Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 24/9/2021
1. Để thúc đẩy thực hiện một cửa và một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
2. Cục Thuế TP Hà Nội: Chủ động và kiến tạo trong chuyển đổi số
3. Tiền Giang muốn vào top 30 về chỉ số cải cách, quản lý, cạnh tranh
4. An Giang: Nhiều kết quả quan trọng trong cải cách hành chính
5. Bà Rịa - Vũng Tàu: Tránh tình trạng “sáng phát, chiều thu”
6. Doanh nghiệp tiết kiệm 3,282 tỷ USD nhờ giảm thời gian thông quan
7. Tòa án là ''hạt nhân'' trong cải cách tư pháp
8. Chi phí tuân thủ pháp luật cần chú ý hơn ở khâu thi hành
9. Chuyển đổi số nông nghiệp để bắt kịp xu thế thị trường
10. Hà Nội: Công chức Tư pháp – Hộ tịch được nhận hỗ trợ 15% mức lương cơ sở/tháng
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
11. Đừng làm khó doanh nghiệp vì các quy định bất hợp lý
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Để thúc đẩy thực hiện một cửa và một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính đã và đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng để đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần hình thành công dân số, doanh nghiệp số, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số trong giai đoạn hiện nay. Thực tế triển khai trên toàn quốc cũng cho thấy nhiều khó khăn, thách thức cần được nhận diện đầy đủ và có giải pháp tháo gỡ cần thiết…
Theo Văn phòng Chính phủ, quán triệt và triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, đến nay, cả nước đã có 59 địa phương tổ chức Trung tâm hành chính công; 100% các bộ, ngành, địa phương đã kiện toàn hệ thống một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; chất lượng giải quyết hồ sơ đã có sự cải thiện rõ rệt, hầu hết các địa phương tỷ lệ giải quyết đúng hạn từ 90% trở lên.
Việc triển khai thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan, đơn vị đã góp phần đem lại nhiều kết quả trong cải cách thủ tục hành chính, tạo nhiều thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi có nhu cầu giải quyết công việc tại các cơ quan hành chính nhà nước các cấp Trung ương và địa phương.
Việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính (kể cả hồ sơ nộp trực tiếp) theo hướng phi địa giới hành chính đã được triển khai ở một số lĩnh vực có cơ sở dữ liệu tập trung (như Giấy phép lái xe) mang hiệu quả lớn đối với xã hội, nhất là khi chúng ta triển khai số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính với nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin được đưa vào vận hành và có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu với nhau.
Việc cho phép doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích đã được giao thực hiện việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp theo quy định tại Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg cũng đã góp phần tối ưu hóa năng suất, chất lượng hiệu quả hoạt động của bộ phận một cửa…
Tuy nhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân, nên việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông mới chủ yếu đơn thuần xử lý theo hướng thống nhất đầu mối, quy trình phối hợp thực hiện giữa các cơ quan. Hơn nữa, quy trình phối hợp này và việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống, hồ sơ giấy, nhất là ở các địa phương (với tỷ lệ khoảng tới 93,7%).
Thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức trong việc tham gia vào quá trình số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính chưa được làm rõ, trong khi chưa hình thành cơ chế giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính đồng bộ theo thời gian thực từ hệ thống một cửa các cấp; Đặc biệt, chưa có quy định về lưu trữ điện tử đối với hồ sơ thủ tục hành chính dẫn đến việc lúng túng, thiếu thống nhất, chậm trễ trong thực hiện số hóa.
Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ trong thực hiện thủ tục hành chính tại các “Bộ phận một cửa” các cấp trên cơ sở kết nối chia sẻ dữ liệu của các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Hệ thống một cửa điện tử để sử dụng lại các hồ sơ, giấy tờ điện tử, giảm các thủ tục kiểm tra, xác nhận,… chưa được thực hiện.
Để khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, tăng năng suất lao động, góp phần hình thành công dân số, doanh nghiệp số trong xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số cần thúc đẩy đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính theo hướng: Mở rộng việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính; Gắn với số hóa và sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, tập trung gắn kết việc số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính với quá trình tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa;
Đổi mới tổ chức và xây dựng, kết nối, chia sẻ các kho dữ liệu quản lý (Bigdat) sống, sạch, đủ và chính xác; Coi trọng việc đánh giá chất lượng giải quyết thủ tục hành chính của Bộ phận một cửa theo thời gian thực, tạo sự chủ động nâng cao hiệu quả, năng suất lao động trong việc đơn giản hóa chuẩn bị, tiếp nhận, giải quyết và trả hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Đặc biệt, cần gắn quá trình này với yêu cầu đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cấp…
Trước mắt, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu số hóa và sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, cũng như việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ giải quyết thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng,hiệu quả hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện thông qua việc ứng dụng công nghệ mới, thực hiện giám sát theo thời gian thực. (Nhandan.com.vn 23/9, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Cục Thuế TP Hà Nội: Chủ động và kiến tạo trong chuyển đổi số
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, sức ép phải chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Tại Cục Thuế TP Hà Nội, với định hướng rõ ràng trong công tác chuyển đổi số, đơn vị đã không ngừng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính thuế, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp và người nộp thuế.
