phương án, trong đó đề cao yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động, tránh xáo trộn gây tâm tư trong đội ngũ, đồng thời cũng phải tạo cơ chế để các đơn vị sự nghiệp và người lao động chủ động, có động lực, từ đó nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân.
Tăng thời gian xử lý kỷ luật với cán bộ, công chức, viên chức
Theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức và Luật Viên chức hiện hành thì thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng kể từ thời điểm có hành vi vi phạm đến khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật. Thực tế cho thấy quy định như vậy là quá ngắn, không bảo đảm tính nghiêm khắc đối với việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm. Nhiều trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về Đảng (hoặc đã bị xử lý hình sự nhưng cho hưởng án treo) khi xét kỷ luật theo quy định của Luật thì đã hết thời hiệu.
Mặt khác, trong thời gian vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó quy định rõ về thời hiệu kỷ luật; đồng thời có một số trường hợp cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên có vi phạm trong thời gian công tác nhưng đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ra khỏi khu vực nhà nước đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và xử lý kỷ luật về chính quyền.
Xuất phát từ yêu cầu đó, để bảo đảm tính nghiêm minh, nghiêm khắc, kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định tăng thời hiệu xử lý đối với tính chất từng loại hành vi vi phạm gắn với hệ quả pháp lý (theo thứ tự 2 năm, 5 năm và không tính thời hiệu đối với một số hành vi cụ thể); bổ sung quy định không tính thời hạn giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tục vào thời gian để xác định thời hiệu và quy định xóa tư cách chức vụ đối với người có vi phạm trong thời gian công tác nhưng đã thôi việc, nghỉ hưu; tăng thời hạn xử lý vi phạm kỷ luật từ 60 ngày và 90 ngày (đối với các vụ việc phức tạp) lên thành 90 ngày và 150 ngày; quy định rõ việc bổ nhiệm khi bị kỷ luật (không bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng đối với trường hợp bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương; không bổ nhiệm chức vụ trong thời hạn 24 tháng nếu bị kỷ luật giáng chức, cách chức.
Bổ sung quy định đánh giá cán bộ, công chức, viên chức
Bên cạnh đó, Luật cũng tập trung sửa đổi những quy định còn vướng mắc từ thực tiễn thực hiện, trong đó có công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Có thể nói cùng với quá trình chuyển đổi phương thức quản lý cán bộ, công chức từ hệ thống chức danh nghề nghiệp sang vị trí việc làm thì công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hiện nay "là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến.".
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức nêu trên, Luật đã bổ sung quy định đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, đội ngũ công chức, viên chức ở nước ta công tác trong các lĩnh vực rất rộng với những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào từng công việc, vùng miền. Vì vậy, Luật cũng quy định giao người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức quy định phù hợp với địa phương, bộ, ngành mình, bảo đảm đúng tiêu chí được đề ra. (Nld.com.vn 2/2, A.Khánh) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Làm Chính phủ điện tử là phải dám loại bỏ lợi ích cục bộ
Chính phủ điện tử, tiến đến nền kinh tế số là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới, và Việt Nam cũng không đứng ngoài “cuộc chơi” đó. Sự chuyển đổi này sẽ tạo ra sự minh bạch, đẩy lùi nạn tham nhũng, nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nhấn mạnh, để xây dựng Chính phủ điện tử với phương châm “lấy người dân, doanh nghiệp (DN) làm trung tâm phục vụ” thì phải dám loại bỏ lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân.
Việt Nam tiến hành triển khai Chính phủ điện tử từ những năm 2000. Đến nay, chúng ta đã làm được nhiều việc với nhiều kết quả tiến bộ. Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc đánh giá năm 2018 Việt Nam xếp hạng thứ 88/193 quốc gia, trong đó, chỉ số cung cấp dịch vụ công trực tuyến là chỉ số được đánh giá cao nhất, đạt 0,74/1.
Đến hết quý III/2019, số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 được cung cấp tại các bộ, cơ quan Trung ương là 1.720 dịch vụ; tỷ lệ phát sinh hỗ trợ trực tuyến là 47,7% và tại các địa phương là 46.660 dịch vụ; tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến là 17,3%.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, từ tháng 3/2019, toàn bộ văn bản của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều gửi - nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia. Theo thống kê, từ khi khai trương đến tháng 11/2019, Trục liên thông văn bản quốc gia nhận trên 580.000 văn bản và gửi đi trên 260.000 văn bản.
