Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 22/02/2021
1. Hà Nội: Đơn giản hóa 15 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực công nghiệp, chế xuất
2. Thừa Thiên Huế: Cơ quan hành chính Nhà nước phải đi đầu về chuyển đổi số
3. Thái Bình: Sẽ phạt “nguội” qua hệ thống camera giám sát thông minh
4. Thừa Thiên - Huế: Đẩy nhanh tiến độ cấp thẻ căn cước công dân gắn chíp điện tử
5. Chuyển biến sau sáp nhập đơn vị hành chính ở Điện Biên
6. Lạng Sơn thí điểm bưu điện tiếp nhận và trả hồ sơ thủ tục hành chính: Hiệu quả bước đầu
7. Bộ LĐ-TB&XH sẽ bốc thăm ngẫu nhiên để xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Công dân số - nền tảng để chuyển đổi số
9. Phương thuốc hiệu quả ngăn ngừa tham nhũng
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội: Đơn giản hóa 15 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực công nghiệp, chế xuất
Đây là kết quả rà soát, đánh giá thủ tục hành chính theo Kế hoạch số 45/KH-UBND ngày 26-2-2020 của UBND thành phố Hà Nội về rà soát, đánh giá thủ tục hành chính năm 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội lĩnh vực thuộc Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội.
Năm 2020, tổng số thủ tục hành chính lĩnh vực thuộc Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội được rà soát là 62 thủ tục. Sau rà soát, có 15 thủ tục hành chính được đề xuất đơn giản hóa, đạt tỷ lệ 24%.
Đáng chú ý, thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế đã thực hiện đơn giản hóa thời gian giải quyết theo phương án được thông qua tại Quyết định số 702/QĐ-UBND ngày 4-2-2019 của UBND thành phố Hà Nội (giảm từ 15 ngày còn 10 ngày); đến nay, qua rà soát, đánh giá, tiếp tục được giảm thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống còn 9 ngày (giảm 1 ngày).
Thủ tục giãn tiến độ đầu tư đã thực hiện đơn giản hóa thời gian giải quyết theo phương án được thông qua tại Quyết định số 603/QĐ-UBND ngày 1-2-2018 của UBND thành phố (giảm từ 15 ngày còn 10 ngày), qua rà soát, đánh giá, tiếp tục được giảm thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống 9 ngày (giảm 1 ngày).
Thủ tục thành lập văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) đã thực hiện đơn giản hóa thời gian giải quyết theo phương án được thông qua tại Quyết định số 702/QĐ-UBND ngày 4-2-2019 của UBND thành phố (giảm từ 15 ngày còn 10 ngày); qua rà soát, đánh giá, tiếp tục được giảm thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống 5 ngày (giảm 5 ngày).
Thủ tục bảo đảm đầu tư trong trường hợp không được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư đã thực hiện đơn giản hóa thời gian giải quyết theo phương án được thông qua tại Quyết định số 702/QĐ-UBND ngày 4-2-2019 của UBND thành phố (giảm từ 30 ngày còn 28 ngày); qua rà soát, đánh giá, tiếp tục được giảm thời gian giải quyết từ 28 ngày xuống 25 ngày (giảm 3 ngày).
Thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư theo bản án, quyết định của tòa án, trọng tài đã thực hiện đơn giản hóa thời gian giải quyết theo phương án được thông qua tại Quyết định số 702/QĐ-UBND ngày 4-2-2019 của UBND thành phố (giảm từ 15 ngày còn 10 ngày); qua rà soát, đánh giá, tiếp tục được giảm thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống 9 ngày (giảm 1 ngày).
Trong lĩnh vực xây dựng, thủ tục cấp giấy phép xây dựng các công trình nằm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được giảm thời gian giải quyết từ 20 làm việc ngày xuống 10 ngày làm việc (giảm 10 ngày làm việc)... (Hanoimoi.com.vn 21/02, Thúy Nga)Về đầu trang
Thừa Thiên Huế: Cơ quan hành chính Nhà nước phải đi đầu về chuyển đổi số
Theo công bố của Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin - Truyền thông về báo cáo đánh giá mức độ công nghệ thông tin của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2019 (ICT Index), Thừa Thiên Huế là tỉnh duy nhất trong 63 tỉnh, thành trên toàn quốc có chỉ số trên 0,9 điểm (0,9039 điểm), xếp vị trí thứ nhất.