Thời gian qua, Cục Thuế TP Hà Nội tiếp tục duy trì và đẩy mạnh triển khai các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 - 4 ở tất cả khâu trong quá trình quản lý thuế. Hiện tại, ngành Thuế đã cung cấp 182 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; trong đó 150 dịch vụ công đã được tích hợp thành công lên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đạt 161% kế hoạch Bộ Tài chính giao.
Cơ quan thuế Hà Nội cũng thông tin với người nộp thuế bằng phương thức điện tử giúp việc trao đổi, hỗ trợ được nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện; kê khai - nộp - hoàn thuế điện tử; Tiếp tục đẩy mạnh sử dụng hóa đơn điện tử. Lũy kế đến thời điểm hiện tại trên địa bàn TP Hà Nội đã có 149.691 doanh nghiệp, tổ chức đăng ký phát hành hóa đơn điện tử, đạt gần 100%; Tiếp tục triển khai đề án thương mại điện tử, nộp thuế không dùng tiền mặt đối với hộ kinh doanh.
Về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, Cục thuế TP Hà Nội đã cụ thể hóa chính sách thuế nhằm quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này. Đến tháng 7/2021, cơ quan thuế đã đưa vào quản lý 382 cá nhân có hoạt động cung cấp sản phẩm ứng dụng/sản phẩm nội dung tại các khu vực ứng dụng Google Play, Apple Store…, các cá nhân đã thực hiện kê khai thuế đầy đủ theo quý, số thuế đã nộp lũy kế từ năm 2018 đến nay là 203 tỷ đồng. Trong đó, 7 tháng năm 2021 là 39 tỷ đồng; đồng thời đang thực hiện rà soát các hình thức bán hàng của 32.085 thông tin giao dịch cơ sở kinh doanh có sử dụng ứng dụng giao hàng và dữ liệu về 756 chủ cơ sở cho thuê nhà, cung cấp dịch vụ lưu trú.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, phạm vi đối tượng quản lý thuế ngày càng rộng, số lượng doanh nghiệp cơ quan thuế quản lý thay đổi không ngừng, kéo theo lượng thông tin quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cũng ngày một tăng lên. Đây là một trong những thách thức lớn mà ngành thuế Thủ đô đang phải đối mặt. Do đó, phát triển các ứng dụng phục vụ cho công tác quản lý nội ngành, đồng thời hỗ trợ tốt cho người nộp thuế là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần phải được ưu tiên hàng đầu.
Vì vậy, từ năm 2019 đến nay, Cục Thuế TP Hà Nội đã ban hành nhiều quyết định về việc thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử của ngành Thuế Hà Nôi; ban hành kế hoạch hằng năm về ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường chuyển đổi số và đảm bảo an toàn thông tin mạng. (Kinhtedothi.vn 23/9, Hà Lâm)Về đầu trang
Tiền Giang muốn vào top 30 về chỉ số cải cách, quản lý, cạnh tranh
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Trần Văn Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch nâng cao Chỉ số cải cách hành chính, Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công và Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Tiền Giang năm 2021 và những năm tiếp theo.
Trong năm 2020, Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) của tỉnh Tiền Giang xếp hạng 57/63 tỉnh, thành phố, đạt 80,89%; Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) xếp hạng 52/63 tỉnh, thành phố, đạt 42.295 điểm; Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) hạng 46/63 tỉnh, thành phố, đạt 83,20%; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp hạng 45/63 tỉnh, thành phố, đạt 62,78 điểm.
UBND tỉnh Tiền Giang cho rằng, các điểm số trên còn thấp, chưa đạt được sự kỳ vọng của lãnh đạo Tỉnh.
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại và nâng cao các chỉ số này trong thời gian tới, UBND tỉnh Tiền Giang ban hành Kế hoạch nâng cao Chỉ số PAR Index, Chỉ số PAPI và Chỉ số PCI của Tỉnh năm 2021 và những năm tiếp theo.
Mục tiêu mà Kế hoạch đề ra là khắc phục những tồn tại, hạn chế của những năm qua, xác định nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho các cơ quan nhà nước nhằm cải thiện và nâng cao các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần của PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh. Phấn đấu đến năm 2025, các chỉ số PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh nằm trong nhóm 30 hạng đầu của cả nước.
Đồng thời, tạo được sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về ý nghĩa, tầm quan trọng của các chỉ số. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong nỗ lực cải thiện PAR Index, PAPI và PCI hàng năm của Tỉnh.