“Như vậy, chúng ta không phải mất tiền mua giấy, mua mực, bưu chính phí, mỗi năm tiết kiệm khoảng 1.200 tỷ đồng”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nói.
Quan trọng là các bộ trưởng, lãnh đạo tỉnh không cần ngồi ở phòng mà đi bất cứ đâu cũng có thể xử lý được công việc. Bởi văn bản ký số được ban hành có giá trị như văn bản ký "tươi" có dấu đỏ.
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng chia sẻ, bản thân ông đã dứt khoát không ký tay nên cấp dưới không dám trình văn bản giấy (trừ văn bản mật). “Nếu không làm thế thì ngày nào văn bản cũng xếp đầy trên bàn. Lãnh đạo văn phòng và lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị đang sử dụng thiết bị di động (ipad) để thực hiện ký số, phê duyệt phiếu trình. Chúng tôi quyết tâm thực hiện "Văn phòng Chính phủ phi giấy tờ", hướng tới Chính phủ phi giấy tờ”.
Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) khi đưa vào hoạt động từ tháng 6/2019 đã giúp giảm đáng kể thời gian họp. Không chỉ thế, e-Cabinet còn giúp việc chuẩn bị nội dung công việc tốt hơn cả về chất lượng, thời hạn để các thành viên Chính phủ có thể nghiên cứu trước và cho ý kiến. Theo đó, Chính phủ sẽ sớm đến mô hình một Chính phủ phi giấy tờ.
Các địa phương trên cả nước cũng đã triển khai mạnh mẽ các cải cách, đổi mới. Nhiều TP thông minh, chính quyền gọn nhẹ, năng động dần hình thành. Các địa phương còn triển khai hạ tầng, nền tảng chính quyền điện tử, bố trí vốn từ nguồn sự nghiệp công nghệ thông tin để triển khai, mở rộng, nâng cấp các hệ thống thông tin tập trung.
Đáng chú ý, với phương châm “lấy người dân, DN làm trung tâm phục vụ”, không để ai ở lại phía sau trong quá trình cải cách, tháng 12/2019, Cổng Dịch vụ công Quốc gia chính thức được Thủ tướng Chính phủ bấm nút khai trương.
Chỉ cần truy cập vào địa chỉ duy nhất (dichvucong.gov.vn), bằng một tài khoản duy nhất, người dân, DN có thể đăng nhập được đến tất cả các cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh để: Đổi giấy phép lái xe; cấp giấy phép lái xe quốc tế; thông báo hoạt động khuyến mại; đăng ký khai sinh; cấp mới điện hạ áp; cấp mới điện trung áp; cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); cấp lại thẻ bảo hiểm y tế.
“Việc thực hiện dịch vụ công trực tuyến của người dân, DN sẽ không còn phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính”, ông Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.
Ví dụ, người sinh ra ở TP Hồ Chí Minh, được Sở Giao thông Vận tải TP Hồ Chí Minh cấp giấy phép lái xe, nhưng đang sinh sống ở Hà Nội, sẽ không phải quay lại TP Hồ Chí Minh mà truy cập Cổng Dịch vụ công Quốc gia để làm thủ tục, chọn Sở Giao thông Vận tải Hà Nội là nơi cấp đổi giấy phép.
Trong quá trình tiếp xúc với các cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ thi hành công vụ, người dân có quyền phản ánh những vướng mắc, khó khăn trực tiếp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Hơn nữa, người dân, DN còn có thể tái sử dụng các thông tin đã có và tiết kiệm thời gian chuẩn bị hồ sơ, từ đó giảm đáng kể chi phí xã hội trong thực hiện thủ tục hành chính, đặc biệt là những thủ tục hành chính có liên quan đến nhiều cơ quan.
Với tiện ích “nhàn tênh”, sau 4 ngày khai trương Cổng Dịch vụ công Quốc gia, đã có 2,3 triệu người truy cập với 1.358 hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý. Trong đó, có 581 hồ sơ đề nghị cấp mới điện hạ áp và trung áp, 693 hồ sơ đổi giấy phép lái xe và cấp giấy phép lái xe quốc tế, 51 hồ sơ liên quan đến cấp lại giấy bảo hiểm y tế do bị hỏng, mất.
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thấy rằng, những kết quả đã đạt được mới chỉ là thành công bước đầu, chúng ta còn nhiều việc phải làm để xây dựng Chính phủ điện tử thành công.
