Bản tin cải cách hành chính ngày 28/2/2020

15:11, Thứ Sáu, 28-2-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Quý II cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, thường trú

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội triển khai rà soát, đánh giá thủ tục hành chính năm 2020

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ, giảm một số loại phí cho doanh nghiệp

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

4. Đề xuất công chức được bổ nhiệm lãnh đạo cấp phòng phải có thời gian làm chuyên môn tối thiểu 3 năm

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

5. Duy trì “phong độ" cải cách hành chính trong ngành Tài chính

6. Thủ tục hành chính vẫn nhiêu khê

7. Khi "giấy phép nằm trong giấy phép"?

8. Đề xuất xử lý kỷ luật cán bộ nghỉ hưu có sai phạm khi công tác: Chấm dứt “tư duy nhiệm kỳ”, “hạ cánh an toàn”

TIN THẾ GIỚI

9. Nigeria: Những lo ngại xung quanh việc thu hồi tài sản tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Quý II cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, thường trú

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về thực hiện một số nhiệm vụ vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Xét báo cáo của Văn phòng Chính phủ và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 12-3-2019, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam giao Bộ Tư pháp hoàn thiện Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử tập trung của Bộ để khai thác, sử dụng các hạ tầng dùng chung đã được xây dựng trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, như: Xác thực, định danh người dùng, nền tảng thanh toán tập trung; kết nối, đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính để theo dõi tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý I-2020.

Bộ Tư pháp nghiên cứu, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, đơn giản hóa thủ tục hành chính làm cơ sở để tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đối với các thủ tục: Đăng ký khai sinh; cấp phiếu lý lịch tư pháp; nhóm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm. Thời hạn hoàn thành trước ngày 10-3-2020.

Trước ngày 10-3-2020, Bộ Tư pháp hoàn thành tích hợp, chia sẻ dữ liệu hệ thống đăng ký khai sinh với Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh để cung cấp dịch vụ công trực tuyến đăng ký khai sinh trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu, tổ chức tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý II-2020.

Bộ Tư pháp tích hợp hệ thống đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh để thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp phiếu lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tư pháp và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với nhóm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, hoàn thành trước ngày 10-3-2020.

Bộ Tư pháp đẩy mạnh kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng Dịch vụ công quốc gia để thực hiện thanh toán trực tuyến phí, lệ phí... trong giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ nghiên cứu, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, đơn giản hóa thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, nhất là việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp làm cơ sở để tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đáp ứng yêu cầu đơn giản, thuận tiện, rút ngắn thời gian thực hiện; thực hiện việc chia sẻ dữ liệu thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ cho việc cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ kết nối, tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Bộ Y tế nghiên cứu, xây dựng chính sách, chỉ đạo các bệnh viện, cơ sở y tế có thẩm quyền cấp giấy chứng sinh điện tử cho cá nhân để tích hợp, chia sẻ dữ liệu phục vụ đăng ký khai sinh trực tuyến.

Phó Thủ tướng giao Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ kết nối, tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Văn phòng Chính phủ để tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế và cấp phiếu lý lịch tư pháp với hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp tỉnh; thực hiện tích hợp, cung cấp dịch vụ đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế và cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý I-2020.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến thủ tục liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn hoàn thành trong quý II-2020. (Hanoimoi.com.vn 27/2) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội triển khai rà soát, đánh giá thủ tục hành chính năm 2020

UBND TP Hà Nội yêu cầu hoạt động rà soát, đánh giá thủ tục hành chính phải được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm.

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 45/KH-UBND triển khai rà soát, đánh giá thủ tục hành chính năm 2020 trên địa bàn thành phố.

Theo đó, cùng với việc triển khai thực hiện theo tiến độ cụ thể thành phố giao theo kế hoạch này, các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã, UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố có trách nhiệm tổ chức rà soát TTHC thường xuyên theo quy định của pháp luật.

Căn cứ kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC, UBND thành phố giao các cơ quan được giao chủ trì rà soát, đánh giá TTHC hoặc nhóm TTHC, quy định hành chính có liên quan tập trung tiến hành rà soát theo yêu cầu về mục tiêu và tiến độ của kế hoạch; tổng hợp kết quả rà soát, đánh giá TTHC và dự thảo quyết định phê duyệt phương án đơn giản hóa, sáng kiến cải cách TTHC, gửi Văn phòng UBND thành phố xem xét, đánh giá chất lượng.

Văn phòng UBND thành phố có ý kiến, gửi đơn vị được giao chủ trì rà soát, đánh giá TTHC để hoàn thiện dự thảo quyết định phê duyệt phương án đơn giản hóa TTHC và trình Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt theo quy định.

Trong quá trình thực hiện kế hoạch này, các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã, UBND các xã, phường, thị trấn nếu phát hiện quy định, TTHC nào đang thực hiện có mâu thuẫn, chồng chéo, có nhiều ý kiến phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp kịp thời báo cáo UBND thành phố. Kế hoạch này có thể được điều chỉnh hoặc bổ sung theo đề nghị của Chánh Văn phòng UBND thành phố.

UBND thành phố yêu cầu các cấp, các ngành trong hoạt động rà soát, đánh giá TTHC phải được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm; bảo đảm một TTHC được thực hiện là cần thiết, hợp lý, hợp pháp, với chi phí thực hiện thấp nhất, lợi ích đạt được cao nhất… (Phapluatxahoi.vn 27/2, HP) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ, giảm một số loại phí cho doanh nghiệp

Bộ Tài chính vừa hoàn thiện dự thảo thông tư, đề xuất sửa đổi một số nội dung quy định tại Biểu mức thu phí thẩm định điều kiện hoạt động bưu chính, với mức giảm mạnh. Theo đó, Bộ đề xuất bãi bỏ phí thẩm định cấp giấy phép nhập khẩu tem bưu chính.