Đây là kết quả của sự nỗ lực trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trên tất cả lĩnh vực của tỉnh nhằm hướng đến lộ trình xây dựng thành phố thông minh, Chính quyền điện tử tiến đến chính quyền số trong tương lai.
Nhằm nâng cao nhận thức về chuyển đổi số trong các cơ quan Nhà nước, đích thân Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ đã có các buổi làm việc với các ngành để quán triệt, triển khai chương trình, kế hoạch chuyển đổi số của từng ngành, từng lĩnh vực dịch vụ công, giáo dục và đào tạo, du lịch, giao thông vận tải, nông nghiệp và một số chuyên đề có sự phối hợp giữa các ngành để xây dựng kế hoạch chuyển đổi số.
Cùng với đó, để thúc đẩy triển khai xây dựng chính quyền số, hướng tới phát triển kinh tế số, xã hội số, tỉnh đã hoàn thiện các thể chế về chuyển đổi số và nền tảng phát triển Chính quyền điện tử, chính quyền số; đồng thời từng bước hoàn thiện và tích hợp, liên thông các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tiến hành số hóa các dữ liệu tại các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh và hạ tầng kết nối, hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo an ninh mạng.
Theo ông Nguyễn Xuân Sơn, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên Huế, đến nay 100% các thủ tục hành chính (TTHC) của tỉnh được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 trở lên; trong đó số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 với 1.296 dịch vụ; 976 số dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, giúp người dân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu quy trình, thủ tục, thành phần hồ sơ... liên quan TTHC cần giao dịch.
Tất cả hồ sơ của người dân, doanh nghiệp nộp được nhập vào hệ thống một cửa điện tử, do vậy người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu trạng thái giải quyết hồ sơ trực tuyến qua mạng Internet, SMS, Zalo… Khi người dân nộp hồ sơ liên quan đất đai có cung cấp số di động sử dụng Zalo, trạng thái hồ sơ được thông báo cho người dân. Điều này giảm giấy tờ, thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận cao trong giải quyết TTHC.
Ngoài xây dựng, phát triển hạ tầng mạng, hiện tỉnh đang thí điểm Đề án chính quyền số với nhiều nội dung hướng đến mục tiêu lấy người dân làm trung tâm, như: Cung cấp tốt hơn các dịch vụ số sử dụng các công nghệ và công cụ hiện đại; nâng cao chất lượng các dịch vụ di động cho người dân, doanh nghiệp; đánh giá hiệu năng, chất lượng của dịch vụ và sự hài lòng của người dân để cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất. (Doanhnghiepvn.vn 22/02, Viên Hữu)Về đầu trang
Thái Bình: Sẽ phạt “nguội” qua hệ thống camera giám sát thông minh
Tỉnh Thái Bình vừa có Công văn bắt đầu từ ngày 1/3 sẽ triển khai xử phạt “nguội” đối với hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ qua hệ thống camera giám sát thông minh.
Theo đó, UBND tỉnh Thái Bình giao Công an tỉnh tổ chức xử phạt “nguội” đối với các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn tỉnh theo đúng quy trình, quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Công an.
Trước khi tiến hành việc phạt "nguội", các đơn vị chức năng liên quan sẽ thông báo rộng rãi việc xử phạt "nguội" qua hệ thống camera giám sát thông minh của lực lượng cảnh sát giao thông đối với các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn tỉnh bắt đầu từ ngày 1/3 để các tầng lớp nhân dân biết.
Trước đó, tỉnh Thái Bình đã khai trương hệ thống camera thông minh thực hiện giám sát giao thông trên địa bàn thành phố Thái Bình và tại 5 cửa ngõ của tỉnh, 18 vị trí an ninh trọng yếu với 124 mắt giám sát 24/7, giai đoạn 2020-2025.
Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Thái Bình thông tin camera tại 18 vị trí an ninh trọng yếu giám sát cả ngày và đêm, sẽ tự động nhận diện khuôn mặt, phát hiện đám đông (từ năm người trở lên) và đưa ra các cảnh báo.