Theo đánh giá, số lượng dịch vụ công phát sinh hồ sơ trực tuyến còn ít. Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Người dân, DN vẫn còn phàn nàn, kêu ca về sự quan liêu, nhũng nhiễu, lợi ích nhóm của một số cán bộ, công chức khi thi hành công vụ.
Nhiều bộ, ngành, địa phương chưa áp dụng đầy đủ chữ ký số cá nhân trong xử lý văn bản điện tử, làm phát sinh công việc cho đội ngũ văn thư khi phải thực hiện thêm các bước scan văn bản ký trực tiếp, đưa vào hệ thống, sau đó mới thực hiện ký số tổ chức và phát hành.
Đặc biệt, chúng ta còn thiếu khung pháp lý đồng bộ về xây dựng Chính phủ điện tử như quy định về quản lý và kết nối cơ sở dữ liệu; bảo mật thông tin cá nhân; xác thực và định danh điện tử; lưu trữ điện tử…
Trong khi, thực tế đã chứng minh, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tạo ra sự minh bạch, công khai, vì tất cả đều lưu vết trong quá trình xử lý. Như vậy, việc chậm trễ, gây khó khăn cho người dân, DN sẽ được giảm bớt.
Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, yêu cầu của xã hội điện tử, xã hội thông minh, Chính phủ kiến tạo hướng tới xã hội số, nền kinh tế số, chúng ta phải thay đổi hẳn tư tưởng, tư duy, cách nghĩ, cách làm lâu nay.
“Thay vì cứ phải gặp người dân, DN và yêu cầu họ nộp hồ sơ, phải đi lại nhiều lần, thì nay làm trên nền điện tử hết”, ông Dũng nói và cho rằng, để làm được việc đó, đòi hỏi những người làm cải cách phải dám loại bỏ lợi ích cục bộ, cá nhân, rào cản.
“Cải cách mà luôn chỉ lo nghĩ co kéo về mình thì không bao giờ làm được. Cải cách phải tiên phong, gương mẫu, mà mình không gương mẫu thì không nói ai được… Đây là yêu cầu rất cao của Thủ tướng với đội ngũ xây dựng Chính phủ điện tử”, Bộ trưởng cho hay.
Thủ tướng cũng đã yêu cầu, trong tháng 1/2020, Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì trình dự thảo Nghị định về định danh và xác thực điện tử. Bộ Công an trình đề xuất xây dựng Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Văn phòng Chính phủ trình dự thảo Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Một yêu cầu nữa là các bộ, ngành, địa phương cần sử dụng cán bộ trẻ có năng lực, không để “chảy máu” chất xám đối với lĩnh vực công nghệ thông tin; nhanh chóng triển khai các cơ sở dữ liệu chuyên ngành chia sẻ với nhau. Dịch vụ công trên nền tảng số phải được xây dựng thuận tiện, thân thiện, mang lại lợi ích thiết thực cho người sử dụng…
Theo kế hoạch, trong quý I năm 2020, các bộ, ngành, địa phương sẽ tích hợp lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia 15 dịch vụ công thuộc các lĩnh vực thuế cá nhân, hải quan, đăng ký kinh doanh, y tế, lao động, khai sinh, giao dịch bảo đảm, lý lịch tư pháp, thu phạt vi phạm giao thông đường bộ… (Thanhtra.com.vn 1/2, Thảo Nguyên) Về đầu trang
Ngành Tài chính cải thiện môi trường kinh doanh
Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ký ban hành Quyết định số 17/QĐ-BTC Ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.
Liên quan đến nâng xếp hạng chỉ số Nộp thuế, căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính, Bộ Tài chính cho biết, trong lĩnh vực thuế có 21 sản phẩm đầu ra.
Cụ thể, Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi thể chế chính sách như Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Các văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết Nghị quyết của Quốc hội về khoanh tiền nợ thuế, xoá tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước.
Trình Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và ban hành theo thẩm quyền các thông tư để triển khai Nghị định của Chính phủ. Nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi Nghị định 139/2016/NĐ-CP ngày 04/10 /2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài theo hướng lùi thời hạn khai, nộp lệ phí môn bài vào ngày 30/01 của năm kế tiếp trong quý I năm 2020.
Tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng hoá đơn điện tử; Nộp thuế điện tử đối với hoạt động cho thuê nhà, nộp thuế điện tử lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; Giám sát việc thực thi quy định đối với thủ tục đặt in/ tự in hóa đơn và thông báo phát hành đảm bảo đúng thời hạn 04 ngày theo quy định.
Tiếp tục cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, qua đó cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Rà soát, hoàn thiện tài liệu về chỉ số nộp thuế đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.