Mới đây, Bộ Tài chính đề xuất giảm và bãi bỏ một số khoản phí thẩm định điều kiện hoạt động bưu chính. Đây là kết quả của việc trong thời gian vừa qua, Bộ Tài chính tiếp tục rà soát để giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Loại phí này hiện quy định là 1 triệu đồng/lần. Ngoài ra, dự kiến giảm mức phí thẩm định thay đổi các nội dung khác trong giấy phép, từ 3 triệu đồng/lần xuống còn 1,5 triệu đồng/lần. Mức phí thẩm định cấp lại giấy phép bưu chính khi bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, giảm từ 2,5 triệu đồng/lần xuống còn 1 triệu đồng/lần.

Trước đó, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư, trong đó quy định giảm một số mức phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp. Ví dụ, phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp được giảm từ 300.000 đồng xuống còn 100.000 đồng/lần. Phí cung cấp thông tin doanh nghiệp theo tài khoản từ 125 bản/tháng trở lên giảm từ 5 triệu đồng/tháng xuống còn 4,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, một số đối tượng được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp lần đầu, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh.

Nhìn lại năm 2019, ngay từ tháng đầu năm, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư bãi bỏ một số thông tư trong lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu. Tính chung cả năm, Bộ đã ban hành 9 thông tư sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực phí, lệ phí. Trước đó, trong 2 năm (2017-2018), Bộ Tài chính đã ban hành 16 thông tư miễn, giảm nhiều loại phí, lệ phí cho doanh nghiệp. Về mức giảm, tùy theo từng khoản phí, lệ phí, mức giảm trong khoảng từ 5% - 25% so với mức hiện hành, cá biệt có một số khoản phí điều chỉnh mức giảm lớn hơn từ 60% - 90%.

Theo ông Phạm Đình Thi – Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính), việc bãi bỏ quy định thu một số khoản phí, lệ phí đã giảm chi phí cho doanh nghiệp. Mức miễn, giảm phí, lệ phí tuy không nhiều, nhưng thể hiện sự chia sẻ giữa nhà nước và doanh nghiệp. Tuy về ngắn hạn có thể giảm thu ngân sách, nhưng về dài hạn doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi sẽ tạo ra nhiều nguồn thu thuế và nhiều việc làm cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thực hiện chủ trương Chính phủ kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, trong lĩnh vực quản lý của mình, bên cạnh việc rà soát để giảm phí, lệ phí cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã không ngừng cải cách thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thu nộp thuế; nghiên cứu giảm thời gian, hồ sơ, giấy tờ và chi phí thực hiện thủ tục hành chính liên quan trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã hoàn thiện cơ chế, chính sách, bãi bỏ rào cản, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý; đồng thời, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để bãi bỏ quy định hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh thực hiện. Trong thời gian tới, đây vẫn là hướng ưu tiên của Bộ Tài chính để tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Chính phủ để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Quy định miễn, giảm mức thu một số khoản phí, lệ phí thời gian qua của Bộ Tài chính đã nhận được sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề. Đây là động thái thiết thực, cụ thể, thể hiện sự đồng hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cùng chung sức hỗ trợ doanh nghiệp, tiết giảm chi phí đầu vào, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo ông Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, việc Bộ Tài chính liên tục trong những năm gần đây rà soát các quy định để tiếp tục giảm phí, lệ phí cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chuyển đổi từ hộ kinh doanh là hết sức cần thiết. Việc cắt giảm thủ tục hành chính cũng như miễn, giảm một số khoản phí, lệ phí chính là tiền bạc, là cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa thêm sức cạnh tranh.

Ông Mạc Quốc Anh cho rằng, hiện vẫn còn dư địa để cơ quan quản lý tiếp tục rà soát, cắt giảm một số khoản phí, lệ phí cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thử thách như hiện nay. (Tapchitaichinh.vn 27/2, D.Bùi) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đề xuất công chức được bổ nhiệm lãnh đạo cấp phòng phải có thời gian làm chuyên môn tối thiểu 3 năm

Để tránh việc bổ nhiệm “thần tốc” và bảo đảm nguyên tắc đánh giá cán bộ, công chức trong 3 năm gần nhất khi xem xét bổ nhiệm, cơ quan soạn thảo đề xuất thời gian đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp phải từ 3 năm trở lên.

Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo Nghị định quy định tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính Nhà nước với các tiêu chí cụ thể.

Đối tượng điều chỉnh của dự thảo Nghị định này là công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở bộ, cơ quan ngang bộ; ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 11 nhóm chức vụ (từ thứ trưởng đến trưởng, phó phòng thuộc huyện).

Dự thảo nghị định đề xuất tiêu chuẩn áp dụng chung đối với các chức danh công chức lãnh đạo, quản lý gồm: Tiêu chuẩn chung về chính trị tư tưởng; tiêu chuẩn chung về đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và tiêu chuẩn chung về sức khỏe, độ tuổi. Những nội dung này được xây dựng trên cơ sở khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý tại Quy định số 89-QĐ/TW. Trong đó, tiêu chuẩn cho mỗi chức danh được thiết kế gồm 4 nhóm tiêu chuẩn về vị trí chức trách, năng lực, kinh nghiệm công tác và trình độ.

