Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 10/8/2022
1. Nhiều kết quả trong kết nối dữ liệu Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
2. Cấp thẻ căn cước công dân gắn chip cho toàn dân trước ngày 30/9
3. TP.HCM sẽ sớm cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4
4. Thái Nguyên: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong cải cách hành chính
5. Tây Ninh đẩy mạnh chuyển đối số
6. BHXH Việt Nam xếp thứ 3 trong các Bộ, ngành có cung cấp dịch vụ công
7. Bộ Công Thương giảm 5 đơn vị đầu mối, 74 phòng
8. Tiết kiệm hàng trăm tỉ đồng nhờ đăng ký dự thi trực tuyến
9. “Thu hẹp phần việc của nhà nước để giảm người, tăng lương”
10. Bộ trưởng Nội vụ trả lời kiến nghị về chế độ tiền lương của viên chức, công chức
11. Nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật!
12. Để người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Nhiều kết quả trong kết nối dữ liệu Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Theo thông tin từ Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06, Bộ Công an), tính đến ngày 31/7/2022, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã triển khai kết nối chính thức đối với cơ sở dữ liệu của 11 bộ, ngành; 4 doanh nghiệp nhà nước và 14 địa phương.
Bên cạnh đó là triển khai các giải pháp hỗ trợ các đoàn thể xây dựng hệ thống dữ liệu quản lý đoàn viên, hội viên trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cụ thể là: hỗ trợ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Người cao tuổi xây dựng phần mềm quản lý thông tin hội viên trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; hỗ trợ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức triển khai kết nối, cung cấp dịch vụ xác thực thông tin để làm sạch dữ liệu đoàn viên; hỗ trợ Bộ Y tế, Hội Phụ nữ Việt Nam đặt hạ tầng thiết bị và quản trị dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Công an triển khai kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao di động để xác thực dữ liệu người dùng, nâng cao hiệu quả quản lý, giải quyết tình trạng sử dụng SIM rác.
Triển khai kết nối các cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý người nước ngoài tại Việt Nam, ngày 10/6/2022, Bộ Công an (C06) đã họp với các đơn vị: Cục cửa khẩu - Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Cục Công nghệ thông tin - Bộ Y tế, thống nhất một số giải pháp triển khai quản lý người nước ngoài trên VneID làm 2 giai đoạn.
Ngày 18/7/2022, Bộ Công an đã công bố hệ thống Định danh và xác thực điện tử đi vào hoạt động chính thức, là một bước tiến mới, đưa Việt Nam chính thức là một trong những nước có định danh điện tử quốc gia. Đến ngày 31/7/2022, hệ thống đã thu nhận hơn 6,1 triệu hồ sơ và cấp 7.837 tài khoản định danh điện tử cho công dân. Công tác cấp căn cước công dân gắp chíp điện tử tiếp tục được đẩy mạnh, đến nay đã cấp trên 67 triệu thẻ cho công dân.
Bên cạnh đó, Bộ Công an đã nghiên cứu triển khai một số ứng dụng của thẻ căn cước gắn chíp điện tử đạt kết quả bước đầu tích cực, điển hình như: Sử dụng thẻ căn cước tích hợp thông tin thẻ bảo hiểm xã hội phục vụ người dân đi khám bệnh tại các Cơ sở y tế (6.996/13.166 cơ sở y tế đã thực hiện, đạt 53,1%); triển khai thí điểm xác thực danh tính qua thẻ căn cước công dân tại các quầy giao dịch của 5 Ngân hàng (BIDV, Viettinbank, Vietcombank, Agribank, Pvcombank); thí điểm sử dụng thẻ căn cước công dân thay thẻ ATM tại thành phố Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh. Tính đến nay (sau 2 tháng triển khai thí điểm) đã có 483 lượt công dân sử dụng thẻ căn cước công dân để giao dịch với tổng số tiền trên 6,1 tỷ đồng.
Đây là những kết quả tích cực đạt được trong thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06).