Đồng thời tập huấn hướng dẫn để bảo đảm các bộ, cơ quan, địa phương có cách hiểu đúng, đầy đủ, thống nhất về chỉ số nộp thuế. Cùng với đó, làm việc với các tổ chức quốc tế có liên quan để cung cấp, cập nhật đầy đủ thông tin cần thiết về kết quả cải cách trong lĩnh vực thuế để bảo đảm đánh giá, xếp hạng chỉ số nộp thuế khách quan, chính xác; Thực hiện thông tin đối ngoại để giới thiệu về kết quả đánh giá, xếp hạng hàng năm.
Quyết định cũng nêu rõ các sản phẩm đầu ra để: Nâng xếp hạng chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới; Nâng xếp hạng chỉ số Vốn hóa thị trường chứng khoán; Những cải cách thuộc lĩnh vực quản lý nợ công và quản lý tài sản công; Về thị trường tài chính, kinh doanh bảo hiểm…
Cùng với đó là việc thực hiện các nhiệm vụ khác như: Tiếp tục rà soát cắt giảm, đơn giản điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính. Cập nhật và công bố, công khai các thủ tục hành chính liên quan đến cấp các loại giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đã được đơn giản hóa trong giai đoạn 2018-2020. Lập và báo cáo phương án bãi bỏ, đơn giản hoá các điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý được quy định tại các luật của Quốc hội. Tiếp tục công khai các điều kiện đầu tư kinh doanh trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính… (Baophapluat.vn 3/2, Tô My) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Phát hiện sai phạm hơn 2 tỉ đồng ở quận Thốt Nốt
Ngày 2-2, nguồn tin của PLO cho biết Thanh tra TP. Cần Thơ vừa có thông báo kết luận về việc thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng tại UBND quận Thốt Nốt, đã chỉ ra nhiều sai phạm với tổng số tiền hơn 2,2 tỉ đồng.
Cụ thể, Ban Quản lý dự án lập dự toán còn thiếu nguồn, sai mẫu biểu; chưa lập Phương án tự chủ tài chính; một số nội dung chi chưa đúng quy định, chưa xử lý số dư cuối kỳ nộp ngân sách… Đoàn thanh tra yêu cầu Ban Quản lý dự án nộp lại với tổng số tiền hơn 363 triệu (trong đó, số tiền chi sai từ 2016-2018 hơn 362 triệu đồng).
Thanh tra phát hiện phòng Tài chính - Kế hoạch chưa lập dự toán, lập báo cáo tài chính, quyết toán đối với nguồn thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; chưa quản lý tốt việc mua sắm văn phòng phẩm, tiếp khách; chi và quyết toán vượt định mức chi phí quản lý hành chính năm 2018… tổng số tiền hơn 348 triệu.
Đáng chú, đoàn thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng các dự án công trình, nâng cấp sửa chữa, mua sắm tài sản công. Cụ thể, kiểm tra ngẫu nhiên một số dự án cho thấy còn một số thiếu sót hạn chế trong công tác lập dự toán, quản lý, giám sát, tổ chức thi công dẫn đến việc đơn vị thi công thực hiện chưa đúng theo hồ sơ đã phê duyệt với tổng số tiền là hơn 1,5 tỉ đồng.
Các đơn vị có sai phạm là Ban quản lý dự án quận gần 349 triệu; Phòng Quản lý đô thị quận thực hiện một số nội dung thanh toán thiếu thủ tục, mẫu biểu; chưa quản lý tốt việc photo; thực hiện công tác lập dự toán thanh toán chưa đúng quy định. Trong đó công tác duy tu, bảo dưỡng công viên cây xanh Đô thị do Hợp tác xã Hân Phát thực hiện không đúng quy định về thuế giá trị gia tăng 10% hơn 1 tỉ đồng; Công tác chiếu sáng công cộng do Công ty TNHH Thiên Tân thực hiện không đúng quy định về thuế giá trị gia tăng 10% hơn 123 triệu.
Cạnh đó, thanh tra xác định UBND quận thực hiện công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại một số trường hợp chưa đúng quy định, thời điểm bổ nhiệm còn thiếu chứng chỉ quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên, thiếu chứng chỉ ngoại ngữ B, thiếu bằng trung cấp lý luận chính trị. UBND quận cũng chưa xây dựng Kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác năm 2016 đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý…. (PLo.vn 2/2, Hải Dương) Về đầu trang
Bổ nhiệm cán bộ trái quy định, giám đốc sở tự nhận kỷ luật khiển trách
Ngày 2-2, Sở Nội vụ Gia Lai đã có báo cáo gửi UBND tỉnh Gia Lai về kết quả xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan đến việc điều động, bổ nhiệm cán bộ không đúng quy định tại Sở LĐ-TB-XH Gia Lai.