Trong đó, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu phải tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với ngành, lĩnh vực công tác. Về lý luận chính trị, với lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, phải có trình độ Cao cấp lý luận chính trị; với lãnh đạo cấp vụ phó thuộc tổng cục, trưởng phòng, yêu cầu phải có trình độ trung cấp lý luận chính trị.

Với lãnh đạo cấp phó phòng không quy định bắt buộc phải có trình độ lý luận chính trị để phù hợp với thực tế có trường hợp được bổ nhiệm chưa phải là đảng viên, hoặc thi tuyển lãnh đạo cấp phòng cho phép người chưa là đảng viên được dự thi.

Về kinh nghiệm công tác, Dự thảo Tờ trình cho biết theo Quy định số 214-QĐ/TW và Quy định số 89-QĐ/TW của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chung đối với chức danh thứ trưởng và các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp đều có yêu cầu cán bộ, công chức phải đã kinh qua và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp.

Tuy nhiên, Bộ Chính trị chưa quy định cụ thể thời gian đảm nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp là bao nhiêu. Do vậy, để tránh việc bổ nhiệm “thần tốc” và bảo đảm nguyên tắc đánh giá cán bộ, công chức trong 3 năm gần nhất khi xem xét bổ nhiệm, cơ quan soạn thảo đề xuất thời gian đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp phải từ 3 năm trở lên. Với lãnh đạo cấp phòng thì phải có thời gian làm chuyên môn tối thiểu là 3 năm.

Bên cạnh đó, về tiêu chuẩn trình độ ngoại ngữ, Dự thảo Tờ trình cho biết tại Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII có xác định mục tiêu: Đến năm 2030, đối với cán bộ cấp chiến lược từ 40-50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương từ 50-60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương từ 25-35% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Tuy nhiên, theo Bộ Nội vụ, tại Quy định số 214-QĐ/TW và Quy định số 89-QĐ/TW của Bộ Chính trị chỉ yêu cầu trình độ tin học và ngoại ngữ cần thiết và phù hợp. Do vậy, để phù hợp với thực tiễn công tác cán bộ hiện nay, Bộ Nội vụ đề xuất không quy định cụ thể yêu cầu về trình độ tin học, ngoại ngữ tại dự thảo Nghị định này mà sẽ thực hiện theo quy định của từng bộ, ngành, địa phương (kể cả trường hợp quy định sử dụng tiếng dân tộc thay cho tiêu chuẩn ngoại ngữ) cho phù hợp.

Việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp triển khai kế hoạch riêng theo yêu cầu của Nghị quyết số 26-NQ/TW và Quyết định số 1659/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sẽ được triển khai theo kế hoạch riêng. (Phapluatxahoi.vn 27/2, H.L) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Duy trì “phong độ" cải cách hành chính trong ngành Tài chính

Có thể nói, trong công cuộc cải cách, hiện đại hóa để hỗ trợ tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, ngành Tài chính không chỉ là đơn vị tiên phong mà còn liên tục duy trì được “phong độ” qua nhiều năm. Năm 2020 không là ngoại lệ khi những định hướng cải cách được đề ra rõ nét, được xã hội đánh giá cao.

Theo giới chuyên gia, tất cả lĩnh vực mà ngành Tài chính quản lý đều có những kết quả nổi bật. Đặc biệt, sau thời kỳ tích cực cắt giảm thủ tục hành chính, một vài năm trở lại đây, các đơn vị của ngành Tài chính đã tập trung vào ứng dụng công nghệ thông để cải cách, hiện đại hóa hoạt động quản lý tài chính và phục vụ các doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân.

Trong lĩnh vực Hải quan, sau khi đã triển khai thành công Hệ thống VNACCS/VCIS để thực hiện tự động hóa trong khai báo, thông quan hàng hóa, ngành Hải quan đã triển khai Hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động (VASSCM). Đây là hệ thống quản lý hiện đại, được triển khai trên toàn quốc tại cảng biển, cảng hàng không có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Hệ thống này cho phép DN không phải xuất trình chứng từ giấy để cơ quan Hải quan kiểm tra, xác nhận hàng đủ điều kiện qua khu vực giám sát hải quan, giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục giao nhận hàng từ 5 đến 7 lần so với trước đây do không phải đi lại nhiều lần qua DN kinh doanh cảng, kho, bãi và cơ quan Hải quan.

Bên cạnh việc nộp thuế điện tử qua hệ thống ngân hàng thương mại, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 1737/QĐ-TCHQ sửa đổi quy trình và bộ chuẩn thông điệp nộp thuế điện tử. Chính thức từ 15/9/2019, Tổng cục Hải quan triển khai chương trình nộp thuế điện tử cho DN ủy quyền cho cơ quan Hải quan trích từ tài khoản để nộp thuế. Trong năm 2019, số tiền thuế nộp bằng phương thức điện tử đã chiếm trên 90% tổng số thuế trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu.

Trong lĩnh vực Thuế, thời gian qua, cơ quan Thuế các cấp đã triển khai mạnh mẽ hệ thống kê khai thuế, nộp thuế điện tử. Từ cuối năm 2018, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Đến nay, đã có 99,93% số DN đang hoạt động sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, có khoảng 99% DN đăng ký dịch vụ nộp thuế điện tử, thông qua ngân hàng thương mại. Đặc biệt, từ năm 2018, cơ quan Thuế các cấp đã triển khai dịch vụ hoàn thuế điện tử. Năm 2019, có 93,61% DN được hoàn thuế điện tử. Với mục tiêu tạo điều kiện tốt nhất cho người nộp thuế, ngành Thuế từng bước triển khai tích hợp 2 hệ thống khai thuế điện tử (nhantokhai.gdt.gov.vn) và nộp thuế điện tử (nopthue.gdt.gov.vn) đang cung cấp cho các doanh nghiệp thành một hệ thống duy nhất là thuedientu.gdt.gov.vn hay còn gọi là (e-Tax) và bổ sung thêm một số tính năng mới thay vì người nộp thuế phải đăng nhập vào nhiều ứng dụng khác nhau để khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế… như trước đây.