Theo báo cáo, hiện đã cơ bản đã hoàn thành, đưa 21/25 dịch vụ thiết yếu thực hiện trên môi trường điện tử, đạt kết quả tích cực. Việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đã mang lại nhiều tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp. Điểm nổi bật là, Bộ Công an đã hoàn thành 11/11 dịch vụ công mức độ 3, 4; đồng thời mở rộng thực hiện 187/227 nhóm dịch vụ công khác của lực lượng Công an nhân dân, trong đó việc cấp hộ chiếu qua mạng, phân cấp đăng ký ô tô, xe máy về cấp huyện, cấp xã được người dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. (TTXVN/Baotintuc.vn 09/8, Xuân Tùng)Về đầu trang
Cấp thẻ căn cước công dân gắn chip cho toàn dân trước ngày 30/9
Bộ Công an đặt mục tiêu cấp căn cước công dân gắn chip cho toàn bộ người dân có đủ điều kiện cấp trong tháng 9.
Bộ Công an đã hoàn thành xây dựng và công bố hệ thống định danh và xác thực điện tử đi vào hoạt động chính thức. Đây là một bước tiến mới, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có định danh điện tử quốc gia.
Bộ cũng đẩy mạnh nghiên cứu, tích hợp thông tin trên thẻ căn cước công dân như tích hợp thông tin thẻ BHXH phục vụ người dân đi khám bệnh, triển khai thí điểm xác thực danh tính qua thẻ căn cước công dân tại các quầy giao dịch của ngân hàng, thí điểm sử dụng thành công thẻ căn cước công dân thay thẻ ATM...
Tính đến 5/8, Bộ Công an đã cấp được gần 68 triệu thẻ căn cước công dân gắn chíp. Bộ Công an phấn đấu hoàn thành việc cấp căn cước cho toàn bộ người dân có đủ điều kiện trước ngày 30/9. Riêng công dân tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ) dự kiến hoàn thành trong tháng 8.
Để đẩy nhanh tiến độ cấp căn cước công dân gắn chip và tài khoản định danh điện tử để tăng cường các ứng dụng trong thời gian tới, Bộ Công an đã chỉ đạo công an các địa phương tập trung lực lượng, trang thiết bị, phương tiện cấp CCCD và tài khoản định danh điện tử.
Bên cạnh đó, Bộ Công an cũng đẩy mạnh ứng dụng tài khoản định danh điện tử khi thực hiện các dịch vụ công trực tuyến; tiếp tục tích hợp thông tin, ứng dụng thẻ căn cước trên các lĩnh vực, góp phần giảm bớt các giấy tờ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân. (VTV.vn 10/8)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TP.HCM sẽ sớm cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4
Lãnh đạo UBND TP.HCM cho biết sẽ sớm triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thống nhất, cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.
Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về Sơ kết 6 tháng triển khai đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06), Phó Chủ tịch UBND TP.HCM, ông Dương Anh Đức nhấn mạnh: “Đề án 06 của Chính phủ được triển khai trong bối cảnh TP.HCM quyết tâm thực hiện chương trình chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh, đưa vào vận hành Kho dữ liệu dùng chung. Do đó, việc triển khai Đề án 06 gặp nhiều thuận lợi”.
Ông Dương Anh Đức cho hay, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và thực hiện Đề án 06, TP.HCM đang ưu tiên mọi nguồn lực để triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thống nhất của TP.HCM.
Hệ thống này được dự kiến sẽ hoàn thành trong tháng 10/2022. Hệ thống hoạt động với nguyên tắc không yêu cầu người dân khai báo lại các thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Mỗi người dân chỉ dùng một tài khoản định danh thống nhất để sử dụng các dịch vụ công trực tuyến.
Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thống nhất của TP.HCM sẽ cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 với thủ tục hành chính đủ điều kiện. Trong đó có 403 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đủ điều kiện của TP.HCM, 25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06.
“Việc triển khai hệ thống này vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị theo Đề án 06 vừa là nhiệm vụ hàng đầu để nâng cao chất lượng cải cách hành chính, gắn với chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số, chính quyền số của UBND TP.HCM,” ông Dương Anh Đức nhấn mạnh.
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM cũng nêu một số khó khăn vướng mắc và đề xuất liên quan đến triển khai Đề án 06. Cụ thể, việc đăng ký tài khoản sử dụng dịch vụ công hiện nay yêu cầu người đăng ký phải sử dụng sim điện thoại là thuê bao chính chủ. Trong khi đó, hiện nay nhiều người dân vẫn dùng thuê bao không chính chủ, dẫn đến hạn chế đăng ký tài khoản dịch vụ công.
