Bản tin cải cách hành chính ngày 17/2/2020

16:12, Thứ Hai, 17-2-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội: Chuyển biến mạnh trong cải cách hành chính

2. Quảng Nam: Ban hành kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Tháo gỡ nút thắt để khai thông, chuyển giao dịch vụ công!

4. “Chìa khóa” cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

5. Quy định đơn vị tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính trong hoạt động xuất bản 

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Phụ cấp thâm niên của công chức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Gỡ vướng mắc trong xây dựng Chính phủ điện tử

8. Không cán bộ có tài, đức bị loại bởi đơn thư xấu

9. Phòng, chống tham nhũng năm con Chuột: Không để con voi thành con chuột!

         

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội: Chuyển biến mạnh trong cải cách hành chính

Thường xuyên rà soát đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), tăng cường hiện đại hóa nền hành chính, đã góp phần giúp ngày càng nâng cao sự hài lòng của người dân với sự phục vụ của cơ quan Nhà nước. Đó là một kết quả nổi bật qua gần 4 năm quận Hai Bà Trưng triển khai thực hiện Chương trình 08-Ctr/TU “Đẩy mạnh CCHC, tạo bước chuyển mạnh về kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm, chất lượng phục vụ Nhân dân của đội ngũ CBCCVC giai đoạn 2016 - 2020”.

Theo Bí thư Quận ủy Nguyễn Văn Nam, các cấp chính quyền từ quận tới cơ sở luôn xác định CCHC là một nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, hướng tới sự hài lòng của người dân. Để tăng tính minh bạch, kịp thời tiếp nhận giải quyết phản ánh, kiến nghị của công dân về giải quyết TTHC, lãnh đạo quận đã chỉ đạo các đơn vị, 20/20 phường nâng cao hiệu quả hoạt động số điện thoại đường dây nóng và hòm thư góp ý được công khai tại trụ sở làm việc. Đặc biệt, chỉ đạo các đơn vị thường xuyên rà soát những quy định, TTHC đang thực hiện tại quận, phường để rút ngắn quy trình, giảm tối đa thời gian giải quyết; kịp thời kiến nghị bãi bỏ những quy định, TTHC chồng chéo, gây phiền hà cho công dân; công khai, thường xuyên cập nhật TTHC mới, bổ sung, sửa đổi...

Để nâng cao hơn nữa sự hài lòng của người dân, UBND quận Hai Bà Trưng đã giao Phòng Tư pháp phối hợp với các đơn vị triển khai Đề án “Nâng cao mức độ hài lòng của người dân với việc thực hiện các TTHC trên địa bàn quận”, trong đó phân tích các yếu tố tác động và đề xuất giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của người dân.

Qua rà soát, từ khi thực hiện Chương trình 08-Ctr/TU đến nay, các phòng chuyên môn đều có TTHC được đăng ký rút ngắn thời gian giải quyết so với quy định, như lĩnh vực nội vụ 3 TTHC, GDĐT 2 TTHC, các lĩnh vực khác đều có 1 TTHC. Tỷ lệ giải quyết TTHC đúng, trước hẹn hiện tại cấp quận đạt 99,6%, cấp phường 99,8%. Bên cạnh đó, các phường đang thực hiện 8 TTHC, cấp quận 10 TTHC theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3. Riêng thủ tục lĩnh vực tư pháp tại cấp phường và thủ tục trích lục hộ tịch tại UBND quận đã được thực hiện mức 4. Quận cũng thường xuyên kiểm tra, khắc phục khó khăn trong tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trực tuyến, đã góp phần đưa tỷ lệ trực tuyến cấp quận, cấp phường tăng qua các năm, hiện đạt 99,2% và 99,8%.

Ngoài thường xuyên rà soát đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết nhiều TTHC, từ quận đến 20 phường cũng đã được quan tâm đầu tư nâng cấp bộ phận một cửa (BPMC) đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại, tăng chất lượng phục vụ người dân. Bà Nguyễn Minh Phượng (ngõ Hòa Bình 7, phường Minh Khai) đang lấy kết quả đăng ký khai sinh cho cháu tại BPMC phường chia sẻ: “Gần đây ra quận, phường giải quyết giấy tờ, tôi thấy BPMC ngày càng khang trang, thuận tiện trong giao dịch; cán bộ giải quyết TTHC nhanh gọn, không để trễ hẹn”.