Về thủ tục hành chính, riêng trong năm 2019, Bộ Tài chính bãi bỏ 49 thủ tục hành chính, sửa đổi, bổ sung 23 thủ tục và ban hành mới 38 thủ tục trong các lĩnh vực thuế, hải quan, chứng khoán, công sản, ngân hàng và bảo hiểm để tạo thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Bộ Tài chính cũng đã hoàn thành việc kết nối liên thông gửi, nhận văn bản với các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; triển khai trực tuyến 982 thủ tục hành chính tại Bộ Tài chính (trong đó 114 dịch vụ mức độ 1; 364 dịch vụ mức độ 2; 197 dịch vụ mức độ 3 và 307 dịch vụ mức độ 4).

Mặc dù đã cải cách mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên theo PGS.TS Lê Xuân Trường - Trưởng Khoa Thuế và Hải quan, Học viện Tài chính, để thực hiện mục tiêu do Chính phủ đề ra về cải cách, hiện đại hóa ngành Tài chính và để phục vụ tốt hơn cho người dân và DN, trong thời gian tới, ngành Tài chính sẽ còn nhiều việc phải làm.

Trước hết, phải triển khai tốt Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 với các công việc quan trọng như: chuẩn bị kỹ lưỡng tham mưu để Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thi hành luật; ban hành thông tư hướng dẫn thi hành; tổ chức tập huấn đầy đủ và kỹ lưỡng… Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, tuyên truyền và hỗ trợ các DN, hộ và cá nhân kinh doanh để triển khai thành công hệ thống hóa đơn điện tử, tiến tới hoàn toàn sử dụng hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn giấy từ 1/11/2020.

Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh áp dụng hệ thống dịch vụ thuế điện tử e-Tax. Cần có những chính sách tốt thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân để hợp tác công tư trong cung cấp hạ tầng công nghệ thông tin cho triển khai các dịch vụ thuế điện tử, cần lưu ý đảm bảo an toàn và bí mật thông tin người dùng; xây dựng Trung tâm hỗ trợ dịch vụ thuế (Call center) ngoài chức năng giải đáp những vướng mắc về chính sách, có thể hướng dẫn, hỗ trợ cho người nộp thuế trong việc tiếp cận sử dụng dịch vụ thuế được thuận tiện.

Cũng theo ông Trường, việc tiếp tục nghiên cứu cắt giảm các thủ tục hành chính thuế và hải quan là cần thiết được triển khai song song với mở rộng hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động (VASSCM); đa dạng hóa các dịch vụ nộp thuế điện tử,…

Làm tốt những điều này, ngành Tài chính sẽ góp công lớn trong việc đưa Việt Nam đứng vững trong nhóm ASEAN-4 về chỉ số môi trường đầu tư và kinh doanh. (Haiquanonline.com.vn 28/2, Hồng Vân) Về đầu trang

Thủ tục hành chính vẫn nhiêu khê

Không chỉ riêng các dự án nhà ở thương mại, nhiều dự án nhà ở xã hội (NƠXH), vốn là chính sách “xương sống” của nhà nước đối với các đối tượng thu nhập thấp, cũng đã và đang phải chung cảnh bị “ngâm hồ sơ” hàng năm trời.

Đây là vấn đề nổi cộm được nhiều doanh nghiệp phản ánh tại buổi đối thoại của UBND TP HCM với chủ đầu tư các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn thành phố diễn ra mới đây. Điển hình như trường hợp chủ đầu tư dự án NƠXH Lê Thành Tân Kiên tại huyện Bình Chánh phản ánh tình trạng hồ sơ của dự án này nằm trong kế hoạch phát triển nhà ở ưu tiên của thành phố giai đoạn 2016 - 2020, thế nhưng chủ đầu tư dự án đã nộp hồ sơ vào Sở Kế hoạch - Đầu tư TP từ tháng 3/2019 cho đến nay vẫn chưa được trả kết quả hồ sơ. Cũng theo chủ đầu tư dự án này thì mới đây Sở KH-ĐT có mời họp tổ liên ngành thành phố để giải quyết nhưng không hiểu sao hồ sơ chờ hoài cũng không xong. Điều đáng nói, dự án NƠXH này chỉ là một trong số hàng chục dự án NƠXH khác trên địa bàn thành phố cũng đang lâm vào tình trạng tương tự: chậm triển khai do hồ sơ, giấy tờ còn chờ chính quyền “duyệt”. Tại buổi đối thoại, sau khi nghe các doanh nghiệp phát triển nhà ở trên địa bàn nêu ý kiến, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Phong đã phải thốt lên rằng: “Chỉ có một việc nhỏ như thế thôi mà kéo dài cả năm trời. Chuyện đó chỉ cần trong một tuần thôi. Chỉ có việc trao đổi về chỉ tiêu quy hoạch mà kéo dài như thế…”. Ngay lập tức, lãnh đạo UBND thành phố yêu cầu Sở KH-ĐT có báo cáo cụ thể về từng dự án đang tồn đọng hồ sơ. Đồng thời, yêu cầu các Sở ngành liên quan tập hợp ý kiến của từng nơi, trong đó có Sở giải thích từ Sở Quy hoạch và Kiến trúc (QH-KT) về vướng mắc đối với vấn đề quy hoạch khiến hồ sơ NƠXH còn tồn đọng.