TP.HCM cũng đưa kiến nghị cổng dịch vụ công cần có giao diện trực quan, dễ tìm kiếm hơn. Ngoài ra, hiện những người có nơi sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam, người nhập tịch, thì trường thông tin về nơi sinh, quê quán sẽ không thể nhập chính xác được, ảnh hưởng đến việc cấp căn cước công dân, mã số định danh. (Viettimes.vn 10/8)Về đầu trang
Thái Nguyên: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong cải cách hành chính
Tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp 100% thủ tục hành chính mức độ 4 trên Cổng dịch vụ công của tỉnh; tích hợp và cung cấp hơn 1.000 dịch vụ công trực tuyến để phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Từ ngày 1/8/2022, tỉnh thực hiện giảm 50% mức thu đối với 6 loại lệ phí dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 nhằm khuyến khích người dân, doanh nghiệp tăng cường sử dụng dịch vụ cung cấp trực tuyến, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số theo Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh. (TTXVN/Vnanet.vn 10/8, Quân Trang)Về đầu trang
Tây Ninh đẩy mạnh chuyển đối số
Thời gian qua, tỉnh Tây Ninh xác định việc xây dựng chính quyền điện tử là tiền đề để hướng đến chính quyền số. Để thực hiện mục tiêu này, Tây Ninh đang đẩy mạnh chuyển đối số trong giải quyết hồ sơ, thủ tục và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm hiện đại hoá nền hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Từ đầu năm 2022 đến nay, công tác chuyển đổi số trên địa bàn Tây Ninh đạt được một số kết quả tích cực. Cụ thể, toàn tỉnh có 19 cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh và 9 huyện, thị xã, TP ban hành kế hoạch chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đạt tỷ lệ 100%. Tỉnh đã kết nối dữ liệu hộ tịch điện tử, cấp phiếu lý lịch tư pháp, bưu chính công ích, văn bản quy phạm pháp luật, cơ sở dữ liệu Bảo hiểm xã hội, cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, danh mục dịch vụ công dùng chung.
Tây Ninh cũng tích hợp 960/1.818 (đạt 52,8%) dịch vụ công mức độ 4 trên Cổng dịch vụ công quốc gia; các sở ngành đang rà soát công bố lại dịch vụ công mức độ 4 đủ điều kiện tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia (dự kiến hoàn thành rà soát trong tháng 7-2022); tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ đạt 34,37%; tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính xử lý trực tuyến đạt 17,65% và thành lập 484 Tổ công nghệ cộng đồng trên địa bàn.
Theo Sở TT- TT tỉnh Tây Ninh, hiện nay, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số của tỉnh còn gặp khó khăn như một số bộ, ngành ở Trung ương chưa có hướng dẫn về các tiêu chí, chỉ tiêu quản lý ngành cần số hoá nên việc xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành của một số sở, ngành còn khó khăn. Việc hướng dẫn, thống nhất cách xác định thủ tục hành chính được giải quyết hoàn toàn trực tuyến phù hợp với tình hình thực tế chậm được triển khai; đội ngũ cán bộ công chức, viên chức am hiểu về lĩnh vực chuyển đổi số có khả năng tham mưu công tác chuyển đổi số của tỉnh còn thiếu.
Hiện nay, Chỉ số Phát triển doanh nghiệp công nghệ số của Tây Ninh đạt tỷ lệ rất thấp, trong đó các tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ thông tin, viễn thông (ICT), doanh nghiệp khởi nghiệp về công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp trong các ngành khác có ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới chỉ đạt 2.79%.
Từ thực tế này, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Kế hoạch phát triển doanh nghiệp công nghệ số tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Cụ thể, đến năm 2025, Tây Ninh có khoảng 10 doanh nghiệp sản xuất, cung cấp dịch vụ, kinh doanh, phân phối sản phẩm trong lĩnh vực công nghệ số. Trong đó có 3 doanh nghiệp công nghệ số có khả năng cung cấp giải pháp, dịch vụ, sản phẩm số để phục vụ chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn.