Qua thống kê hệ thống điện tử tại BPMC quận, phường cho thấy, kết quả đo lường sự hài lòng của người dân với sự phục vụ của cơ quan Nhà nước thuộc quận ngày càng tăng, trong đó năm 2018 tại cấp quận đạt 97,2%, cấp phường 99%; năm 2019 đạt gần 98% và trên 99%. Song, cùng với cố gắng của địa phương, quận cũng kiến nghị phân cấp mạnh hơn cho cấp quận, phường trong giải quyết TTHC liên quan chế độ chính sách, công việc thiết yếu hằng ngày của người dân, giảm TTHC liên thông nhiều cấp. Đồng thời, TP cần đưa ứng dụng CNTT vào giải quyết các TTHC liên thông, như TTHC liên thông từ TP đến quận trong lĩnh vực lao động thương binh xã hội. (Kinhtedothi.vn 17/2, Linh Chi) Về đầu trang

Quảng Nam: Ban hành kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020

UBND tỉnh vừa ban hành kế hoạch công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) năm 2020 trên địa bàn tỉnh.

Kế hoạch có 8 nội dung chính, bao gồm: công bố, công khai TTHC; kiểm soát chất lượng TTHC và cập nhật TTHC trên cơ sở dữ liệu quốc gia; thực hiện rà soát, đánh giá TTHC; tham gia ý kiến đối với quy định TTHC trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; công tác kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC; thông tin, báo cáo về công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC.

Ngoài ra, còn thực hiện tổ chức tập huấn nghiệp vụ; hội nghị giao ban công tác kiểm soát TTHC và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC.

UBND tỉnh giao Văn phòng UBND chủ trì, làm đầu mối theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai kế hoạch. (Baoquangnam.com.vn 17/2, C.N) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Tháo gỡ nút thắt để khai thông, chuyển giao dịch vụ công!

Việc chuyển giao dịch vụ công cho xã hội và thị trường từ các cơ quan nhà nước, sẽ góp phần tinh giản bộ máy tập trung làm thể chế, mở rộng thị trường và tạo cơ hội cho doanh nghiệp tham gia.

Việc chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Do đó, cần tháo gỡ những nút thắt để nhiều tổ chức xã hội, doanh nghiệp, có thể tiếp cận được và tham gia với dịch vụ công. Song song đó là những giải pháp, chính sách nhằm tăng cường chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội, thông qua việc đóng góp ý kiến, đánh giá thực trạng những vấn đề như: Chính sách liên quan đến dịch vụ công, thực trạng chính sách, những bất cập và nguyên nhân bất cập chính sách; thực trạng năng lực của các tổ chức hội trong việc tiếp nhận dịch vụ công, kết quả đạt được trong quá trình chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức hội; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chuyển giao dịch vụ công và thực hiện dịch vụ công. Qua đó, có những giải pháp chính sách tốt nhất nhằm tăng cường chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội.

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, nhà nước có thể thực hiện xã hội hoá công đoạn thẩm định trong thủ tục cấp giấy phép kinh doanh mà cơ quan nhà nước đã làm trước đó như: lĩnh vực đăng kiểm, đào tạo lái xe…

Theo ông Nguyễn Chí Hoàng – Tổng giám đốc Công ty TNHH Phượng Hoàng, TP.HCM, cho rằng: việc chuyển giao cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội đảm nhiệm dịch vụ hành chính công là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý vấn đề an ninh, an toàn khi triển khai loại hình này.

Cụ thể, theo ông Hoàng, trong lĩnh vực giao thông vận tải, nhà nước có thể thực hiện xã hội hoá công đoạn thẩm định trong thủ tục cấp giấy phép kinh doanh mà cơ quan nhà nước đã làm trước đó như: lĩnh vực đăng kiểm, đào tạo lái xe…

Và, trong thời gian tới, có thể tính đến việc giao cho đơn vị tư nhân thực hiện dịch vụ tư vấn, giám sát, kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện giao thông khác để giảm áp lực. Trong đó, cơ quan nhà nước chỉ cần cấp giấy phép, công nhận để xác lập giá trị của kết quả kiểm định do doanh nghiệp thực hiện. Nhưng cũng cần chú ý tới việc, các đơn vị làm dịch vụ trên phải chịu trách nhiệm về kết quả kiểm định của mình. Đồng thời, không hạn chế và cho phép nhiều doanh nghiệp cùng tham gia một lúc để tránh tình trạng độc quyền. Trên cơ sở đó, sẽ tạo ra được môi trường mang tính cạnh tranh hơn thay vì một lực lượng thực hiện. Và cuối cùng là doanh nghiệp có cơ hội được lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất – ông Hoàng nói.