Một số lãnh đạo cấp Sở ngành thừa nhận tình trạng thực tế, sự phối hợp ở cấp Sở ngành trong giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp còn chưa được đồng bộ, nhiều khâu chồng chéo từ nhiều năm qua chưa tháo gỡ. Về cơ chế phối hợp của TP HCM hiện nay đối với một bộ hồ sơ cho chủ trương về phát triển nhà ở phải qua ý kiến của Sở QH-KT (về vấn đề quy hoạch). Nếu là phát triển dự án hỗn hợp phải qua 6 bước, gồm: Thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; Trình duyệt quy hoạch chi tiết 1/500; Làm thủ tục giao thuê đất; Lập thủ tục xác định nghĩa vụ tài chính, nộp tiền sử dụng đất; Cấp “sổ đỏ” dự án; công nhận chủ đầu tư, thẩm định thiết kế, cấp giấy phép xây dựng và triển khai đầu tư xây dựng. Theo các chủ đầu tư phát triển cả nhà ở thương mại lẫn NƠXH thì việc rối rắm về các thủ tục nêu trên là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều dự án đang bị chậm tiến độ hiện nay. Có đơn vị chủ đầu tư (S.S.G 2) nêu thực tế, đối với doanh nghiệp thì ngay cả quy trình thực hiện qua nhiều bước (6 bước) đối với doanh nghiệp bất động sản vẫn có thể kiên nhẫn thực hiện theo trình tự được nhưng quan trọng là mất bao lâu để thực hiện các bước đó thì không Sở ngành, cơ quan nào trả lời cụ thể cho doanh nghiệp được. Bởi, phần đông doanh nghiệp chỉ mong muốn được nộp tiền sử dụng đất càng nhanh càng tốt để đẩy nhanh tiến độ. Nếu không thực hiện nghĩa vụ tài chính trước thì tất yếu dẫn đến tình trạng có nhiều doanh nghiệp chưa xong thủ tục pháp lý vẫn phải “bán lúa non”.

Điều đáng suy ngẫm là những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc về hồ sơ, thủ tục chủ trương phát triển nhà ở tại TP HCM nêu trên dù đã được doanh nghiệp phản ánh tại các buổi đối thoại với UBND TP qua từng năm, thế nhưng chưa tháo gỡ triệt để. Tại buổi đối thoại gần nhất, một doanh nghiệp phát triển bất động sản tại TP HCM là CTCP Xây dựng Địa ốc Xanh đã phản ánh thẳng thắn tới Chủ tịch UBND TP rằng: “Hiện nay, làm chậm nhất là Văn phòng UBND TP và Sở Tài nguyên - Môi trường TP, làm rất chậm”. Phía chủ đầu tư này dẫn chứng một dự án dự án nhỏ của họ (khoảng 3.700m2) dù nóng lòng được thanh toán nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, nhưng ngay cả việc này cũng không hề dễ dàng. Kể từ ngày có hồ sơ thụ lý tại Chi cục thuế Quận 8, sau đó chuyển đến Cục thuế TP, rồi lại gửi lên Sở Tài nguyên - Môi trường TP, cho đến nay đã 24 tháng trôi qua nhưng Đất Xanh vẫn chưa được giải quyết để đóng thuế cho Nhà nước.

Những bất cập chỉ riêng trong giải quyết hồ sơ các dự án phát triển nhà ở tại TP HCM đã và đang phản ánh nhiều bất cập, tồn tại trong công tác cải cách hành chính của đô thị đông dân nhất nước. Thiết nghĩ, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt từ người đứng đầu chính quyền thành phố thì người đứng đầu từng Sở ban ngành của thành phố cần “chuyển động” thực sự trong công vụ, tạo dựng niềm tin và môi trường minh bạch, thông thoáng trong các lĩnh vực thu hút đầu tư. (Daidoanket.vn 28/2, Thành Luân) Về đầu trang

Khi "giấy phép nằm trong giấy phép"?

Với các điều kiện kinh doanh tại Việt Nam thì ngay cả những người thành công bên Mỹ như Bill Gates cũng sẽ không làm được gì trong ngành công nghệ thông tin.

Câu chuyện này được bà Nguyễn Minh Thảo, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương chia sẻ khi nhìn về thực chất quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh ở thời điểm hiện tại.

Báo cáo của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trưng ương khẳng định chỉ 30% số điều kiện kinh doanh được cắt bỏ thực sự.

Báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định chỉ 30% số điều kiện kinh doanh được cắt bỏ thực sự.

Khái quát về việc cắt giảm, cải cách điều kiện kinh doanh, bà Thảo cho biết, trong giai đoạn 2017-2019, Chính phủ đã có tới 40 chỉ đạo về việc cắt giảm cải cách điều kiện kinh doanh. “Có lẽ khó có nội dung cải cách nào được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo sát sao, liên tục như vậy” - bà Thảo nói.

Chính phủ năm 2018 đã yêu cầu cắt giảm 50% cải cách điều kiện kinh doanh. Về cơ bản các cải cách điều kiện kinh doanh quy định chung chung, thiếu rõ ràng, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc dễ tạo sự tùy ý trong thực thi đã được cắt bỏ. Nhiều cải cách điều kiện kinh doanh trùng lặp được cắt bỏ, một số cải cách điều kiện kinh doanh được sửa đổi theo hướng giảm bớt yêu cầu, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Tuy vậy, bà Thảo nói, theo các rà soát độc lập thì kết quả thực chất cắt giảm cải cách điều kiện kinh doanh chỉ đạt khoảng hơn 30% chứ không phải là trên 50% như nhiều báo cáo.