Theo đó, tập thể lãnh đạo Sở LĐ-TB-XH Gia Lai đã nhận rõ khuyết điểm, vi phạm Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
Đối với cá nhân, bà Trần Thị Hoài Thanh, Giám đốc Sở này tự nhận mức kiểm điểm kỷ luật khiển trách; ông Lê Minh Lộc, Chánh văn phòng Sở tự nhận mức kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc.
Như tin đã đưa, tháng 1-2020, Giám đốc Sở LĐ-TB-XH Gia Lai đã ký quyết định điều động, bổ nhiệm đối với các ông: Trần Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm giữ chức vụ Trưởng phòng Lao động việc làm; ông Lê Minh Lộc, Chánh văn phòng sở giữ chức Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm; ông Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kinh Tế - Kỹ thuật Nam Gia Lai giữ chức vụ Chánh văn phòng sở.
Sở Nội vụ Gia Lai xác định căn cứ các quy định hiện hành thì Sở LĐ-TB-XH thực hiện tiếp nhận, điều động công chức, viên chức vào ra khỏi biên chế hành chính và ngược lại từ biên chế sự nghiệp vào biên chế hành chính là trái với quy định pháp luật hiện hành và phân cấp quản lý của tỉnh.
Sở Nội vụ Gia Lai đề nghị Sở LĐ-TB-XH thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu theo Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; đề nghị Sở LĐ-TB-XH hủy bỏ các quyết định nói trên, thực hiện theo đúng quy định của Đảng và pháp luật hiện hành.
Được biết, bà Trần Thị Hoài Thanh nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 1-2-2020. (Sggp.org.vn 2/2, Hữu Phúc) Về đầu trang
Nhiều sai sót trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức tại Hải Phòng
Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý... thuộc thẩm quyền quản lý của UBND thành phố Hải Phòng (giai đoạn từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/8/2019), Thanh tra Bộ Nội vụ phát hiện nhiều sai phạm và kiến nghị tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm.
Theo Kết luận thanh tra, UBND thành phố Hải Phòng đã sử dụng các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Thành ủy Hải Phòng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản làm cơ sở pháp lý để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Tuy nhiên, UBND thành phố chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung Quyết định số 2090/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 để phù hợp với Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và Hướng dẫn số 60/HD-BCS ngày 6/6/2017 của Ban cán sự Đảng UBND thành phố. Về quản lý biên chế công chức, UBND thành phố Hải Phòng quyết định giao chỉ tiêu biên chế công chức hành chính cho Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch thành phố là không đúng quy định.
Kiểm tra việc thi tuyển, xét tuyển công chức tại Hải Phòng, Thanh tra Bộ Nội vụ phát hiện nhiều sai sót. Cụ thể, UBND thành phố Hải Phòng không thông báo công khai việc điều chỉnh chỉ tiêu tuyển dụng do dừng tuyển dụng 1 vị trí. Hội đồng tuyển dụng công chức năm 2016 được thành lập trước khi hết thời hạn nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển. Bên cạnh đó, một số cơ quan, tổ chức không ban hành quyết định cử người hướng dẫn tập sự đối với các trường hợp phải thực hiện chế độ tập sự. Một số trường hợp có quyết định thuyên chuyển công tác khi đang trong thời gian thực hiện chế độ tập sự.
Kết luận thanh tra cũng chỉ rõ, theo báo cáo của UBND thành phố Hải Phòng, trong giai đoạn thanh tra đã tiếp nhận không qua thi tuyển đối với 75 trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng, qua kiểm tra cho thấy UBND thành phố Hải Phòng cơ bản thực hiện trình tự, thủ tục và thẩm quyền tiếp nhận theo quy định. Tuy nhiên, còn có trường hợp được tuyển dụng công chức trong trường hợp đặc biệt vào Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hải Phòng không đảm bảo quy định, đến nay đã tự khắc phục thu hồi quyết định tuyển dụng. Ngoài ra, một số cơ quan, tổ chức hành chính sử dụng viên chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trước khi được tuyển dụng vào công chức trong trường hợp đặc biệt. Thành phần Hội đồng kiểm tra, sát hạch năm 2017, 2018 không đảm bảo quy định.