UBND tỉnh Tiền Giang cũng đặt ra yêu cầu việc thực hiện Kế hoạch nâng cao PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh năm 2021 và những năm tiếp theo phải thực hiện đồng bộ. Tổ chức triển khai có hiệu quả việc cải thiện và nâng cao PAR Index, PAPI và PCI là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước các cấp, trong đó trọng tâm là các cơ quan, đơn vị được giao chủ trì, cải thiện các tiêu chí, tiêu chí thành phần của PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh.
Xác định cải thiện và nâng cao PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, kiên trì, liên tục của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được trong những năm qua, đồng thời, chủ động nghiên cứu, sáng tạo, quyết liệt áp dụng những giải pháp mới để nâng cao PAR Index, PAPI và PCI của Tỉnh.
Tại Kế hoạch này, UBND tỉnh Tiền Giang đã giao nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm chính cho từng lĩnh vực, tiêu chí cụ thể.
Đối với nhiệm vụ cải thiện PCI, UBND tỉnh Tiền Giang giao Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp các cơ quan có liên quan tiếp tục thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đăng ký kinh doanh, đầu tư so với quy định.
Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp Chủ tịch UBND cấp huyện tập trung rà soát, đề xuất các giải pháp, quy trình nhằm rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp từ 30 ngày.
Cục thuế nghiên cứu cải tiến quy trình, thủ tục nhằm rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp khi phải làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế để giảm số giờ cho mỗi cuộc làm việc còn dưới 15 giờ… (Baodautu.vn 24/9, Trúc Giang)Về đầu trang
An Giang: Nhiều kết quả quan trọng trong cải cách hành chính
10 năm qua, với sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, điều hành của UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) tỉnh An Giang, cùng sự quyết tâm, chủ động, nỗ lực thực hiện của các cấp, ngành trong cả hệ thống chính trị, công tác CCHC của tỉnh đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thu hút sản xuất - kinh doanh trên địa bàn.
Theo Sở Nội vụ, công tác CCHC tỉnh giai đoạn 2016-2020 đạt những kết quả tích cực, hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu của chương trình đề ra đầu nhiệm kỳ. Chỉ số CCHC (PAR Index), Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) hàng năm đạt kết quả tốt hơn và có sự cải thiện vị trí xếp hạng, từ nhóm các tỉnh đạt điểm “Trung bình cao” lên nhóm có thứ hạng “Điểm cao khá”.
Qua 10 năm triển khai Chương trình CCHC của tỉnh, các cơ quan, đơn vị, địa phương nỗ lực tham mưu, cơ bản hoàn thành tốt chỉ tiêu. Cụ thể, đạt 81/82 nhiệm vụ (tỷ lệ 98,78%); 25/25 đề án, dự án CCHC (đạt 100%); 23/27 mục tiêu (đạt 85,19%). Mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh đạt 89,91%.
Qua đánh giá, xếp hạng Chỉ số PAR Index tỉnh An Giang có số điểm trung bình là 82,36 điểm. Trong đó, năm 2015 đạt 85,56 điểm; năm 2012 xếp thứ 5/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nhiều năm liền, An Giang luôn duy trì trong nhóm các tỉnh, thành phố có sự điều hành khá trong công tác CCHC.
Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công An Giang (PAPI) nếu như năm 2011 đạt 33,39 điểm (xếp hạng 57/63 tỉnh, thành phố, xếp hạng 12/13 tỉnh khu vực ĐBSCL), thì đến năm 2019 xếp hạng 21/63 tỉnh, thành phố; năm 2020 đạt 43,852 điểm (xếp hạng 14/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tăng 7 bậc so với năm 2019) và đứng thứ 3/13 vùng ĐBSCL.
Để đạt kết quả đó, Ban Chỉ đạo CCHC tỉnh đã thực hiện tốt vai trò quản lý, điều hành, tham mưu UBND tỉnh triển khai nhiều nội dung CCHC đạt kết quả quan trọng. Các cuộc họp của Ban Chỉ đạo CCHC tỉnh được duy trì thường xuyên, là nhân tố quan trọng để thảo luận, xin ý kiến chỉ đạo, chủ trương của lãnh đạo tỉnh, quyết định những vấn đề quan trọng trong công tác CCHC. Các cơ quan, ban, ngành tỉnh và UBND huyện, thị xã, thành phố tích cực nghiên cứu, áp dụng hoặc nghiên cứu, học hỏi từ nơi khác để vận dụng, triển khai giải pháp, mô hình hay. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực hướng đến mục tiêu xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ.