Bên cạnh đó, quay lại với ví dụ về Bill Gates mà bà Thảo kể, thật ra đây không phải là lần đầu tiên những ghi ngại về chất lượng cắt giảm điều kiện kinh doanh được đặt ra.

Là một người theo dõi chặt chẽ quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh ở các bộ ngành bà Thảo chua xót kể rằng nếu Bill Gates mà thành lập và điều hành Microsoft ở Việt Nam thì chắc chắn sẽ không thể được. Đơn giản là vì ông ta không có chứng chỉ, bằng cấp về công nghệ thông tin, không có bằng đại học và khẳng định với những người như Bill Gates thì chỉ có thể thành công ở Mỹ... chứ khó có thể thành công ở Việt Nam.

Dẫn lại thống kê PCI 2018, bà Thảo cho biết có đến 48% doanh nghiệp vẫn phải xin giấy phép con. “Vẫn còn các cải cách điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý và không đạt hiệu quả quản lý. Thậm chí vẫn còn có những cải cách điều kiện kinh doanh thiếu rõ ràng, có thể dẫn tới sự tùy tiện của cơ quan quản lý nhà nước”, bà Thảo nói.

Bà Thảo còn nói mặc dù các bộ báo cáo đã hoàn thành chỉ tiêu cắt giảm ĐKKD nhưng chưa có báo cáo đánh giá nào của các bộ về hiệu quả và tác động của cách ĐKKD và thiếu giám sát việc tổ chức thực hiện.

Tiếp tục đưa ra góc nhìn của mình về quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh, nhóm nghiên cứu của CIEM cho biết mức độ cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh đang chủ yếu dưới hình thức đơn giản hóa mà ít cắt bỏ, như việc chỉ giảm yêu cầu về số lượng nhân sự, về quy mô diện tích cơ sở vật chất…

Dẫn chứng cụ thể, bà Thảo chỉ ra điều kiện kinh doanh dịch vụ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động đối với tổ chức huấn luyện, chỉ giảm số người huấn luyện cơ hữu, huấn luyện nội dung chuyên ngành, thực hành từ 5 xuống còn 4.

Với các hình thức sửa đổi, nhiều quy định cũng chỉ mang tính hình thức, câu chữ hơn là thực chất, như điều kiện thành lập nhà xuất bản, sửa quy định “trụ sở của nhà xuất bản có diện tích từ 200 m2 sử dụng trở lên” thành “diện tích phù hợp, đáp ứng quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc”.

Ngoài ra, những điều kiện kinh doanh khác như đảm bảo yêu cầu về phòng cháy-chữa cháy, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường… không nêu cụ thể trong các quy định mà dẫn theo pháp luật chuyên ngành.

“Nhiều điều kiện kinh doanh thực hiện cắt bỏ song thực sự không tạo thuận lợi rõ ràng cho doanh nghiệp (như có đủ năng lực hành vi dân sự, phẩm chất đạo đức tốt…) hay một số quy định được tính là cắt bỏ, nhưng thực chất đó là các quy định về quy trình, không phải là điều kiện kinh doanh,” bà Thảo nói.

Chưa dừng lại ở đó, nhóm nghiên cứu của CIEM còn khẳng định các nhà làm chính sách “sáng tạo” việc cắt giảm điều kiện kinh doanh bằng cách gói “điều kiện kinh doanh chứa đựng điều kiện kinh doanh,” hay thực hiện đưa “Giấy phép vào nằm trong Giấy phép”.

Ví như, điều kiện cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền quy định doanh nghiệp cần đáp ứng 8 điều kiện kinh doanh. Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn thực phẩm (áp dụng đối với 23 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện) là một yêu cầu về điều kiện kinh doanh trong một “bộ điều kiện kinh doanh” áp dụng cho những ngành nghề trên (như để có được Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn thực phẩm thì doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn phòng cháy chữa cháy…).

Ở góc nhìn của doanh nghiệp, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhận định: “Cải cách điều kiện kinh doanh có thể coi là “thương hiệu” của Chính phủ nhiệm kỳ này. Từ 2016, Chính phủ đã bãi bỏ được hàng ngàn cải cách điều kiện kinh doanh”.

Cũng như bà Thảo, ông Tuấn nói hiện nay việc cắt giảm cải cách điều kiện kinh doanh có thể hoàn thành về mặt số lượng nhưng chất lượng là vấn đề cần bàn. Năm 2019, theo điều tra của VCCI, doanh nghiệp đánh giá cao hơn sự chuyển động về cắt giảm cách điều kiện kinh doanh, tỉ lệ khó khăn trong kinh doanh có giảm đi. Nhưng nếu nhìn lại thì khái niệm cách điều kiện kinh doanh chưa rõ, vẫn còn lẫn lộn giữa cách điều kiện kinh doanh và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng trên chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung đã nói rằng trước đó, vào năm 2017, các nhà chuyên môn kiến nghị cắt bỏ 3/4 các điều kiện kinh doanh chứ không phải cắt giảm và đơn giản hóa. Tuy nhiên, sau đó Chính phủ quyết định cắt giảm ít nhất 50% số điều kiện kinh doanh. Sự cắt giảm này khiến cho mục tiêu cải cách thể chế trở nên mờ nhạt, không rõ ràng.