Theo Luật sư Nguyễn Hải Vân – Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chia sẻ: trong điều kiện hiện nay, các cơ quan quản lý cũng nên tạo hành lang pháp lý, sân chơi, cho các nhà đầu tư trong việc chuyển giao các dịch vụ công cho khu vực ngoài nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế thế  giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có sự phát triển nhanh và vượt bậc về công nghệ như hiện nay. Bên cạnh đó, Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc chuyển giao các dịch vụ công cho khu vực ngoài nhà nước, các tổ cổ chức xã hội mà cụ thể là doanh nghiệp để giảm áp lực, khối lượng công việc, tinh giản bộ máy cồng kềnh là hết sức cần thiết và hơn bao giờ hết.

Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc chuyển giao các dịch vụ công cho khu vực ngoài nhà nước, các tổ cổ chức xã hội mà cụ thể là doanh nghiệp để giảm áp lực, khối lượng công việc, tinh giản bộ máy cồng kềnh là hết sức cần thiết và hơn bao giờ hết.

Đơn cử, trong thời gian qua nhiều dịch vụ công đã được nhà nước chuyển giao cho các tổ chức, doanh nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong lĩnh vực hành chính, cụ thể như: hàng loạt các văn phòng công chứng, văn phòng luật sư, văn phòng tư vấn pháp luật, văn phòng thừa phát lại...

Cụ thể, hành chính công đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế đã làm việc được nhiều vấn đề như: khám BHYT trong các bệnh viện tư nhân, phòng khám, nhà thuốc tư nhân; lĩnh vực giáo dục -đào tạo: là các Trung tâm đào tạo, trường học dân lập, tư thục…Hay lĩnh vực tài chính: bao gồm là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán…

Cũng theo Luật sự Vân, có thể nói, việc chuyển giao dịch vụ công cho tổ chức xã hội là một nội dung quan trọng của xã hội hóa trong dịch vụ công. Quan trọng hơn là việc huy động các tổ chức ngoài nhà nước tham gia đã tạo ra làn gió mới, hấp dẫn để cung ứng các dịch vụ công cho xã hội. Các tổ chức này sẽ không chỉ làm gia tăng và phong phú thêm các dịch vụ công cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao hơn của xã hội, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước về chất lượng và giá cả dịch vụ công. Tuy nhiên, để thực hiện tốt việc này cần phải tháo gỡ những nút thắt để khai thông, chuyển giao dịch vụ công, tạo động lực và tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào cung ứng các dịch vụ công. Bên cạnh đó, nhà nước cần hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này có thể phát huy được vai trò và năng lực của mình, góp phần phục vụ các lợi ích chung cho toàn xã hội – Luật sư Vân nói. (Enternews.vn 16/2, Duy Long - Hương Giang) Về đầu trang

“Chìa khóa” cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

Cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các lĩnh vực nghiệp vụ của ngành, hướng tới mục tiêu phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày một tốt hơn là tiêu chí mà Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam luôn hướng tới. Theo đó, trong năm 2020, BHXH Việt Nam sẽ loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây khó khăn cho quá trình thực hiện; tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức.

Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh nhấn mạnh, đối với ngành BHXH, cải cách hành chính là nhiệm vụ xuyên suốt năm 2019, giúp quản lý và rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục liên quan đến người tham gia, hưởng chế độ BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo thống kê, từ năm 2014 đến nay, BHXH Việt Nam đã giảm 75% số lượng thủ tục hành chính. Cụ thể, từ 115 thủ tục năm 2014 xuống còn 33 thủ tục năm 2015, 32 thủ tục năm 2016, 28 thủ tục năm 2017, 2018 và 27 thủ tục năm 2019. Đồng thời, số giờ thực hiện thủ tục hành chính giảm mạnh từ 335 giờ năm 2014 xuống còn xuống còn 147 giờ năm 2018. Thời hạn cấp sổ BHXH từ 20 ngày và thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) từ 7 ngày đều được rút ngắn xuống còn 5 ngày (riêng với người hưởng trợ cấp thất nghiệp không quá 2 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định), cấp lại thẻ BHYT không thay đổi thông tin được thực hiện trong ngày. Với việc thực hiện giao dịch điện tử trong tất cả các khâu từ thu, nộp đến quản lý chi trả thì số lần thực hiện giao dịch điện tử giảm từ 12 lần/năm xuống còn 1 lần/năm.