Song song với việc triển khai quy định của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương, tỉnh còn nghiên cứu nhiều hoạt động, giải pháp, sáng kiến mới trong CCHC, mang lại hiệu quả thiết thực, được Trung ương ghi nhận và đánh giá cao, như: mô hình “Ngày không viết” và “Ngày không hẹn” vào ngày thứ 4 hàng tuần tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả UBND cấp huyện, UBND cấp xã, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính. (Baoangiang.com.vn 24/9, Hạnh Châu)Về đầu trang
Bà Rịa - Vũng Tàu: Tránh tình trạng “sáng phát, chiều thu”
Chỉ trong vòng chục ngày gần đây, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã liên tiếp xảy ra tình trạng một số cơ quan vừa phát hành văn bản, nhưng gần như ngay sau đó lại có văn bản chỉ đạo thu hồi gấp các văn bản đã phát hành.
Cụ thể, ngày 9-9, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 TP Vũng Tàu có thông báo số 75 với nội dung “người dân đi cấp cứu, khám chữa bệnh phải xin phép phường xã”. Ngay sau khi phát hành, văn bản này đã nhận không ít phản ứng của người dân, cho rằng nội dung văn bản này trái với chỉ thị của Thủ tướng trong phòng chống dịch. Một lãnh đạo thành phố lý giải rằng, nội dung trên để lãnh đạo phường xã phải quan tâm đến người dân của mình và hỗ trợ kịp thời hơn nữa.
Cũng trong ngày, TP Vũng Tàu ban hành văn bản 6603, quy định “chỉ cho xe di chuyển vào ban đêm”, khiến cho đoàn xe “luồng xanh” bị ùn tắc kéo dài và phải quay đầu ngay khi đến cửa ngõ thành phố. Một ngày sau, cả thông báo số 75 và văn bản 6603 đều bị thu hồi trong sự ngỡ ngàng của người dân.
Tưởng là đã rút được kinh nghiệm, thế nhưng ngày 15-9, Sở Y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bất ngờ ra văn số 4836, trong đó có quy định “Trường hợp người bệnh không phải trong tình trạng cấp cứu, đi khám chữa bệnh ngoài tỉnh phải liên hệ các bệnh viện trong tỉnh để được xem xét, cấp giấy chuyển tuyến”.
Đi kèm quy định đó là một điều kiện cũng rất oái ăm: “Sau khi được cấp giấy chuyển tuyến, gia đình người bệnh phải nộp hồ sơ cho Sở GTVT để phối hợp với Sở Y tế tham mưu UBND tỉnh giải quyết. Hồ sơ gửi kèm gồm: giấy chuyển tuyến, giấy hẹn tái khám lại của bệnh viện ngoài tỉnh (nếu có) và phương án di chuyển do UBND cấp xã phê duyệt”. Ngay sau đó, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã yêu cầu Sở Y tế tỉnh phải nhanh chóng thu hồi lại văn bản số 4836.
Trước những văn bản pháp luật có tuổi đời “ngắn ngủi” này, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phải ban hành công văn hỏa tốc yêu cầu các đơn vị không ban hành văn bản trái với ý kiến chỉ đạo của Chính phủ và của tỉnh, gây khó khăn, bức xúc cho người dân. Song, có lẽ không dừng lại ở đó, mà cần có chế tài những cơ quan tham mưu, người ký những văn bản trái quy định, làm bài học để không còn xảy ra tình trạng “sáng ban hành văn bản, chiều thu hồi”. (Sài Gòn giải phóng 24/9, Phương Dung)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Doanh nghiệp tiết kiệm 3,282 tỷ USD nhờ giảm thời gian thông quan
Chiều 23-9, Tổng cục Hải quan đã công bố kết quả khảo sát chỉ số “Giao dịch thương mại qua biên giới năm 2020” nhằm triển khai nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Kết quả khảo sát cho thấy, tổng thời gian trung bình đối với hàng xuất khẩu năm 2020 là 38,4 giờ (giảm 57,38 giờ so với năm 2019) và tổng chi phí trung bình thực hiện thủ tục thương mại qua biên giới đối với hàng xuất khẩu năm 2020 là 338 USD (giảm 81,72 USD so với năm 2019).
Tổng thời gian trung bình đối với hàng nhập khẩu năm 2020 là 54,8 giờ (giảm 48,88 giờ) và tổng chi phí trung bình đối với hàng nhập khẩu năm 2020 là 313,17 USD (giảm 256,41 USD so với năm 2019).
Năm 2020, tổng số tờ khai nhập khẩu của Việt Nam là gần 6,75 triệu tờ khai và tổng số tờ khai xuất khẩu của Việt Nam là gần 6,98 triệu tờ khai. Nhờ giảm chỉ số thời gian làm thủ tục xuất nhập khẩu, năm 2020, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tiết kiệm được khoảng 730,4 triệu giờ, tương ứng với 3,282 tỷ USD cho hoạt động xuất nhập khẩu so với năm 2019. (Sài Gòn giải phóng 24/9, Phúc Văn)Về đầu trang
Tòa án là ''hạt nhân'' trong cải cách tư pháp
Ngày 23-9, Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân Tối cao tổ chức phiên họp thứ nhất, Ban Chỉ đạo Đề án Cải cách tư pháp tại Tòa án nhân dân đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Ủy viên Bộ Chính trị, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình, Trưởng ban Chỉ đạo Đề án chủ trì phiên họp.