Theo Thanh tra Bộ Nội vụ, trong lĩnh vực xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên, có trường hợp thành phần của Hội đồng kiểm tra, sát hạch không có ủy viên là người đứng đầu cơ quan, tổ chức dự kiến bố trí công chức được xét chuyển.
Đáng chú ý, về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại Hải Phòng còn có trường hợp chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo theo quy định của Thành ủy Hải Phòng và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Một số trường hợp thời điểm bổ nhiệm lại chậm so với quy định. Có trường hợp hồ sơ bổ nhiệm chưa có các văn bản thể hiện đầy đủ trình tự 5 bước theo Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
Về số lượng cấp phó của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, còn cơ quan, tổ chức có phòng chuyên môn vượt cấp phó theo quy định và chỉ đạo của UBND thành phố.
Để khắc phục những sai sót nêu trên, Thanh tra Bộ Nội vụ kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng thực hiện và chỉ đạo thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý biên chế công chức; tuyển dụng công chức. Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm đối với các hạn chế, tồn tại có liên quan nêu trong Kết luận thanh tra.
Thanh tra Bộ Nội vụ cũng kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để có hình thức xử lý theo quy định. (Daidoanket.vn 3/2, Đức Sơn) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Xây dựng nền hành chính hiện đại phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân
“Đẩy mạnh hiện đại hóa hành chính trong các lĩnh vực hành chính tư pháp để phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân. Trong đó tập trung vào những lĩnh vực như hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, đăng ký biện pháp bảo đảm” - Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chương trình hành động của ngành tư pháp vừa được ban hành.
Chương trình hành động nhằm thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ gồm: Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.
Theo đó, trong năm 2020, ngành tư pháp sẽ thực hiện đồng bộ, hiệu quả Phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch; triển khai đồng bộ, hiệu quả Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung; đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Tiếp tục tăng số dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết ở cấp độ 4; cho phép người dân, DN thanh toán không dùng tiền mặt bằng nhiều phương tiện khác nhau; tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia theo lộ trình; đẩy mạnh phương thức tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích.
Cùng với đó, ngành tư pháp cũng sẽ chú trọng kiểm soát chặt chẽ việc quy định thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, danh mục hàng hóa, sản phẩm kiểm tra chuyên ngành ngay từ khâu soạn thảo. Chú trọng công tác kiểm tra, xử lý văn bản theo thẩm quyền, nhất là những văn bản có tác động trực tiếp, rộng rãi đến người dân và DN.
Tiếp tục thực hiện các giải pháp về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định hướng dẫn các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch bảo đảm, trong đó hoàn thiện các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán... theo hướng đơn giản hóa quy định về hồ sơ và thực hiện triển khai đăng ký, sửa đổi, bổ sung, xóa đăng ký biện pháp bảo đảm theo phương thức trực tuyến. Phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giao dịch điện tử về đất đai, trong đó có đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
Các nhiệm vụ quan trọng khác cũng đã được đề cập đến trong Chương trình hành động của ngành tư pháp trong năm 2020 như: Tham mưu giúp Chính phủ hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật; nâng cao chất lượng thẩm định các đề nghị xây dựng, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; hoàn thiện thể chế pháp luật liên quan đến thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; tăng cường quản lý Nhà nước và nâng cao chất lượng các dịch vụ công trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp…
Trước đó, trong năm 2019, Bộ, ngành tư pháp đã giải quyết được số lượng lớn yêu cầu của người dân, DN trong lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp; nhất là trong việc thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp, chứng thực, công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm.
Tại các địa phương, năm 2019 số Phiếu lý lịch tư pháp đã cấp tăng rất nhiều so với năm 2018 và tăng hơn gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ. Cụ thể: Đã cấp được tổng số 768.933 Phiếu lý lịch tư pháp (tăng tới 42,6 % so với năm 2018). Bộ Tư pháp đã cấp 15.204 Phiếu lý lịch tư pháp của người nước ngoài đã từng cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam không có nơi thường trú, tạm trú (tăng hơn 1,4 lần so với năm 2018). Phối hợp với Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an và CA các tỉnh/ TP tra cứu, xác minh 484.634 trường hợp cho các Sở Tư pháp cấp phiếu.