Theo ông Cung, việc đề xuất cắt bỏ 3/4 các điều kiện kinh doanh là dựa trên căn cứ khoa học để thực hiện và căn cứ thực tiễn về hiệu lực. Các công cụ này tồn tại lâu nay giúp cho các công chức có liên quan lạm dụng, lợi dụng mà thực chất không phải là quản lý.

“Năm 2018, các bộ ngành có sự cắt giảm đúng theo chủ chương của Chính phủ và tạo ra niềm tin với thị trường. Song, thực chất là bao nhiêu tại thời điểm này chưa có cơ sở nào đánh giá. Đơn giản hóa là gì? Đơn giản hóa nghĩa là trên thực tế vẫn tồn tại và có hàng trăm hàng nghìn cách thực hiện. Người làm chính sách có khi chỉ thay cái một tên, bỏ một hồ sơ hay một nội dung nào đó…” - ông Cung thẳng thắn.

Để quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh đi vào thực chất, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng các doanh nghiệp, chuyên gia, hiệp hội ngành hàng nên tham gia sâu vào quá trình này.

Về lâu dài, ông Tuấn cho rằng cần có có đơn vị độc lập rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh. Đồng thời, trong quá trình soạn thảo thông tư, nghị định, luật cần có quy trình kiểm soát chặt chẽ biên bản ra thủ tục hành chính mới. Đặt ra điều kiện kinh doanh mới phải tiến hành thận trọng qua nhiều bước tham vấn, quan sát chặt chẽ và cần có cơ quan thẩm định độc lập thì mới ngăn chặn được tình trạng ra các điều kiện kinh doanh mới không phù hợp.

Ông Tuấn cũng nhấn mạnh, trong quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh, các bộ ngành không nên giao cho các vụ, cục vốn đang thực hiện cấp phép tiến hành chủ trì các chương trình rà soát, ban hành văn bản và cắt giảm. Bởi kinh nghiệm đến thực tiễn cho thấy, đơn vị nào đang được quyền cấp phép, bằng cách này hay cách khác luôn tìm cách giữ lại tư duy cấp phép hay giữ lại điều kiện kinh doanh.

Trong từng bộ, ngành cụ thể, việc chủ trì chương trình cắt giảm nên giao cho những đơn vị độc lập, không thực hiện chức năng quản lý Nhà nước hay cấp phép, có như vậy mới đảm bảo tính khách quan, bền vững. (Enternews.vn 28/2, Huyền Trang) Về đầu trang

Đề xuất xử lý kỷ luật cán bộ nghỉ hưu có sai phạm khi công tác: Chấm dứt “tư duy nhiệm kỳ”, “hạ cánh an toàn”

Kinhtedothi - Dự thảo Tờ trình và dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) do Bộ Nội vụ vừa xây dựng đang thu hút sự quan tâm của dư luận, nhất là với việc bổ sung quy định áp dụng xử lý kỷ luật CBCCVC đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác.

Theo Bộ Nội vụ, dự thảo được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CBCC và Luật Viên chức được Quốc hội khóa XIV vừa thông qua, phù hợp các quy định hiện hành của Đảng về xử lý kỷ luật CBCCVC. Song, quá trình xây dựng dự thảo còn có nhiều ý kiến khác nhau, nên Bộ đang đăng tải lấy ý kiến rộng rãi.

Tại dự thảo Tờ trình gửi Chính phủ, Bộ Nội vụ cho biết, Luật CB, CC năm 2008 quy định đối với cán bộ có 4 hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm; đồng thời, Khoản 4 Điều 78 quy định “Việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ được thực hiện theo quy định pháp luật, Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Tuy vậy, hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy (Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương...) chỉ quy định về bãi nhiệm mà không có quy định về hành vi vi phạm, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật với những trường hợp xử lý bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức, đặc biệt với đội ngũ cán bộ cấp xã.

Lãnh đạo Bộ nhận định, chính điều này đang tạo ra khoảng trống pháp lý, gây khó khăn trong công tác xử lý kỷ luật cán bộ, chưa đảm bảo nguyên tắc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và nguyên tắc xử lý kỷ luật Đảng không thay thế xử lý kỷ luật hành chính. Do đó để góp phần giải quyết vấn đề này, Bộ đề nghị thống nhất bổ sung quy định xử lý cán bộ trong Nghị định để giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn thực hiện; cũng nhằm thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Dự thảo Nghị định này gồm 5 chương, 32 điều, trong đó đáng chú ý đã bổ sung quy định áp dụng xử lý kỷ luật với CBCCVC đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác và bổ sung nguyên tắc xử lý kỷ luật hành chính với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của người đã nghỉ việc, nghỉ hưu được thực hiện sau khi có quyết định xử lý kỷ luật về Đảng. Đồng thời, quy định với trường hợp này được sử dụng kết luận về hành vi vi phạm mà không phải điều tra, xác minh lại; cũng như bổ sung quy định về thẩm quyền.

Theo một số ý kiến, quy định xử lý kỷ luật hành chính với CBCCVC đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thực hiện sau khi xử lý kỷ luật Đảng là giới hạn đối tượng bị xử lý kỷ luật so với luật, bởi những người là CBCCVC nhưng không phải là đảng viên nay đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong thời gian công tác sẽ không xử lý kỷ luật hành chính. Tuy nhiên, lý giải đề xuất của mình, Bộ Nội vụ cho rằng, quy định như dự thảo đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tiễn, thực hiện đúng quy định được giao. Thực tế cho thấy, để đảm bảo nguyên tắc công tác cán bộ là công tác của Đảng, hầu hết các vị trí lãnh đạo trong hệ thống Đảng, đoàn thể, chính quyền các cấp hiện nay đều là đảng viên (một số ít chưa là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo trong các đơn vị sự nghiệp công lập). Những sai phạm nghiêm trọng đa số ở những người đã từng giữ vị trí lãnh đạo. Do đó, việc giới hạn kỷ luật hành chính sau khi kỷ luật Đảng với đối tượng này là cần thiết, đảm bảo tính răn đe, phù hợp quy định của Đảng.