Lãnh đạo BHXH Việt Nam cho biết, trong năm nay, sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát nhằm cắt giảm, loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây khó khăn cho quá trình thực hiện; bảo đảm tính khả thi, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức. Theo đó, trên cơ sở số dịch vụ công của ngành, sẽ xác định tổng số dịch vụ công trực tuyến, mức độ của từng dịch vụ công và xây dựng lộ trình thực hiện dịch vụ công mức độ 4 triển khai trong năm 2020 và năm 2021, nhằm đạt mục tiêu tối thiểu 70% số dịch vụ công mức độ 4 năm 2020; 85% số dịch vụ công mức độ 4 năm 2021); đẩy mạnh việc tuyên truyền và các giải pháp vận động, khuyến khích người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, nhận lương hưu, trợ cấp BHXH qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt.

Cùng với việc cải cách thủ tục hành chính, lãnh đạo BHXH Việt Nam cho biết, năm 2020 và các năm tiếp theo sẽ triển khai các giải pháp bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng CNTT; thực hiện giao dịch điện tử đối với cá nhân, tổ chức trên các lĩnh vực BHXH, BHYT; triển khai các giải pháp bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng CNTT; triển khai giao dịch điện tử đối với cá nhân, tổ chức trên các lĩnh vực BHXH, BHYT bằng nhiều phương tiện trực tuyến khác nhau...

Chia sẻ thêm về nội dung này, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh cho biết, khối lượng công việc mà BHXH đảm nhận hàng năm đều tăng trong khi số lượng cán bộ viên chức không tăng, cho nên nếu không ứng dụng CNTT thì ngành BHXH rất khó có thể hoàn thành nhiệm vụ, dù cán bộ nhân viên phải tăng thêm giờ làm việc.

Xác định rõ mục tiêu phấn đấu năm 2020, sẽ hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH liên thông, hiện đại với công nghệ mới nhất, vừa qua, BHXH Việt Nam đã bắt tay vào xây dựng và triển khai kế hoạch, chính thức ban hành Phần mềm Hệ thống Tổng hợp và Phân tích dữ liệu tập trung ngành BHXH phiên bản 1.0.

Phần mềm cùng Hệ thống Kho dữ liệu và công cụ phân tích tập trung sẽ cho phép BHXH các tỉnh, thành phố truy cập, khai thác các dữ liệu tổng hợp trên Hệ thống Cơ sở dữ liệu của BHXH Việt Nam. Kho dữ liệu (Data Warehouse) là hệ thống dữ liệu tập trung duy nhất, đầy đủ và nhất quán được tích hợp dữ liệu từ các nguồn khác nhau; được lưu trữ lịch sử lâu dài, nhằm mục đích thống kê, phân tích, hỗ trợ ra quyết định, tối ưu hóa các hoạt động của tổ chức mà không ảnh hưởng đến các phần mềm nghiệp vụ.

Thực tế cho thấy, nhu cầu tổng hợp và phân tích dữ liệu của ngành BHXH tập trung chủ yếu vào một số vấn đề như tổng số người tham gia theo từng loại bảo hiểm và độ tuổi, khối thống kê; số người hưởng, số tiền hưởng hưu trí hàng tháng năm 2018; theo dõi xu hướng chi phí khám, chữa bệnh của các nhóm bệnh có rủi ro gian lận cao…

Do đó, việc áp dụng Phần mềm Hệ thống Tổng hợp và Phân tích dữ liệu tập trung ngành BHXH 1.0 có ý nghĩa lớn đối với công tác thống kê, báo cáo. Bởi đây là phần mềm thuộc bản quyền của BHXH Việt Nam, nằm trong hệ thống phần mềm ứng dụng của ngành, được thiết kế để phục vụ công tác thống kê. Phần mềm cũng hướng tới sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội bền vững, hứa hẹn mang lại diện mạo mới cho ngành BHXH trong việc quản lý, cung cấp dịch vụ theo hướng tập trung, nhanh chóng, chính xác. (Daibieunhandan.vn 17/2, Hải Yến) Về đầu trang

Quy định đơn vị tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính trong hoạt động xuất bản

Đối với các thủ tục hành chính trong hoạt động xuất bản thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tại Luật xuất bản, Nghị định số 195/2013/NĐ-CP thì Cục Xuất bản, In và Phát hành có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành Thông tư 01/2020/TT-BTTTT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất bản và Nghị định số 195/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xuất bản.

Thông tư nêu rõ, đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại Luật xuất bản, Nghị định số 195/2013/NĐ-CP, Sở có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 

Theo Thông tư, nhà xuất bản và tổ chức, cá nhân phát hành xuất bản phẩm điện tử phải đáp ứng điều kiện về giải pháp kỹ thuật kiểm soát bản quyền số trong hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử quy định tại Điểm đ Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP.