Trong năm, toàn ngành đã chứng thực 102,4 triệu bản sao, thực hiện được hơn 8,5 triệu việc chứng thực hợp đồng, giao dịch, chữ ký và các văn bản thỏa thuận khác (tăng 3% so với năm 2018), tạo điều kiện thuận lợi để người dân, DN thực hiện các quyền hợp pháp của mình. (Phapluatxahoi.vn 1/2, Thanh Hải) Về đầu trang
Quyết tâm và bền bỉ, cải cách sẽ thành công
Kể từ 2014, hàng năm Chính phủ đều ban hành Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh. Từ 2019, Nghị quyết này được “đánh số” 02 với hàm ý coi đây là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ cùng với Nghị quyết 01 về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước. TS. PHAN ĐỨC HIẾU, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 02, tư duy thực hiện cải cách đã bắt đầu ngấm dần vào các bộ, ngành.
- Việc Chính phủ nhiều năm nay ban hành Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo ông có ý nghĩa như thế nào?
- Nghị quyết này được xem là nền tảng và tôi muốn nhấn mạnh tới việc đưa tư duy cải cách thành “cái nếp” trong mỗi bộ, ngành. Trước đây mỗi khi Chính phủ có chương trình cải cách, có thể chỉ thực hiện như một nhiệm vụ, xong thì thôi. Như vậy sẽ tìm mọi cách để cố gắng thực hiện cho xong. Còn hiện nay, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 02, tư duy thực hiện cải cách đã bắt đầu “ngấm” dần vào các bộ, ngành. Khi bắt đầu xây dựng một chính sách mới, người ta đã chú ý hơn tới chất lượng của chính sách.
Trước đây chúng ta cứ báo cáo lên bộ làm rất nhiều văn bản, cải tiến rất nhiều quy trình, cứ như vậy được xem là cải cách và được ghi nhận. Nhưng bây giờ Chính phủ không ghi nhận điều đó. Chính phủ chỉ ghi nhận cải cách khi cải cách đó tác động đến cắt giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Lúc đó Chính phủ mới coi đó là một cải cách. Cách tiếp cận như vậy của Chính phủ khiến cho mỗi một cải cách đều có tác động ngay lập tức, thiết thực. Nếu “anh” thực hiện rất nhiều hoạt động mà trước đây được gọi là cải cách nhưng vẫn chưa có tác động đến doanh nghiệp thì không xem đấy là cải cách theo ghi nhận của Nghị quyết 02.
- Theo ông, Nghị quyết 02/2020 có điểm gì nổi bật, khác biệt so với năm 2019?
- Nghị quyết 02/2019 là một hệ thống toàn diện các giải pháp và năm nay, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện đầy đủ, nhất quán và hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đề ra tại Nghị quyết đó. Năm 2020, Nghị quyết 02 nhấn mạnh hơn một số nhiệm vụ trọng tâm, cải cách ưu tiên để tạo ra đột phá. Về tổ chức thực hiện, Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của cơ quan đầu mối, không chỉ là cơ quan theo dõi, đôn đốc mà còn phải hỗ trợ chuyên môn và cùng làm việc, chia sẻ trách nhiệm với các cơ quan liên quan.
Về môi trường kinh doanh, Nghị quyết năm nay xác định ưu tiên cải cách một số nhóm lĩnh vực. Về chỉ số khởi sự kinh doanh, Nghị quyết đề cập cụ thể hơn những giải pháp mang lại tác động tích cực, thực chất, lan tỏa cho cộng đồng doanh nghiệp. Nghị quyết cũng nhấn mạnh các giải pháp phát triển thị trường vốn và bảo vệ quyền tài sản. Những nội dung cải cách này cũng có tác động kép, giúp phát huy tốt nhất các nguồn lực.
Một trọng tâm cải cách khác là điều kiện kinh doanh. Năm nay Chính phủ sẽ hướng tới cả điều kiện kinh doanh trong các luật. Cùng với đó, kiểm soát chặt chẽ hơn các điều kiện mới phát sinh. Nghị quyết còn yêu cầu đẩy mạnh truyền tải thông tin về các điều kiện kinh doanh được cắt giảm.
Nhóm ưu tiên thứ ba là cải cách kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu. Quan điểm được nhấn mạnh là quán triệt để nguyên tắc quản lý rủi ro, kiểm tra theo xác suất, chuyển mạnh từ chủ yếu thực hiện kiểm tra tại giai đoạn thông quan hàng hóa sang chủ yếu giám sát tại thị trường nội địa, áp dụng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Hoàn thành rà soát, cắt giảm thực chất 50% số mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành.
Một trọng tâm nữa là đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Đây cũng là giải pháp tác động nhiều mặt. Nó giúp đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, vì hiện khâu vướng nhất trong dịch vụ công trực tuyến vẫn là thanh toán. Cùng với đó, góp phần giảm chi phí không chính thức qua việc giảm tiếp xúc trực tiếp.