Tây Ninh phấn đấu đến năm 2030, toàn tỉnh có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất, cung cấp dịch vụ, kinh doanh, phân phối sản phẩm trong lĩnh vực công nghệ số, trong đó có 5 doanh nghiệp công nghệ số có khả năng cung cấp giải pháp, dịch vụ, sản phẩm số cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. (Sggp.org.vn 10/8, Hoàng Bắc)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
BHXH Việt Nam xếp thứ 3 trong các Bộ, ngành có cung cấp dịch vụ công
Với những nỗ lực không ngừng, năm 2021, BHXH Việt Nam tiếp tục ghi dấu ấn với vị trí top 3 trong Bảng xếp hạng 17 Bộ, ngành có cung cấp dịch vụ công (DVC).
Tại Phiên họp thứ 3 của Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số vừa được tổ chức, Bộ Thông tin và Truyền thông đã báo cáo Chỉ số đánh giá chuyển đổi số (DTI) của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2021. Theo đó, BHXH Việt Nam xếp thứ 3 trong Bảng xếp hạng 17 Bộ, ngành có cung cấp DVC, tăng 1 bậc so với DTI năm 2020 (17 Bộ, ngành có cung cấp DVC gồm: Bộ Tài chính; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; BHXH Việt Nam; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Công thương; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Xây dựng).
BHXH Việt Nam xếp thứ 3/17 với 0,5747 điểm. DTI của các Bộ, ngành có cung cấp DVC gồm 6 chỉ số chính với 70 chỉ số thành phần. Trong đó, BHXH Việt Nam có nhiều chỉ số chính đạt thứ hạng cao như: Nhân lực số xếp thứ 1; Hoạt động chuyển đổi số xếp hạng thứ 2 và Nhận thức số xếp hạng thứ 3.
Thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, giúp người dân và doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí trong thực hiện các giao dịch về BHXH, BHYT với cơ quan BHXH, BHXH Việt Nam đã thực hiện rà soát, điều chỉnh và bổ sung các DVC trực tuyến cập nhật trên Hệ thống Giao dịch BHXH điện tử. Trong 7 tháng đầu năm 2022, Hệ thống Giao dịch BHXH điện tử đã tiếp nhận gần 55 triệu hồ sơ (chiếm 82,8% tổng số hồ sơ tiếp nhận).
Đặc biệt, 100% DVC của Ngành được thực hiện ở mức độ 4, người dân, doanh nghiệp có thể tương tác, giao dịch với cơ quan BHXH 24/7 thông qua Cổng DVC BHXH Việt Nam, Cổng DVC quốc gia, các nhà cung cấp dịch vụ kê khai BHXH điện tử (I-VAN), ứng dụng VssID - BHXH số (dành cho cá nhân).
Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Đề án 06/CP, BHXH Việt Nam đã hoàn thiện việc kết nối sử dụng dịch vụ "Xác nhận thông tin hộ gia đình" và triển khai dịch vụ "Gia hạn thẻ BHYT theo hộ gia đình có giảm trừ mức đóng" trên Cổng DVC BHXH Việt Nam và tích hợp trên Cổng DVC quốc gia.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị, doanh nghiệp khi thực hiện giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe cho người lao động, BHXH Việt Nam cũng đã xây dựng và ban hành DVC “Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức phục hồi sức khỏe”, tích hợp, cung cấp trên Cổng DVC Quốc gia và Cổng DVC của Ngành, chính thức áp dụng, triển khai thực hiện từ ngày 15/6/2022 .
Với vị trí thứ 3 trong Bảng xếp hạng các Bộ, ngành có cung cấp DVC (năm 2021), BHXH Việt Nam tiếp tục khẳng định sự quyết tâm, nỗ lực của toàn Ngành trong công tác cải cách TTHC, ứng dụng CNTT, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Thời gian tới, ngành BHXH Việt Nam tiếp tục nỗ lực triển khai các nhiệm vụ ứng dụng CNTT, chuyển đổi số, cung cấp ngày càng nhiều các tiện ích, giúp giảm thời gian, chi phí, đem lại sự hài lòng cho các tổ chức và cá nhân khi tham gia giao dịch với cơ quan BHXH. (TTXVN/Baotintuc.vn 09/8, XM)Về đầu trang
Bộ Công Thương giảm 5 đơn vị đầu mối, 74 phòng
Chiều 08/8, Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí giai đoạn 2016-2021 làm việc với Bộ Công Thương. Thượng tướng Trần Quang Phương, Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng Đoàn giám sát điều hành nội dung buổi làm việc.