Tại phiên họp, các đại biểu thống nhất thông qua kế hoạch xây dựng đề án, đề cương đề án, trong đó nhấn mạnh những vấn đề lớn của đề án cần tiếp tục phải nghiên cứu, đánh giá: Làm rõ nội hàm quyền tư pháp, chủ thể thực hiện quyền tư pháp và đặc trưng cơ bản của quyền tư pháp; hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án để bảo đảm thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh, để xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp, “hạt nhân” chính là những đổi mới hoạt động của tòa án. Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TƯ giai đoạn 2008-2020 cho thấy, cải cách tư pháp của tòa án đã đạt những kết quả quan trọng, nhưng trong thời gian tới, đòi hỏi yêu cầu cao hơn.
Chánh án cũng đánh giá: “Đây là phiên họp đầu tiên, nhưng công tác chuẩn bị xây dựng đề án đã được tiến hành từ đầu năm. Đây cũng là nhu cầu nội tại của chúng ta, mặc dù là nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao nhưng tòa án cũng thấy rằng cần đổi mới hơn nữa hoạt động của tòa án, nâng cao hơn nữa vị thế tòa án trong hệ thống tư pháp. Vậy nên Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân Tối cao đã nghiên cứu và chuẩn bị kế hoạch thời gian tới”.
Tiếp thu ý kiến đóng góp của các đại biểu, Chánh án Nguyễn Hòa Bình đề nghị Tổ Biên tập xây dựng đề án hoàn thiện kế hoạch, đề cương đề án theo đúng tiến độ đề ra. (Hanoimoi.com.vn 24/9) Về đầu trang
Chi phí tuân thủ pháp luật cần chú ý hơn ở khâu thi hành
Sáng 23-9, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức hội thảo đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng cơ chế đánh giá chi phí tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”. Chi phí tuân thủ pháp luật được nhắc tới tại hội thảo nhằm mục đích kiểm soát để cải thiện chất lượng thể chế, cải thiện thứ bậc cạnh tranh quốc gia.
Tại hội thảo, khái niệm và các tiêu chí tính toán chi phí tuân thủ pháp luật đã được nêu ra. Chẳng hạn, theo hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi phí tuân thủ pháp luật bao gồm cả chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu và chi từ ngân sách nhà nước để tổ chức thi hành pháp luật. Riêng với doanh nghiệp, rất nhiều khoản phải bỏ ra để thực hiện quy định cụ thể, chi cho lao động trực tiếp, chi phí thiết bị, nguyên vật liệu, dịch vụ thuê ngoài…
Tuy nhiên, đây chỉ là liệt kê đầu mục. Vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để kiểm soát chất lượng đánh giá chi phí tuân thủ. “Theo quy định hiện hành của ta, cơ quan chủ trì dự thảo tự xây dựng báo cáo về chi phí tuân thủ thủ tục hành chính nhưng đây chỉ là tài liệu tham khảo, không có quy định thẩm tra bắt buộc. Còn như Malaysia, có riêng cơ quan năng suất được chính phủ giao thẩm quyền rà soát quy định pháp luật để loại bỏ quy định cũng như chi phí tuân thủ không cần thiết” - TS Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, chia sẻ.
Bình luận thêm, luật sư Nguyễn Hưng Quang, người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về chi phí tuân thủ từ thời Đề án 30, cho rằng Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm của Malaysia. “Chính phủ nên ban hành bộ tiêu chí kiểm soát chi phí tuân thủ pháp luật và giao cho Bộ Tư pháp làm cơ quan đầu mối kiểm soát chất lượng báo cáo đánh giá tác động của văn bản quy phạm, bao gồm một mục riêng về chi phí tuân thủ” - luật sư Quang nói.
Góp ý kiến trong hội thảo trực tuyến, một luật sư hoạt động ở TP.HCM cho rằng kiểm soát chi phí tuân thủ pháp luật không nên chỉ khoanh trong công tác xây dựng pháp luật mà cần chú ý hơn ở khâu thi hành. Như phí trong thủ tục đăng ký kinh doanh, theo quy định chỉ 100.000 đồng cho mỗi hồ sơ. Song trên thực tế, người dân phải chi nhiều khoản khác thì mới lập được doanh nghiệp.