Sau khi đi vào hoạt động, 124 mắt camera thuộc hệ thống giám sát thông minh sẽ giúp tìm kiếm, theo dõi hình ảnh ở từng địa điểm với chức năng có thể phóng to, thu nhỏ, điều chỉnh hướng giám sát tại các vị trí quan trọng và các giờ cao điểm. Đặc biệt, hỗ trợ đắc lực trong việc giám sát giao thông, tìm kiếm, truy xuất dữ liệu các hành vi vi phạm giao thông. (Xây dựng 20/02, Kim Oanh)Về đầu trang
Thừa Thiên - Huế: Đẩy nhanh tiến độ cấp thẻ căn cước công dân gắn chíp điện tử
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an về triển khai thực hiện dự án sản xuất, cấp và quản lý thẻ căn cước công dân (CCCD), Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế đã và đang nỗ lực, tập trung thực hiện nhiều giải pháp để đẩy nhanh tiến độ cấp thẻ CCCD đúng với kế hoạch.
Thượng tá Hoàng Thị Mai, Trưởng Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính (QLHC) về trật tự xã hội (TTXH) Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, kế hoạch của đơn vị sẽ hoàn thành cấp CCCD gắn chíp điện tử cho hơn 900.000 người dân trên địa bàn tỉnh trước ngày 1/7/2021.
Do đó, sau 3 ngày Tết Nguyên đán Tân Sửu, cán bộ, chiến sĩ (CBCS) đơn vị đã khẩn trương bắt tay vào công việc, tiếp tục triển khai công tác tiếp nhận hồ sơ cấp thẻ CCCD cho người dân. Để đảm bảo đúng tiến độ công việc khi số lượng cấp thẻ CCCD rất lớn và trên hết là đảm bảo việc tiếp nhận thông tin của người dân được đầy đủ, chính xác, đơn vị đã xây dựng kế hoạch, đồng thời triển khai nhiều giải pháp để thu nhận hồ sơ cấp CCCD.
Cụ thể, từ ngày 1/1/2021, đơn vị đã triển khai cấp CCCD cho đối tượng ưu tiên là đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; lãnh đạo, công chức, viên chức các Sở, ban, ngành của tỉnh và sau đó triển khai tại các địa bàn dân cư. Ngay từ những ngày đầu năm mới, CBCS đơn vị đã chia làm 3 ca làm việc từ sáng đến 22h tối nhằm tiếp nhận hồ sơ cấp CCCD của người dân.
Qua ghi nhận, vào những ngày đầu năm mới Tân Sửu, có hàng trăm người dân đến Trung tâm tiếp công dân Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế tại số 50 Trần Cao Vân, TP Huế để làm thủ tục cấp CCCD.
Ngoài bố trí CBCS túc trực tiếp nhận hồ sơ tại Trung tâm này, Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế còn bố trí thêm nhiều tổ công tác lưu động phối hợp với Công an các huyện, thị xã để tiếp nhận hồ sơ cấp CCCD cho người dân địa phương.
Theo Thiếu tá Văn Viết Hiếu Trung, Đội trưởng Đội Hướng dẫn, đăng ký, quản lý cư trú, cấp CMND, CCCD, ngoài tăng cường lực lượng, Đội còn bố trí thêm máy móc, trang thiết bị, biểu mẫu để phục vụ việc cấp thẻ CCCD.
Dù khối lượng công việc lớn, áp lực nhưng khi tiếp nhận hồ sơ, các CBCS đơn vị đều tận tình hướng dẫn, giúp đỡ người dân làm thủ tục nhanh chóng, thuận tiện. Do giai đoạn đầu dữ liệu đang được làm sạch nên người dân khi đến làm hồ sơ cần mang theo các giấy tờ như CMND, hộ khẩu, giấy khai sinh để đối chiếu, phục vụ việc cấp CCCD chuẩn xác. (Cand.com.vn 21/02, Anh Khoa)Về đầu trang
Chuyển biến sau sáp nhập đơn vị hành chính ở Điện Biên
Sau hơn một năm thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết 815/NQ-UBTVQH14 ngày 21-11-2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (TVQH) khóa XIV, bước đầu tỉnh Điện Biên đã đạt nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng nông thôn các địa phương điều chỉnh, sáp nhập được đầu tư đồng bộ, khang trang; đời sống nhân dân các dân tộc được cải thiện đáng kể; nhân dân thêm tin tưởng vào chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.