Báo cáo về sắp xếp, tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập, giai đoạn 2016-2021 cho biết, số đơn vị đầu mối thuộc Bộ giảm từ 35 đơn vị trong nhiệm kỳ Chính phủ 2011-2015 xuống còn 30 đơn vị trong nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021; số lượng phòng giảm từ 197 xuống còn 123 (giảm 74 phòng).
Bộ cũng tiến hành sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy Tổng cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương. Trong cơ cấu tổ chức Bộ Công Thương hiện nay có duy nhất một đơn vị cấp tổng cục là Tổng cục Quản lý thị trường…
Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng nêu lý do tăng biên chế công chức hành chính giai đoạn 2016-2021 là do Bộ đã tiếp nhận bàn giao lực lượng quản lý thị trường các địa phương về trực thuộc bộ.
Trước và sau thời điểm tiếp nhân lực lượng quản lý thị trường từ các địa phương về Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương luôn đảm bảo thực hiện cắt giảm biên chế theo lộ trình và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Về tình hình quản lý, giám sát việc huy động, sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, Bộ trưởng cũng báo cáo với Đoàn giám sát về tình hình xử lý 12 dự án tồn tại, yếu kém thuộc ngành công thương…
Về những tồn tại, hạn chế, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, nhân sự thực hiện công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí kiêm nhiệm, trong khi công tác tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai trên tất cả các mặt hoạt động. Vì vậy, khó khăn trong việc xây dựng, tổng hợp đánh giá hiệu quả.
Chỉ tiêu về tiết kiệm theo quy định rất nhiều, một số chỉ tiêu khó lượng hóa và không đồng nhất với chế độ báo cáo và công tác quản trị của đơn vị vì vậy khó khăn trogn việc xây dựng, tổng hợp đánh giá hiệu quả.
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chủ yếu tập trung vào các đơn vị đã tổ chức triển khai, ban hành các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chưa đi sâu đến các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ, vì vậy việc đánh giá, phát hiện vi phạm còn hạn chế… (Baochinhphu.vn 09/8)Về đầu trang
Tiết kiệm hàng trăm tỉ đồng nhờ đăng ký dự thi trực tuyến
Ngày 9/8, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số chủ trì Hội nghị sơ kết 6 tháng năm 2022 thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).
Thủ tướng đánh giá cao các kết quả đã đạt được và ghi nhận các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai Đề án.
Tham luận tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nêu rõ: Trong Đề án 06, ngành Giáo dục có hai nhiệm vụ trọng tâm là: Kết nối dữ liệu cơ bản hoàn thành, đạt khoảng 80%; hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống đăng ký dự thi cùng với xét tuyển trực tuyến đối với học sinh lớp 12.
Năm 2022, hệ thống này hướng tới giúp toàn bộ việc khai báo thông tin của học sinh lớp 12 và thí sinh tự do đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại học (nộp các hồ sơ, minh chứng, giấy tờ) được thực hiện bằng hình thức trực tuyến.
Theo đó, thông tin của 1 triệu thí sinh phải kết nối với cơ sở dữ liệu ngành để thí sinh không phải khai lại thông tin cá nhân đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu ngành và chỉ bổ sung thông tin cần thiết của kỳ thi.
Với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân (học sinh và phụ huynh), Bộ GD&ĐT đã triển khai nâng cấp và mở rộng nền tảng đăng ký xét tuyển cũng như xử lý nguyện vọng trực tuyến cho trên 900 nghìn thí sinh có nguyện vọng vào đại học, cao đẳng.
Nền tảng này có trên 900 nghìn thí sinh tương tác, trên 300 trường đại học, cao đẳng tham gia; với 20 phương thức xét tuyển khác nhau năm 2022; trên 400 nghìn lượt mã ngành.
Theo Thứ trưởng, thông thường, trung bình 1 thí sinh đăng ký khoảng 4 nguyện vọng, hệ thống đảm nhiệm xử lý gần 4 triệu nguyện vọng. Do đó, hệ thống đăng ký xét tuyển phải xử lý làm sao đảm bảo công bằng, quyền lợi cao nhất cho thí sinh; loại bỏ được lượng thí sinh ảo tại các trường.
Ngoài ra, hệ thống có nhiệm vụ kết nối dữ liệu kết quả học tập của thí sinh cùng kết quả thi tốt nghiệp THPT để phục vụ xét tuyển. Cùng với đó là nhiệm vụ thanh toán lệ phí trực tuyến bằng các phương thức khác nhau, trên các nền tảng khác nhau.