Cụ thể, có thiết bị, phần mềm kỹ thuật chống can thiệp, thay đổi và sao chép trái phép một phần hoặc toàn bộ nội dung xuất bản phẩm điện tử. Có biện pháp kỹ thuật xác thực tính hợp pháp của người sử dụng khi truy cập và sử dụng xuất bản phẩm điện tử và phải bảo đảm tính riêng tư, an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân.

Có điều khoản thông báo về trách nhiệm chấp hành quy định của pháp luật về xuất bản và sở hữu trí tuệ đối với người sử dụng trước khi truy cập và sử dụng xuất bản phẩm điện tử.

Trách nhiệm thẩm định đề án và xác nhận đăng ký hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử quy định tại Điều 18 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP như sau:Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề án hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử của nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân theo quy định, Cục Xuất bản, In và Phát hành có trách nhiệm xem xét sự phù hợp và khả năng đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 17 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP thể hiện trong đề án và có ý kiến thẩm định bằng văn bản. Trường hợp đề án không đúng mẫu hoặc không đủ thông tin theo mẫu quy định thì phải trả lại để nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn thiện.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử, Cục Xuất bản, In và Phát hành có trách nhiệm kiểm tra việc đáp ứng các điều kiện trong đề án theo ý kiến thẩm định và có văn bản xác nhận đăng ký hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử cho nhà xuất bản, tổ chức, cá nhân; trường hợp không xác nhận đăng ký phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2020. (Congthuong.vn 17/2) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Phụ cấp thâm niên của công chức

Phụ cấp thâm niên là một khoản tiền có ý nghĩa khích lệ, khuyến khích một số ngạch công chức khi họ công tác lâu năm trong ngành.

Không phải ngạch công chức (CC) nào cũng được hưởng phụ cấp thâm niên nghề. Hiện chưa có văn bản nào định nghĩa cụ thể về phụ cấp thâm niên của CC.

Theo khoản 8, điều 6 Nghị định 204/2004/NĐ-CP phụ cấp thâm niên nghề là một trong những khoản phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc theo công việc. Do đó, không phải mọi ngạch CC đều được hưởng loại phụ cấp này.

Căn cứ khoản trên, phụ cấp thâm niên nghề chỉ áp dụng với các đối tượng sau: Sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan và hạ sĩ quan hưởng lương thuộc Công an nhân dân; Người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu; Công chức hải quan.

Tuy nhiên, đến Nghị định số 76 năm 2009 , Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng các đối tượng được hưởng loại phụ cấp này gồm: Công chức được xếp lương theo ngạch hoặc chức danh chuyên ngành như kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự và kiểm lâm.

Như vậy, theo quy định hiện hành, CC hải quan, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự và kiểm lâm được hưởng phụ cấp thâm niên.

Tuy nhiên, phải lưu ý rằng, theo Nghị quyết 27 về cải cách tiền lương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ cấp thâm niên nghề sẽ bị bãi bỏ với một số đối tượng. Và chỉ có 3 đối tượng sau vẫn được hưởng để bảo đảm tương quan tiền lương với cán bộ, CC: Quân đội; Công an; Cơ yếu.

Như vậy, từ năm 2021, ngoài 3 đối tượng này vẫn được hưởng phụ cấp thâm niên thì không còn ai được hưởng loại phụ cấp này.

Cũng tại Nghị định 204 nêu trên, mức phụ cấp thâm niên được tính căn cứ vào thời gian 5 năm (đủ 60 tháng) làm việc liên tục. Và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch 04/2009. Theo đó, thời gian làm việc để tính hưởng phụ cấp thâm niên được xác định bằng tổng thời gian: Làm việc được xếp lương theo một trong cách ngạch hoặc chức danh chuyên ngành hải quan, tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm và kiểm tra Đảng; Được hưởng phụ cấp thâm niên nghề trong quân đội, công an và cơ yếu nếu có; Đi nghĩa vụ quân sự mà trước đó đang được hưởng phụ cấp thâm niên nghề. Trong đó, nếu thời gian làm việc được tính hưởng phụ cấp thâm niên nghề chưa hưởng trợ cấp BHXH một lần mà gián đoạn thì được cộng dồn.