Đồng chí Hà Quang Trung, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Điện Biên Phủ chia sẻ: Thực tế cho thấy, sau hơn một năm tiếp quản bốn xã và sáp nhập hai xã là chủ trương đúng đắn, góp phần nâng cao tiêu chí đô thị, đồng thời sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, phù hợp quy hoạch của tỉnh, của thành phố. Đến cuối năm 2020, thành phố đánh giá có ba trong bốn xã mới sáp nhập đã hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Riêng xã Pá Khoang hoàn thành 11 trong số 19 tiêu chí. Vì vậy, thời gian tới thành phố tiếp tục quan tâm dành nhiều nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, nâng cao đời sống người dân tại xã Pá Khoang nói riêng và bốn xã mới sáp nhập nói chung. Quá trình triển khai, địa phương sẽ ưu tiên kinh phí xây dựng các mô hình kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các xã, phường.
Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Điện Biên Phủ Lê Minh Tú cho biết: Sau sáp nhập, UBND xã Thanh Minh (mới) có tổng số 39 cán bộ, công chức, trong đó dôi dư 21 người. Để giải quyết tồn tại này, UBND thành phố đã điều động, luân chuyển và giải quyết nghỉ hưu, nghỉ việc đối với sáu người trong năm 2020 và 15 người tiếp tục được giải quyết sắp xếp bố trí trong 5 năm tiếp theo.
Tại huyện Tủa Chùa, với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là “điều chỉnh nhưng không gây xáo trộn”, không làm thay đổi tổ chức bộ máy đối với thị trấn Tủa Chùa, xã Mường Báng, UBND huyện quyết định trước mắt vẫn giữ nguyên hiện trạng đội ngũ cán bộ, công chức hai đơn vị rồi sau đó lập kế hoạch sắp xếp, điều chuyển dần sao cho phù hợp nguyện vọng, điều kiện của cán bộ, công chức diện sắp xếp. Riêng về cơ sở hạ tầng, UBND huyện Tủa Chùa chỉ đạo tiếp tục sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất cũ cho đến khi UBND huyện bố trí được kinh phí xây dựng cơ sở mới chứ không thay bỏ ngay sau khi điều chỉnh.
Khẳng định kết quả đạt được sau sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính ở Điện Biên đạt được như thời gian qua là nỗ lực chung của các cấp, các ngành, song đồng chí Lê Hữu Khang nhấn mạnh: Quan trọng ở đây là sự đồng thuận, tin tưởng, ủng hộ của nhân dân các dân tộc tại các địa bàn thực hiện điều chỉnh. Nhờ có sự ủng hộ của nhân dân cho nên khó khăn sẽ từng bước được tháo gỡ. (Nhân dân 22/02, Lê Lan)Về đầu trang
Lạng Sơn thí điểm bưu điện tiếp nhận và trả hồ sơ thủ tục hành chính: Hiệu quả bước đầu
Năm 2020, Bưu điện tỉnh Lạng Sơn thực hiện thí điểm tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC) thay thế công chức thuộc 6 sở, ngành tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh (PVHCC). Với nhiều giải pháp tích cực, Bưu điện tỉnh đã thực hiện tốt nội dung trên, đem lại hiệu quả bước đầu, góp phần tiết kiệm nhân lực, chi phí cho các cơ quan Nhà nước.
Ngày 11/9/2020, UBND tỉnh ra Quyết định số 1778/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch thí điểm chuyển giao nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC cho Bưu điện tỉnh tại Trung tâm PVHCC tỉnh. Theo đó, kể từ ngày 1/10/2020, Bưu điện tỉnh thay thế công chức của 6 sở, ban, ngành gồm: Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Tài chính; Sở Ngoại vụ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn.
Việc thí điểm này nhằm góp phần đẩy mạnh công tác cải cách hành chính ở chỗ góp phần kiện toàn, sắp xếp hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước; xã hội hóa các dịch vụ hành chính công, mang lại lợi ích và tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức trong quá trình thực hiện các TTHC tại cơ quan hành chính Nhà nước.