“Chúng tôi đang tư vấn cho một công ty của Đức, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 cần cơ cấu lại tổ chức, đóng cửa văn phòng ở một số tỉnh, thành. Cùng một nội dung, công việc nhưng yêu cầu mỗi tỉnh mỗi khác. Câu chuyện thực tế nó vậy” - luật sư này nói.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM sau hội thảo, TS Nguyễn Văn Cương cho biết những năm gần đây Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia tới từng chỉ số cụ thể, trong đó có chỉ số tuân thủ pháp luật. Đề tài khoa học cấp bộ mà Viện Khoa học pháp lý đang triển khai nằm trong nhiệm vụ ấy, mong muốn nghiên cứu cơ chế đánh giá chi phí tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. (Plo.vn 24/9, Nghĩa Nhân) Về đầu trang
Chuyển đổi số nông nghiệp để bắt kịp xu thế thị trường
Chuyển đổi số nông nghiệp không chỉ là giải pháp tình thế trong dịch bệnh, mà còn là cơ hội để đưa Việt Nam trở thành kho nông sản của thế giới.
Tại Diễn đàn quốc tế Chuyển đổi số nông nghiệp Việt Nam 2021 với chủ đề “Bắt kịp các xu thế thị trường, phát huy vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch và hậu đại dịch Covid-19”, ông Phạm Xuân Thăng, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương cho biết, Hải Dương có 75.000 ha đất nông nghiệp đang chuyển dịch ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ. Trong đợt dịch Covid-19 thứ ba, Hải Dương bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, nhờ ứng dụng chuyển đổi số, đưa các sản phẩm của tỉnh lên các kênh thương mại điện tử, nên vẫn đảm bảo tiêu thụ, giữ giá, đặc biệt với vải thiều.
Còn PGS-TS Trần Đăng Xuân, Trường đại học Hiroshima (Nhật Bản) cho hay, tại Nhật Bản, các ứng dụng công nghệ thông tin mới nhất đã được đưa vào ngành nông nghiệp, như trí tuệ nhân tạo (AI), robot… Bình quân một người nông dân Nhật Bản xuất khẩu nông sản trị giá 40.000 USD, trong khi ở Việt Nam, con số này là 1.000 USD.
Ông Nguyễn Huy Dũng, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền Thông chia sẻ, Việt Nam là nước nông nghiệp truyền thống, đi lên từ nông nghiệp. Trong đại dịch hiện nay, càng thấy rõ vai trò của nông nghiệp đối với đời sống xã hội. “Phát triển nông nghiệp là nền tảng, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Đại dịch xảy ra cũng đã chứng minh tính cấp thiết, hiệu quả và xu thế tất yếu của chuyển đổi số để phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng”, ông Dũng nhận xét.
Theo ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam (VIDA), trong bối cảnh khó khăn hiện nay, nếu thực hiện thành công chuyển đổi số nông nghiệp, thì Việt Nam sẽ trở thành một nước nông nghiệp có tiềm năng cạnh tranh rất lớn.
“Covid-19 là cơ hội để Việt Nam chuyển đổi số, ghi tên mình trong bản đồ cung ứng nông nghiệp quốc tế. Việt Nam có thể trở thành kho nông sản của thế giới”, ông Bình nhận định.
Từ bước đi đầu tiên ứng dụng chuyển đổi số, ông Thăng cho rằng, Hải Dương đã nhận thấy, chuyển đổi số là công cụ hữu ích làm tăng năng suất lao động. Hải Dương đặt mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm trên 20% tổng giá trị sản phẩm của tỉnh.
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Mở rộng thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng, chúng ta phải đưa hộ nông dân lên nền tảng điện tử, phải có tên gọi, hồ sơ, truy xuất nguồn gốc. Để làm được, phải có thiết chế để thực hiện, thiết chế ngân hàng, thiết chế giao dịch... Tiếp theo, phải đào tạo người nông dân thích ứng và sử dụng công nghệ phục vụ chuỗi sản xuất nông nghiệp.
Còn theo ông Nguyễn Huy Dũng, thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu. Cần tập trung xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn của ngành về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh chóng, minh bạch, chính xác, an toàn, vệ sinh thực phẩm.
Ngoài ra, cần thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong công tác quản lý để có các chính sách, điều hành kịp thời phát triển nông nghiệp như dự báo, cảnh báo thị trường, quản lý quy hoạch. (Baodautu.vn 24/9, Tú Ân) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Hà Nội: Công chức Tư pháp – Hộ tịch được nhận hỗ trợ 15% mức lương cơ sở/tháng
Ngày 23/9, HĐND thành phố Hà Nội biểu quyết, tán thành thông qua Nghị quyết về việc quy định một số nội dung, mức chi thuộc thẩm quyền của HĐND Thành phố. Trong đó, mức hỗ trợ hàng tháng đối với công chức Tư pháp – Hộ tịch được ủy quyền chứng thực được nhận hỗ trợ 15% mức lương cơ sở/tháng.
Theo Sở Tư pháp Hà Nội, trên cơ sở tổng hợp báo cáo thống kê của các quận, huyện, thị xã trung bình một năm 175 UBND phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây xử lý hơn 6 triệu hồ sơ chứng thực bản sao từ bản chính và hơn 200 nghìn hồ sơ chứng thực chữ ký. Trung bình một ngày một UBND phường tiếp nhận từ 80 – 100 hồ sơ chứng thực.