Đồng thời, những khoảng thời gian sau sẽ không được tính hưởng phụ cấp thâm niên nghề gồm: Thời gian tập sự; Thời gian thực hiện chế độ CC dự bị; Thời gian làm các công việc được xếp lương theo ngạch hoặc chức danh không thuộc các trường hợp được hưởng phụ cấp thâm niên nghề; Thời gian làm việc trong quân đội, công an và cơ yếu không được tính hưởng phụ cấp thâm niên nghề; Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 1 tháng trở lên; Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản vượt quá thời hạn; Thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giam, tạm giữ để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử…

Như vậy, CC sau khi làm việc liên tục đủ 5 năm (đủ 60 tháng) trở lên thì được tính hưởng phụ cấp thâm niên. Thời gian này có thể được cộng dồn tùy vào từng trường hợp cụ thể. (Nld.com.vn 17/2, H.Lê) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Gỡ vướng mắc trong xây dựng Chính phủ điện tử

Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT) ở Việt Nam là một vấn đề lớn, thực hiện trong nhiều giai đoạn.

Trong những năm gần đây, với sự quyết tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng như sự vào cuộc mạnh mẽ của các bộ ngành, doanh nghiệp công nghệ, CPĐT ở Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt: Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 tăng gấp đôi; hệ thống trục liên thông văn bản quốc gia phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước đi vào hoạt động; hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ được vận hành; Cổng dịch vụ công quốc gia đi vào hoạt động đã phát huy hiệu quả bước đầu; công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng được cải thiện…

Tuy nhiên, trong năm 2019, việc phát triển CPĐT vẫn nảy sinh một số tồn tại cần phải giải quyết trong năm 2020 và những năm tới. Đó là các nghị định, hành lang pháp lý cho triển khai CPĐT, chưa được ban hành như: Nghị định định danh, xác thực điện tử; quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu; văn thư, lưu trữ điện tử; thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân… Chưa ban hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đất đai; trên 70% các bộ ngành địa phương chưa có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; chưa có nền tảng thanh toán điện tử cho dịch vụ công; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3-4 còn thấp; tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến đối với dịch vụ công trực tuyến cũng còn thấp; thiếu nguồn lực tài chính.

Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa có ý thức thay đổi thói quen, vẫn ưu tiên thực hiện theo các phương thức truyền thống; việc xây dựng CPĐT chồng chéo; các bộ ngành, địa phương dùng nhiều phần mềm khác nhau và không có khả năng liên thông…

Chiến lược về CPĐT của Việt Nam là nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 tới mọi người dân, mọi lúc, mọi nơi, làm cho Chính phủ trở nên minh bạch hơn, phòng chống tham nhũng. CPĐT cũng là một cách để Chính phủ tương tác với người dân và doanh nghiệp; sử dụng công nghệ số giúp người dân ở vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ công, để không một người dân nào bị bỏ lại phía sau. Để thực hiện được các mục tiêu đó, theo Bộ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Mạnh Hùng, chúng ta cần đẩy mạnh sử dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật (IoT)… để đẩy nhanh số hóa Chính phủ, giúp người dân và doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ vào quá trình ra quyết định của Chính phủ, quản trị Chính phủ theo tiêu chuẩn quốc tế. Không làm mạnh và tốt vấn đề này, CPĐT Việt Nam sẽ khó theo kịp các tiêu chuẩn quốc tế, cũng như mang lại những giá trị tích cực, cụ thể cho người dân.

Một vấn đề khác, Việt Nam hiện đang có chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, xây dựng thành phố thông minh… Tất cả những nội dung này đều hướng đến CPĐT. Vì vậy, không nên thành lập thêm các ban chỉ đạo về Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số... Tất cả cần tập trung về một đầu mối là Ban Chỉ đạo quốc gia về CPĐT, nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực, thống nhất chỉ đạo, điều phối để không bị chồng chéo nhau.

Chính phủ nên giao Bộ TT-TT làm cơ quan điều phối thống nhất đảm bảo các dự án về CPĐT, hệ thống phần mềm nền tảng ở các bộ ngành, địa phương, bám sát mục tiêu, tiêu chuẩn CPĐT của Chính phủ. Bộ TT-TT sẽ giám sát đánh giá, tháo gỡ khó khăn và tổng hợp báo cáo trực tiếp lên Ủy ban quốc gia về CPĐT. Vấn đề này cần thống nhất từ Trung ương xuống địa phương. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng có 2 cơ quan cùng điều phối về CPĐT. Có như vậy, thì những vướng mắc trong xây dựng CPĐT mới sớm được giải quyết và có thể phát triển như kỳ vọng. (Sggp.org.vn 17/2, Trần Lưu) Về đầu trang

Không cán bộ có tài, đức bị loại bởi đơn thư xấu

Thực tế công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư, ý kiến phản ảnh của cán bộ, đảng viên và người dân nhiều năm qua cho thấy:

Cứ mỗi lần chuẩn bị đại hội hoặc bầu cử các cấp thì lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo (KNTC) có nội dung liên quan đến công tác lựa chọn nhân sự lại tăng mạnh; có cả chính danh và nặc danh. Gần đây, khi các đơn vị, địa phương chuẩn bị tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng cũng đã xuất hiện tình trạng này.