Tính đến nay, sau hơn 4 tháng triển khai, nhân viên bưu điện đã tiếp nhận 152 hồ sơ TTHC (123 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp, 29 hồ sơ tiếp nhận qua dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) và một cửa điện tử và chuyển trả kết quả giải quyết 116 hồ sơ TTHC của các đơn vị được thí điểm.
Ông Bùi Đức Trung, Phó Giám đốc Trung tâm PVHCC tỉnh cho biết: Việc thí điểm này đã góp phần giảm số lượng nhân lực của 6 sở, ban, ngành từ 12 công chức xuống còn 2 nhân viên bưu điện thực hiện tiếp nhận và trả kết quả. Đồng thời, cơ sở vật chất như: máy tính, bàn ghế làm việc… tại trung tâm cũng giảm xuống góp phần tiết kiệm chi phí, nhân lực cho các sở, ngành. (Baolangson.vn 22/02, Hoàng Hiếu)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Bộ LĐ-TB&XH sẽ bốc thăm ngẫu nhiên để xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ
Kê khai tài sản, thu nhập được xem là một trong những biện pháp để hạn chế tình trạng tham nhũng trong cán bộ, công chức. Triển khai nhiệm vụ này, năm 2021 Bộ LĐ-TB&XH sẽ lựa chọn ngẫu nhiên bằng hình thức bốc thăm để tiến hành xác minh đối với các trường hợp thuộc diện phải kê khai.
Theo Quyết định số 226/QĐ-LĐTBXH ngày 18/2/2021 của Bộ LĐ-TB&XH, việc ban hành kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập là nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực, rõ ràng nội dung kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Đồng thời nhằm ngăn ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng đối với người có nghĩa vụ kê khai.
Liên quan đến nội dung xác minh, Bộ LĐ-TB&XH định hướng cần tập trung xác minh tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng nội dung bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và xác minh thực tế tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Thanh tra Bộ LĐ-TB &XH là cơ quan chịu trách nhiệm việc tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tại 9 đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ và xác minh những người có nghĩa vụ kê khai quy định tại Điều 10 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Tiến Tùng, Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH thông tin, theo Quyết định mới do Bộ trưởng Bộ LĐ-TB &XH Đào Ngọc Dung vừa ký ban hành yêu cầu việc xác minh tài sản, thu nhập phải được tiến hành kịp thời, công khai, khách quan, trung thực. Việc xác minh tài sản, thu nhập được giao cho Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH thực hiện theo thủ tục, trình tự quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo đó, người được lựa chọn xác minh tài sản, thu nhập là những người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập nhưng chưa được xác minh về tài sản, thu nhập trong thời gian 4 năm liền tính từ ngày 31/12/2020 trở về trước. Bộ LĐ-TB&XH cũng thông tin là không lựa chọn xác minh tài sản, thu nhập của những người đang bị điều tra, truy tố, xét xử, người đang điều trị bệnh hiểm nghèo được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận, người đang học tập, công tác ở nước ngoài từ 12 tháng trở lên.
Đáng chú ý, tại mỗi đơn vị được xác minh, lựa chọn tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai, trong đó có ít nhất 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị. "Người được xác minh tại mỗi đơn vị trong năm nay sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên bằng hình thức bốc thăm. Khi tiến hành lựa chọn bốc thăm người được xác minh, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập mời đại diện Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy cùng cấp dự và chứng kiến"- Quyết định số 226 nêu rõ.
Thông tin về điểm mới trong Quyết định số 226/QĐ-LĐTBXH ngày 18/2/2021 của Bộ LĐ-TB&XH, ông Nguyễn Tiến Tùng cho biết, theo khoản 3, Điều 15 Nghị định 130/2020 nêu rõ: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kế hoạch xác minh được ban hành. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh. Việc lựa chọn được thực hiện công khai bằng hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm máy tính.
Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập mời đại diện Ủy ban kiểm tra Đảng và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp dự và chứng kiến việc lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh.
Số lượng người được lựa chọn để xác minh ngẫu nhiên phải bảo đảm tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai hàng năm tại mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác minh, trong đó có ít nhất 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị.