- Nghị quyết 02/2019 đưa ra nhiều nhiệm vụ và giải pháp nhằm đưa Việt Nam vào nhóm ASEAN 4 (đến năm 2021) nhưng thực tế, môi trường kinh doanh của Việt Nam dù tăng điểm song vẫn tụt hạng (là năm thứ 2 liên tiếp và cùng tụt 1 bậc) khiến mục tiêu ASEAN 4 sẽ càng khó khăn hơn. Những giải pháp trong Nghị quyết 02/2020 liệu có đủ bảo đảm chúng ta đạt mục tiêu này không thưa ông?
- Có thể nói, việc đặt mục tiêu đưa môi trường kinh doanh nước ta vào nhóm 4 nước ASEAN và duy trì là một thách thức, đòi hỏi nỗ lực cải cách và giải pháp cải cách mạnh mẽ hơn, nhanh hơn không chỉ so với chính chúng ta mà còn với quốc gia khác. Cải cách càng sau này càng đòi hỏi sự phối hợp, hợp tác của rất nhiều cơ quan khác nhau và nhiều trường hợp, cải cách chỉ thành công nếu tất cả cơ quan có liên quan cùng chuyển động. Tuy nhiên, cơ hội nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh còn rất lớn.
Theo tôi đây không phải là mục tiêu khả thi hay không mà là việc buộc chúng ta phải làm. Ở góc độ cá nhân tôi còn muốn mục tiêu này phải cao hơn. Việt Nam muốn phát triển, cạnh tranh với các nước chúng ta phải đạt được mục tiêu ASEAN 4. Vấn đề lớn nhất hiện là tất cả bộ, ban, ngành và Quốc hội cùng nhau đồng tâm hiệp lực, phối hợp chặt chẽ với nhau. Cần nhấn mạnh với vai trò của Quốc hội trong việc cải cách thể chế. Trong bối cảnh cải cách mới, vai trò của Quốc hội đặc biệt quan trọng. Đây là một kênh sàng lọc, nâng cao chất lượng thể chế ở tầm Luật.
- Theo ông, đâu là hướng đi cho năm 2020 và năm tiếp theo?
- Tới đây, yêu cầu và dư địa cải cách thể chế nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh còn rất lớn. Thời gian qua, quyết tâm, nỗ lực và giải pháp cải cách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh của Chính phủ và các bộ đang cho thấy tính đúng đắn và đạt được kết quả tích cực. Chương trình cải cách là khá tổng thể, đầy đủ và chi tiết. Việc thực thi các nhiệm vụ cải cách theo yêu cầu của Chính phủ có những chuyển biến tốt và xuất hiện sự tích cực, tiên phong của một số bộ, cơ quan. Kiên định, quyết tâm và bền bỉ tiếp tục cải cách thể chế mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh sẽ nhất định thành công.
- Xin cảm ơn ông! (Daibieunhandan.vn 3/2, Nhật Trường) Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Ông Mohammed Tawfiq Allawi trở thành tân Thủ tướng của Iraq
Ngày 1/2, Tổng thống Iraq Barham Salih đã chỉ định ông Mohammed Tawfiq Allawi làm tân Thủ tướng của nước này, thay cho ông Adil Abdul Mahdi mới tuyên bố từ chức.
Ông Allawi sẽ có nhiệm vụ thành lập một chính phủ mới trong vòng một tháng, ông được cho là sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn các vị trí vào nội các do sự ganh đua của các đảng phái, vốn đã làm kéo dài tình trạng bế tắc chính trị tại quốc gia Trung Đông này.
Ông Allawi cho biết ông sẽ có thể từ chức nếu các phe phái chính trị tại Iraq cố tình áp đặt các ứng viên cho các vị trí nông nội các.
Cựu Thủ tướng Abdul-Mahdi đã phải từ chức hồi tháng 11/2019 do làn sóng biểu tình phản đối Chính phủ tại Iraq bùng phát yêu cầu loại bỏ các chính trị gia tham nhũng và không đủ năng lực lãnh đạo đất nước./. (Thanhtra.com.vn 2/2, Đào Lâm) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/1/2020 (31/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/1/2020 (30/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/1/2020 (22/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 21/1/2020 (21/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 20/1/2020 (20/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/1/2020 (17/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/1/2020 (16/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/1/2020 (16/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 14/1/2020 (16/01/2020)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 13/1/2020 (16/01/2020)