Cần phải khẳng định rằng: Nội dung tố cáo, ý kiến phản ảnh về những vi phạm, sai phạm là đúng và mang tinh thần xây dựng sẽ giúp tổ chức đảng và cơ quan chức năng nhìn nhận, đánh giá đúng người, đúng việc, góp phần lựa chọn được những cán bộ có đức, có tài tham gia bộ máy lãnh đạo. Đó là điều nên làm và rất cần thiết. Tuy nhiên, nếu đơn thư, nội dung tố cáo sai sự thật; cố tình vu khống nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của tập thể, cá nhân thì là điều rất đáng nguy hại. Nguy hiểm và đáng lo hơn là trong số các đơn thư tố cáo này lại có bàn tay, sự chống lưng, góp sức của một số cán bộ cơ hội, biến chất, kéo bè kéo phái, đứng sau giật dây, kích động, lợi dụng đại hội hòng làm giảm uy tín, đẩy những cán bộ, đảng viên chân chính, có tài, có đức và tinh thần đấu tranh, phê bình ra khỏi cấp ủy, đội ngũ lãnh đạo ở các cấp; từ đó, làm giảm sức chiến đấu của tổ chức đảng, dễ bề thực hiện việc làm sai trái. Vì thế, nếu cơ quan thanh tra, kiểm tra các cấp không tỉnh táo, công tâm, khách quan trong quá trình giải quyết đơn thư KNTC trước đại hội thì rất dễ khiến những cán bộ có tâm, có tầm bị loại bởi đơn thư xấu.

Mới đây, tại hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng năm 2019, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã nhấn mạnh với ngành kiểm tra: Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương và UBKT các cấp phải chú trọng giải quyết đơn thư, các vụ việc, bảo đảm đúng quy định, phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và nhân sự Trung ương khóa XIII theo đúng tinh thần Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị; kiên quyết đấu tranh với tình trạng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Công tác nhân sự luôn được xem là khâu rất quan trọng của mỗi kỳ tổ chức đại hội đảng bộ các cấp. Những người được lựa chọn, gửi gắm niềm tin sẽ quyết định đường hướng phát triển của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đề ra. Vì thế, cùng với việc sáng suốt lựa chọn cán bộ, đảng viên tiêu biểu, “vừa hồng, vừa chuyên”, bảo đảm yêu cầu đề ra theo đúng tinh thần Chỉ thị 35 của Bộ Chính trị thì cấp ủy, UBKT các cấp cần quan tâm, làm tốt việc giải quyết đơn thư KNTC trước đại hội. Muốn làm được điều đó, việc giải quyết KNTC, kết luận, xử lý kỷ luật phải đúng các quy định, nhanh chóng, kịp thời. Cùng với việc tổ chức xử lý kỷ luật nghiêm khi phát hiện tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thì cũng cần xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng đại hội để vu khống, bôi nhọ, tố cáo sai sự thật; kiên quyết loại bỏ những cán bộ, đảng viên tiếp tay cho các đơn thư này ra khỏi cấp ủy, bộ máy chính quyền các cấp. Song song với đó, cấp ủy, nhất là UBKT và ban tổ chức các cấp phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý bịa đặt, xuyên tạc, gán ghép trên internet, mạng xã hội liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự. (Qdnd.vn 16/2, Nguyễn Đức Tuấn) Về đầu trang

Phòng, chống tham nhũng năm con Chuột: Không để con voi thành con chuột!

Có lẽ chưa khi nào công tác phòng, chống tham nhũng lại được triển khai quyết liệt và mạnh mẽ như những năm qua, nhất là khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập trực thuộc bộ Chính trị do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban.

Hàng loạt các vụ việc tham nhũng lớn được phát hiện và xử lý, một số lượng lớn cán bộ, đảng viên kể cả cán bộ cao cấp đã bị xử lý nghiêm khắc, thể hiện thái độ kiên quyết, chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, tỷ lệ thu hồi tiền và tài sản tham nhũng ngày càng cao. Những kết quả đó đã từng bước làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng viên, lây lại niềm tin tưởng của nhân dân và các cơ quan Đảng và nhà nước, vào sự nghiệp đổi mới đất nước và được quốc tế ghi nhận.