"Theo quy định này, có thể thấy, bất cứ cán bộ, công chức nào cũng có thể được chọn "ngẫu nhiên" để xác minh thu nhập, tài sản. Qua đó, đảm bảo ít nhất 10% cán bộ, công chức có nghĩa vụ kê khai hàng năm phải được xác minh. Tuy nhiên, dù được quy định là xác định "ngẫu nhiên" nhưng phải đảm bảo ít nhất có 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị" - ông Tùng giải thích.
Văn bản mới cũng quy định, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH có thẩm quyền ban hành QĐ xác minh và thành lập Tổ xác minh tài sản, thu nhập theo Điều 45 Luật Phòng, chống tham nhũng. Và khi kết thúc xác minh tại mỗi đơn vị, Tổ trưởng Tổ xác minh tài sản, thu nhập phải báo cáo kết quả và dự thảo Kết luận xác minh, trình Bộ trưởng ban hành Kết luận xác minh. (Baodansinh.vn 22/02, Văn Bình)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Công dân số - nền tảng để chuyển đổi số
Một trong 3 khâu đột phá chiến lược được nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng XIII là chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng cho công cuộc chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số. Người thực hiện cũng như vận hành một quốc gia số chính là các công dân số. Vì vậy, trước hết và điều kiện nền tảng cho CĐS thành công là hình thành cộng đồng công dân số.
Theo định nghĩa của Karen Mossberger, một trong nhóm tác giả của cuốn sách "Quyền công dân số: internet, xã hội và sự tham gia", công dân số là người dùng công nghệ thông tin để tham gia vào các hoạt động của xã hội, chính trị và chính quyền. Công dân số là những người sử dụng internet thường xuyên và hiệu quả.
Nguyên nhân nền tảng của việc Việt Nam có nhiều người dùng internet hàng đầu thế giới chính là độ phủ sóng internet cũng thuộc hàng đầu thế giới, kết hợp với khả năng người dân dễ dàng tiếp cận với internet rất cao. Việt Nam là 1 trong 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới. Theo thống kê của We Are Social/Hootsuite vào tháng 1, trong tổng số dân hơn 97 triệu người của Việt Nam, có tới 68,72 triệu người sử dụng internet, chiếm 70,3% tổng số dân.
Trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong năm 2020 khi cả thế giới khốn đốn vì đại dịch Covid-19, Việt Nam cho thấy rõ quyết tâm tiến hành công cuộc CĐS một cách toàn diện trên quy mô quốc gia. Ngay từ bộ máy quản lý đất nước cao nhất cũng đã thể hiện rõ ý chí và quyết tâm tiến hành CĐS. Chưa bao giờ như hiện nay, Việt Nam có rất nhiều thuận lợi thúc đẩy công cuộc CĐS, có thể biến đại dịch Covid-19 với những đặc thù khác thường của nó thành một cơ hội để đẩy nhanh tiến trình số hóa toàn diện quốc gia. Xã hội thật sự có nhu cầu phải CĐS nhanh và hiệu quả. Trong thời gian đại dịch bùng phát, cả xã hội đã cùng học hành, làm việc online, hầu như mọi hoạt động xã hội truyền thống giờ đây diễn ra trên không gian mạng, hàng loạt dịch vụ công, dịch vụ tư đã được chuyển lên mạng. Tất cả giúp người dân làm quen và thấy rõ hơn giá trị và lợi ích của CĐS.
Để phát triển giáo dục số, ngành giáo dục đã xây dựng được cơ sở dữ liệu, số hóa thông tin của gần 53.000 trường học các cấp, 25 triệu học sinh và 1,5 triệu giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Tết Tân Sửu 2021 đến giữa tình hình bùng phát dịch trong nước căng thẳng, cũng là cái Tết được số hóa toàn diện nhất từ trước đến nay. Các nền tảng dịch vụ số như Google, TikTok… đều xây dựng hàng loạt chương trình giúp người dân có thể vui Tết trên internet. Các sàn thương mại điện tử kết hợp với các dịch vụ giao chuyển hàng hóa đã đẩy mạnh hoạt động phục vụ nhu cầu mua sắm Tết của người dân. Các ngân hàng và các trung gian thanh toán như ví điện tử đã tăng cường dịch vụ thanh toán điện tử, thậm chí lì xì số.