Nhận định về đề xuất mới của Bộ, nhiều chuyên gia đánh giá, quy định xử lý CBCCVC như vậy rất phù hợp chủ trương lớn hiện nay của Bộ Chính trị là tinh gọn, kiện toàn, làm trong sạch bộ máy cán bộ các cấp. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có tính răn đe để những người đang đương chức có ý thức phấn đấu, luôn thận trọng trong mọi quyết định của mình khi làm việc.

Các chuyên gia đề xuất, để thực thi quy định xử lý kỷ luật cán bộ nghỉ hưu này (nếu được ban hành) một cách hiệu quả thì quan trọng nhất là xử lý thật nghiêm minh. Trước hết, phải minh bạch toàn bộ khuyết điểm, sai phạm của họ, từ tiêu chí đến hình thức kỷ luật sẽ áp dụng. Trên cơ sở đó cứ theo luật mà xử lý, dưới sự giám sát của cộng đồng, người dân, tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, vai trò giám sát của người dân vô cùng quan trọng, cần được đặt lên đúng vị trí trong luật. Đồng thời, việc công khai xử lý trên các phương tiện thông tin chính là hình thức giáo dục, răn đe tốt với mọi CBCC đã và đang đương chức - những người đã được Nhân dân giao trách nhiệm, tin tưởng. Đặc biệt, bà Bùi Thị An đề nghị, cán bộ đã nghỉ hưu mà phải xử lý kỷ luật thì không thể cách chức, nên cần áp dụng hình thức xử lý liên quan đến quyền lợi vật chất của họ phù hợp nhất với những khuyết điểm đã mắc phải. Nhất là việc xử lý phải thực hiện đến cùng, trong đó Tổ giúp việc của Thủ tướng, Ủy ban Kiểm tra của Đảng cũng như các cấp, ngành liên quan phải làm thường xuyên và rất quyết liệt, đừng “đánh trống bỏ dùi”. (Kinhtedothi.vn 28/2, Linh Chi) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Nigeria: Những lo ngại xung quanh việc thu hồi tài sản tham nhũng

Cam kết của Nigeria về việc thu hồi khoảng 5 tỷ USD ở nước ngoài bị biển thủ bởi cố Tổng thống Sani Abacha đang khó trở thành hiện thực khi có báo cáo cho rằng, 100 triệu USD sẽ được chuyển cho một chính trị gia cấp cao, mà chính người này trước đó có liên quan tới hành vi rửa tiền của ông Abacha.

Giữ cương vị lãnh đạo đất nước từ năm 1993 đến khi qua đời vào năm 1998, ông Sani Abacha bị cáo buộc biển thủ khoảng 2,2 tỷ USD từ Ngân hàng Trung ương Nigeria.

Trong khi ông Atiku Bagudu, Thống đốc hiện tại của bang Kebbi (Tây Bắc Nigeria), chính trị gia cấp cao của Đảng cầm quyền APC, là người đã giúp ông Abacha và gia đình ông tham ô, tống tiền, biển thủ hàng tỷ đồng từ Chính phủ Nigeria và những người khác.

Cụ thể, ông Bagudu đã giúp rửa những khoản tiền này thông qua các tổ chức tài chính tại Mỹ, Địa hạt Jersey, và mua trái phiếu được hỗ trợ bởi Mỹ.

Là một Thống đốc đương nhiệm, ông Bagudu hiện được miễn trừ khỏi bị truy tố, mặc dù trước đó ông đã bị bắt ở Mỹ năm 2003 vì có vai trò trong vụ rửa tiền của Abacha và phải ngồi tù 6 tháng.

Sau đó, ông Bagudu đã đạt được một thỏa thuận với Chính quyền Mỹ và Jersey, trả lại hơn 163 triệu USD là số tài sản bị cáo buộc rửa tiền cho Nigeria, để đổi lấy việc thoát khỏi thủ tục tố tụng từ Jersey. Trở về Nigeria, thật đáng ngạc nhiên, ông Bagudu chưa bao giờ bị hỏi về những liên đới tới vụ việc biển thủ của cố Tổng thống Abacha.

Mỹ hiện đang tìm cách để thu hồi 177 triệu USD bị rửa trong các quỹ có tên Bagudu và người thân của ông là thụ hưởng. Tuy nhiên, theo thỏa thuận đạt được năm 2003 với Chính quyền của cựu Tổng thống Olusegun Obasanjo, ông Bagadu lại là người được hưởng khoản tiền này khi chúng được trả lại cho Nigeria.

Và chính quyền Tổng thống Buhari dự định sẽ tôn trọng thỏa thuận này, trả lại khoảng 100 triệu USD cho Thống đốc Bagadu.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế tại Nigeria và các tổ chức xã hội dân sự khác lo ngại, nếu các hành động quyết liệt không được thực hiện, Chính phủ Nigeria sẽ mất đi hàng tỷ USD tiềm năng thu hồi từ tham nhũng, trong bối cảnh kinh tế đất nước còn gặp nhiều khó khăn, đói nghèo, thiếu các dịch vụ thiết yếu vẫn đang bủa vây cuộc sống của người dân trong nước. (Thanhtra.com.vn 28/2, Ngọc Anh) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.029.617 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này