Ngoài 2 thủ tục hành chính chứng thực bản sao từ bản chính và chứng thực chữ ký nêu trên, công chức Tư pháp – Hộ tịch còn phải tiếp nhận và giải quyết 8 thủ tục hành chính khác trong lĩnh vực chứng thực, 17 thủ tục hành chính lĩnh vực hộ tịch, 2 thủ tục hành chính lĩnh vực nuôi con nuôi, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phối hợp giải quyết tranh chấp, lấn chiếm đất đai, xử lý vi phạm hành chính, vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn. Một phường có dân số từ 20.000 đến hơn 30.000 người thì số lượng hồ sơ hành chính, vụ việc cũng lớn hơn nhiều lần một xã có dân số dưới 10.000 người. Đặc biệt các phường có các khu chung cư lớn, các trường đại học lớn thì số lượng tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hành chính trong lĩnh vực chứng thực nói riêng, các hồ sơ hành chính, vụ việc khác nói chung càng lớn hơn nhiều lần.
Mặc dù các thủ tục hành chính lĩnh vực tư pháp đều liên quan đến pháp luật, có nội dung phức tạp, nhưng để cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch của người dân, Bộ Tư pháp quy định thời hạn giải quyết ngắn, giải quyết ngay trong ngày hoặc chỉ từ 1 đến 5 ngày.
Việc Chủ tịch UBND phường ủy quyền cho công chức Tư pháp – Hộ tịch ký chứng thực giúp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, giảm đáng kể thời gian thực hiện, công dân có thể nhận kết quả ngay khi đến giao dịch tại UBND phường, không phải chờ đợi trong nhiều giờ hay phải đi lại nhiều lần, giảm đáng kể chi phí tuân thủ thủ tục hành chính. Việc ủy quyền cũng giúp giảm đầu mối, lược bỏ các bước xử lý nội bộ, tạo điều kiện cho công chức Tư pháp – Hộ tịch chủ động hơn trong việc bố trí thời gian giải quyết công việc, giảm áp lực công việc và tăng đáng kể thời gian giải quyết các công việc khác cho Lãnh đạo UBND phường.
Vì vậy, việc quy định mức hỗ trợ hàng tháng cho công chức Tư pháp – Hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực là cần thiết, phù hợp với trách nhiệm, nhiệm vụ mới được giao, hỗ trợ động viên công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện tốt theo quy định đặc thù thực hiện mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đó, HĐND TP đã biểu quyết, tán thành thông qua. Theo đó, mức hỗ trợ hàng tháng đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch được ủy quyền ký chứng thực theo quy định tại Khoản 3, Điều 7 Nghị định số 32/2021/NĐ-CP của Chính phủ bằng 15% mức lương cơ sở/người/tháng. Dự kiến kinh phí thực hiện: Trường hợp có 1 công chức Tư pháp - Hộ tịch/1 phường được ủy quyền thì kinh phí dự kiến thực hiện khoảng 470 triệu đồng. Trường hợp có 2 công chức Tư pháp - Hộ tịch/1 phường được ủy quyền thì kinh phí dự kiến thực hiện khoảng 939 triệu đồng. (Phapluatxahoi.kinhtedothi.vn 24/9, Minh Dương)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Đừng làm khó doanh nghiệp vì các quy định bất hợp lý
Hiện không phải là lúc đặt thêm các khoản thu bất hợp lý, thiếu minh bạch, gây khó cho doanh nghiệp.
Thất vọng là điều mà ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhấn mạnh khi nhắc đến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
“Tại sao ở thời điểm này, khi doanh nghiệp gần như đã kiệt sức, khi Chính phủ liên tục cam kết không tạo thêm khó khăn, không tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp…, mà các bộ, ngành vẫn có thể đề xuất những khoản thu với cách tính có quá nhiều điểm bất hợp lý, thiếu minh bạch?”, ông Nam đặt vấn đề khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư.
Khoản thu mà ông Nam nhắc đến là khoản “đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam”, quy định tại Điều 88 của Dự thảo. Cùng với đó, Văn phòng Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu Việt Nam (EPR) sẽ được thành lập để quản lý quỹ này.
Cuối tháng 8/2021, trong cuộc hội thảo về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các hiệp hội doanh nghiệp đã nêu vấn đề này vì cho rằng, với ý nghĩa bắt buộc của khoản đóng góp, thì đây là một khoản phí, tương tự như phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu hay với khai thác khoáng sản và cần được quản lý theo quy định pháp luật về phí.