Năm 2020, Việt Nam đã đạt được những đột phá trong việc đưa dịch vụ hành chính công lên internet, thực hiện việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, góp phần đẩy nhanh quá trình hiện thực hóa Chính phủ điện tử. Đến trung tuần tháng 8-2020, Cổng Dịch vụ Công quốc gia đã tích hợp, cung cấp được hơn 1.000 dịch vụ công trực tuyến. Và sau 1 năm vận hành, tính đến tháng 12-2020, cổng đã đem lại nhiều tiện ích cho người dân, đồng thời giúp xã hội tiết kiệm được tổng chi phí trên 6.700 tỉ đồng/năm. Các quy định pháp lý về số hóa các thủ tục, giấy tờ đã được Việt Nam hoàn thiện dần là những nền tảng cho các công dân số.
Từ tháng 2 năm nay, Việt Nam bắt đầu cấp thẻ căn cước công dân (CCCD) có gắn chip điện tử giúp chống giả mạo tốt hơn, tạo cơ sở cho người dân tham gia tiện lợi hơn vào các lĩnh vực số. Theo Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019, kể từ ngày 1-7-2020, Việt Nam bắt đầu phát hành hộ chiếu điện tử có gắn chip lưu giữ thông tin nhưng do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên cơ quan chức năng vẫn chưa thể triển khai theo kế hoạch. Theo Luật Cư trú năm 2020, từ ngày 1-7-2021, Việt Nam sẽ bỏ phương thức quản lý cư trú truyền thống thông qua sổ hộ khẩu, sổ tạm trú để chuyển sang quản lý bằng số hóa. Để tránh xáo trộn, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã được cấp vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú cho đến hết ngày 31-12-2022. Ngay từ năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã công nhận bệnh án điện tử và vào tháng 12-2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 46/2018/TT-BYT quy định hồ sơ bệnh án điện tử.
Rõ ràng, sau một năm 2020 phải sống trong môi trường được số hóa gần như toàn diện với những mức độ khác nhau, người dân đã quen nhiều hơn bao giờ hết với một xã hội số.
Vì thế, điều quan trọng nhất là cơ quan hữu trách - ở đây là bộ máy quản lý nhà nước - phải chuẩn bị sẵn giải pháp để duy trì được hoạt động số đã hình thành và hoạt động trong mùa dịch Covid-19. Nếu không, nhiều khả năng người ta sẽ quay lại "truyền thống" như cũ và lại là một cơ hội nữa bị bỏ lỡ. (Nld.com.vn 21/02, Phạm Hồng Phước)Về đầu trang
Phương thuốc hiệu quả ngăn ngừa tham nhũng
Kiểm soát tài sản, thu nhập của nhân viên nhà nước, chính phủ đã được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng nhằm ngăn ngừa tham nhũng, ngăn chặn sự độc quyền, lạm quyền và thao túng chính trị, bảo đảm cho nền hành chính hoạt động liêm chính. Đối với nước ta, kiểm soát tài sản, thu nhập đã được triển khai từ nhiều năm và đã góp phần từng bước kiềm chế, ngăn chặn tham nhũng, qua đó giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội khóa XII vừa qua.
Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận, việc thực hiện Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17-7-2013 của Chính phủ “Về minh bạch tài sản, thu nhập” và 2 lần sửa đổi nghị định liên quan trước đó vào năm 2007 và năm 2011 còn nặng về hình thức. Mẫu số chung của các năm là 100% người kê khai đúng hạn, đúng yêu cầu; không có hoặc có rất ít trường hợp bất thường, không trung thực phải xác minh lại. Ví dụ như giai đoạn 2006-2016, cả nước chỉ phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực; 70 người bị xử lý kỷ luật do vi phạm quy định về tổ chức thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập. Năm 2018, có 1.136.902 người kê khai tài sản, thu nhập nhưng cũng chỉ phát hiện 6 trường hợp vi phạm.