Ngành thanh tra luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng. Với chức năng “kép”, là cơ quan thực hiện quyền quản lý nhà nước về công tác phòng chống tham nhũng, vừa trực tiếp là lực lượng phát hiện các dấu hiệu tham nhũng thông qua các cuộc thanh tra kinh tế-xã hội, tiếp nhận và giải quyết các tố cáo, phản ảnh của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền và những người có chức vụ, quyền hạn. Kết quả công tác thanh tra năm qua cho thấy những con số ấn tượng về các sai phạm đã được phát hiện và xử lý qua công tác thanh tra.

Tuy nhiên cũng phải thấy rằng kết quả đó chưa tương xứng với tình trạng tham nhũng, chưa đáp ứng được yêu cầu của Đảng và Nhà nước và sự kỳ vọng của nhân dân. Nguyên nhân của tình trạng này một mặt là do năng lực phát hiện sai phạm còn hạn chế, sự bất cập của các quy đinh về tổ chức và hoạt động thanh tra và quyền hạn của cơ quan thanh tra nhưng còn có cả từ những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động của thanh tra.

Thực tiễn cho thấy một trong những hành vi tiêu ực điển hành trong hoạt động thanh tra, và kể cả các hoạt động kiểm tra, kiểm toán, điều tra chính là việc “ăn chia” số tiền bạc được chiếm đoạt giữa kẻ tham nhũng và những người mang danh chống tham nhũng,  như cách nói của Thủ tướng là việc “vào thấy con voi, ra chỉ còn con chuột!”. Khi phát hiện ra sai phạm của đối tượng, thay vì phải kiên quyết đưa ra ánh sáng để xử lý nghiêm minh thì những kẻ thoái hóa biến chất lại tìm cách mặc cả buộc đối tượng phải đưa những khoản tiền lớn để đổi lại việc mức độ sai phạm được giảm nhẹ thậm chí là ém nhẹm, vô can.

Tại Hội nghị ngành Kiểm sát ngày 16/1/2014, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh cán bộ làm công tác chống tham nhũng “phải luôn giữ cho mình thật sự trong sạch, thật sự liêm chính, phải là người có bản lĩnh, dũng khí, kiên quyết đấu tranh bảo vệ cái đúng, không khoan nhượng với tham nhũng. Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà tay đã nhúng chàm thì không thể chống được tham nhũng”.

Ngược lại, cũng cần kiên quyết đấu tranh với tình trạng “bé xé ra to, con kiến biến thành con voi”, coi những sai sót của người dân và doanh nghiệp, những bất cập trong quy định là cơ hội để tạo sức ép gây phiền hà sách nhiễu, vòi vĩnh quà cáp hối lộ. Chỉ thị số 10 ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường xử lý, ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho công dân, doanh nghiệp khi giải quyết công việc chính là sự phản ứng mạnh mẽ, kịp thời của Chính phủ đối với tình trạng “tham nhũng vặt” mà các cơ quan nhà nước cần quán triệt và thực hiện nghiêm tục để góp phần vào quá trình xây dựng Chính phủ kiến tạo và phục vụ với đội ngũ cán bộ, công chức tận tụy chuyên nghiệp và liêm chính.

Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra phải lấy xây làm chính, không chỉ là hoạt động “tóm bắt, vạch mặt” mà còn phải chú trọng phát hiện những “lỗi hệ thống” dẫn đến cơ hội cho kẻ tham nhũng lợi dụng, giúp Đảng và Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, tạo ra một nền quản trị tốt “không thể tham nhũng”.

Trong thời gian tới, cùng với các lực lượng có chức năng phòng, chống tham nhũng khác, đội ngũ cán bộ thanh tra cần tiếp tục rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chiến đấu, tra dồi trình độ nghiệp vụ để đẩy mạnh cuộc chiến chống “quốc nạn tham nhũng”, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đối mới và kỳ vọng của nhân dân. Chống tham nhũng không chỉ cần có biện pháp mạnh mẽ, cần có “bàn tay sắt” mà trước hết phải có những “bàn tay sạch”, đấu tránh với những hành vi vi phạm bên ngoài nhưng trước hết cũng phải đấu tranh với chính mình để miễn dịch với cám dỗ hàng ngày, hàng giờ mà người cán bộ thanh tra phải đối mặt trong trận chiến không tiếng súng nhưng đầy cam go./. (Viettimes.vn 17/2, TS. Đinh Văn Minh - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh Tra Chính phủ) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.029.617 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này