Khi đó, đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường giải thích, khoản đóng góp theo Dự thảo không đáp ứng định nghĩa phí trong Luật Quản lý phí, lệ phí, vì không có đơn vị cung cấp dịch vụ công. Hơn thế, nếu gọi là phí thì phải nộp vào ngân sách và như vậy không dùng được cho mục đích bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp không đồng tình. Trong văn bản mới nhất mà 7 hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa tham gia góp ý cho Dự thảo, ý kiến tiếp tục là cần xác định rõ đây là một khoản phí và tuân thủ quy định pháp luật về phí. Việc thành lập Văn phòng EPR cũng được cho là không phù hợp khi Văn phòng EPR thu tiền để tái chế thay cho doanh nghiệp, nhưng Dự thảo không có quy định chế tài cho đơn vị này nếu không hoàn thành trách nhiệm…
Các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp này, gồm VASEP, EuroCham, AmCham, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Điện tử Việt Nam và Công ty Canon Việt Nam thậm chí còn lo rằng, với quy định của Dự thảo, doanh nghiệp vẫn phải nộp tiền, nhưng môi trường lại không được làm sạch.
Thêm nữa, những nghi ngại về công thức tính phí, cơ chế quản lý thu - chi rất lớn khi được gọi là khoản thu. Theo các doanh nghiệp, các việc này cần có sự tham gia trực tiếp hoặc chủ trì của Bộ Tài chính, căn cứ thông lệ quốc tế và lộ trình thực hiện ở Việt Nam.
Đặc biệt, 7 hiệp hội, doanh nghiệp đề nghị kéo dài thời gian áp dụng thực hiện trách nhiệm tái chế bao bì của doanh nghiệp đến ngày 1/1/2025, thay vì năm 2024 như Dự thảo.
“Doanh nghiệp cần thêm một khoảng thời gian, nguồn lực để tổ chức lại sản xuất, phục hồi sau khi dịch bệnh được kiểm soát”, ông Nam lý giải.
TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, đa số doanh nghiệp không còn gì để nộp.
“Chính phủ phải ra tay hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trở lại, hồi phục nhanh để có nguồn tiền. Thứ nhất, cần tiếp tục các chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp, như giãn, hoãn các khoản phải nộp. Thứ hai, các hình thức quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ dự phòng tài chính cũng cần được xem xét, tham gia để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp có tiềm năng, cơ hội phục hồi nhanh, mạnh trong lúc này”, ông Thiên đề xuất.
Trong những khó khăn của doanh nghiệp hiện nay, vấn đề ông Thiên lo ngại hơn cả là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đang thu hẹp, vì doanh nghiệp yếu đi, việc đứt chuỗi sản xuất, không còn hoặc giảm đơn hàng.
“Ngân hàng không thể giảm lãi suất mãi được vì có giới hạn an toàn để bảo vệ hệ thống ngân hàng. Nếu ngân hàng tới hạn, thì Chính phủ ra tay, hỗ trợ bù lãi suất. Ngân hàng cần giám sát các khoản vay một cách chặt chẽ, nhưng đừng quá nghiệt ngã. Đặc biệt, các khoản chi phí, khoản phải nộp của doanh nghiệp lúc này phải được tiết giảm tối đa, để doanh nghiệp có tiền dồn cho phục hội sản xuất - kinh doanh”, ông Thiên nói thêm.
Đáng nói là, đây là những giải pháp cần phải thực hiện ngay trong thời điểm này, cùng với việc thực hiện có hiệu quả các nghị định, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, về an sinh xã hội.
Theo ông Thiên, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, các quy định làm khó doanh nghiệp cũng là một giải pháp cấp bách. Nhưng để thực hiện được, các bộ, ngành phải thực sự vào cuộc.
Đây cũng là vấn đề mà Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khuyến nghị Việt Nam khi công bố Báo cáo Cập nhật triển vọng châu Á (2021) vào giữa tuần này.
Tác động của đợt Covid-19 lần thứ tư trên diện rộng ở Việt Nam đã khiến ADB hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống mức 3,8% trong năm 2021 với nhiều thách thức đến từ việc đóng cửa các trung tâm công nghiệp lớn do giãn cách xã hội, từ tốc độ tiêm vắc-xin còn chậm, từ khả năng thiếu hụt lao động trong các tháng cuối năm… Hệ quả là, các doanh nghiệp dệt may, giày dép, điện tử, điện thoại di động… khó tận dụng hết cơ hội có được từ sự phục hồi của các thị trường nước ngoài chính của Việt Nam, như Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Hoa Kỳ…
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Minh Cường, chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, triển vọng tăng trưởng trong năm nay và năm sau cũng sẽ phụ thuộc vào việc cung ứng kịp thời và đầy đủ các mặt hàng thiết yếu, như lương thực, thực phẩm và tiền mặt, cho những người bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát đại dịch này.
“Kinh tế Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc loại bỏ các rào cản hành chính đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đại dịch. Đây cũng chính là giải pháp hỗ trợ sự phục hồi bền vững của nền kinh tế trong năm nay và năm tới của Việt Nam”, ông Cường phân tích. (Baodautu.vn 24/9, Khánh An)Về đầu trang./.