Trên thực tế, kê khai tài sản, thu nhập vốn được xem là vấn đề nhạy cảm. Do việc kiểm soát, đánh giá tài sản kê khai rất phức tạp, cần sự phối hợp của nhiều cơ quan chuyên môn; do quy định xử lý các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc mới chỉ dừng ở kiểm điểm và kỷ luật; đồng thời việc sử dụng tiền mặt còn phổ biến trong xã hội... nên không ít cán bộ, đảng viên đã không trung thực, kê khai không đầy đủ.
Đặc biệt hiện nay, chủ nghĩa sùng bái vật chất trong nhiều cán bộ, đảng viên là căn nguyên khiến nhiều người không giữ được liêm chính, sa vào tham nhũng. Hệ lụy tất yếu sinh ra các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy tội… mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Việc cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông Nguyễn Bắc Son nộp lại 66 tỷ đồng trong vụ án Tổng công ty Viễn thông MobiFone mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG) là điển hình của việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.
Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30-10-2020 của Chính phủ “Về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị” (thay thế Nghị định số 78/2013/NĐ-CP) có hiệu lực từ ngày 20-12-2020 ra đời nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tế, đã quy định rất rõ đối tượng, nội dung, thời gian, phương pháp tiến hành. Tuy nhiên, vì chưa có hướng dẫn thực hiện nên việc chưa niêm yết công khai bản kê khai tài sản, thu nhập của những người thuộc diện 105 chức danh như Nghị định số 130/2020/NĐ-CP yêu cầu còn khá phổ biến.
Có thể thấy, một trong những phẩm chất cốt lõi và cần thiết nhất của cán bộ, đảng viên đó là sự trung thực. Chỉ có trung thực mới giúp cán bộ, đảng viên luôn trung thành, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Nếu cá nhân không trung thực, gương mẫu kê khai tài sản, thu nhập với Đảng, với nhân dân thì họ không xứng đáng với chức trách, nhiệm vụ được giao.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”. Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kê khai tài sản, thu nhập chính là bước tiến, là công cụ pháp lý để việc giám sát ấy đạt hiệu quả, giúp Đảng ta kiểm soát được quyền lực, chống lạm quyền, lộng quyền và phòng, chống tham nhũng tốt hơn.
Để việc kiểm soát tài sản, thu nhập phát huy hiệu quả và thực sự là một giải pháp mạnh trong ngăn ngừa tham nhũng thì vấn đề quan trọng là các cơ quan chức năng nhanh chóng xây dựng văn bản hướng dẫn để Nghị định số 130/2020/NĐ-CP sớm đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng nội dung Nghị định số 130/2020/ NĐ-CP; cần đưa hoạt động kê khai, niêm yết công khai tài sản, thu nhập cán bộ, đảng viên vào tiêu chí để bình xét chất lượng đảng viên, đánh giá thi đua và khen thưởng.
Mặt khác, các cơ quan, đơn vị, địa phương nên công khai những tập thể, cá nhân làm tốt và chỉ rõ những trường hợp có biểu hiện “né tránh”, hoặc tiến hành qua loa, đại khái công tác kê khai tài sản, thu nhập trên các phương tiện truyền thông để nhân dân giám sát.
Việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ rất quan trọng vì thông qua đó sẽ chỉ ra được nguồn tài sản bất minh. Đặc biệt, đây là cơ sở quan trọng để nhân dân, cử tri lựa chọn đại biểu ưu tú bầu vào Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 diễn ra trong thời gian tới. Song, để Nghị định số 130/2020/NĐ-CP phát huy hiệu lực, thiết nghĩ cũng cần nghiên cứu đưa ra quy định xử lý những tài sản mà cán bộ, đảng viên có chức quyền không chứng minh được nguồn gốc. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cũng cần chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện chủ trương không dùng tiền mặt một cách triệt để; đẩy nhanh tiến độ cải cách tiền lương, nâng cao thu nhập chính đáng cho cán bộ, công chức, viên chức...
Chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước chỉ có ý nghĩa khi việc thực thi nghiêm túc. Bằng hành động quyết liệt, triệt để, dưới sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân thì việc kê khai tài sản, thu nhập chắc chắn sẽ thực sự trở thành phương thuốc hữu hiệu ngăn ngừa tham nhũng. (Hanoimoi.com.vn 22/02, Mạnh Thắng)Về đầu trang./.