Cho đến nay, toàn bộ hệ thống phần mềm đã hoàn thành. Hệ thống hạ tầng công nghệ cũng đã được nâng cấp, chức năng an toàn bảo mật đảm bảo kết nối và thực hiện. Hạ tầng đường truyền được xử lý đầu tư nâng cấp.
Theo thống kê, trên 93% thí sinh đã đăng ký trực tuyến. Hệ thống hoạt động hoàn toàn trơn tru, hiệu quả trên Cổng thông tin dịch vụ công của Bộ và Cổng dịch vụ công quốc gia. Có thời điểm cao nhất, khoảng 140.000 truy nhập nhưng hệ thống vẫn đảm bảo hoạt động bình thường.
Đến thời điểm này, trên 50% thí sinh, tương ứng khoảng 450.000 thí sinh cùng 2 triệu nguyện vọng đã được đăng ký với tất cả các phương thức xét tuyển khác nhau.
Bên cạnh đó, dữ liệu từ phổ thông lên đại học đã được kết nối liên thông, kết quả nhất quán theo mã định danh điện tử ở tất cả các cấp học. Cơ sở dữ liệu về điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ và các dữ liệu khác đã sẵn sàng để phục vụ cho các trường xét tuyển.
Phần mềm cũng đã chuẩn bị sẵn sàng nền tảng thanh toán lệ phí sơ tuyển qua 15 kênh khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho các thí sinh xét tuyển bằng các phương thức khác nhau ở các vùng khác nhau.
Nhìn chung, công tác triển khai nói trên được các địa phương đánh giá rất cao. Bộ GD&ĐT nắm được đầy đủ thông tin, dữ liệu thi, tuyển sinh trên toàn quốc, kết nối thông suốt dữ liệu ngành, phục vụ hiệu quả chức năng quản lý nhà nước. (Giaoducthoidai.vn 09/8, Minh Phong)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
“Thu hẹp phần việc của nhà nước để giảm người, tăng lương”
Chuyên gia chính sách công Nguyễn Quang Đồng, Viện Chính sách và phát triển truyền thông (IPS), cho rằng tiền lương, thu nhập của người làm việc trong khu vực nhà nước còn nhiều bất cập. Do đó, các đô thị năng động như TP HCM, Hà Nội, Đà Nẵng với cơ hội việc làm, thu nhập và thăng tiến tốt ở khu vực tư sẽ thu hút cán bộ, công chức giỏi.
Theo ông Đồng, giải pháp đặt ra là nhà nước cần nâng lương để giữ người giỏi, cán bộ làm được việc nhưng đối mặt thách thức ngân sách hạn hẹp. Vì vậy chính quyền cần xác lập nguyên tắc cái gì thị trường làm tốt sẽ để thị trường thực hiện, nhà nước không tham gia để giảm nhân sự. Hiện, nhiều phần việc của nhà nước có phần chồng chéo, thậm chí "ngáng chân" khu vực tư và các tổ chức xã hội.
"Khi nhà nước thu hẹp các phần việc của mình sẽ giảm được người ăn lương từ ngân sách. Khi đó thu nhập của những lao động còn lại ở khu vực công sẽ tăng lên", ông Đồng nói.
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đời sống xã hội, dẫn ví dụ ngành công chứng. Hiện, tư nhân đã tham gia vào lĩnh vực này và làm rất tốt cho nên xã, phường, phòng tư pháp nên dừng. Nhà nước chỉ tham gia khâu quản lý, giám sát. Việc này giúp giảm tải khối lượng công việc, nhân lực tại cơ sở.
Theo ông Lộc, nhà nước phải xác định rõ ba nhóm với mức độ tham gia khác nhau, gồm: Bắt buộc phải làm; điều tiết để đảm bảo công bằng; thúc đẩy để phát triển. Khi đó nhân lực của nhà nước chỉ còn tham gia trực tiếp vào những ngành thuộc an ninh quốc phòng, giữ vai trò điều tiết ở nhóm hạ tầng phúc lợi như y tế, giáo dục... Còn lại các ngành kinh tế sẽ do tư nhân đảm nhận, nhà nước chỉ góp phần hỗ trợ, thúc đẩy phát triển.
"Khi phạm vi công việc được tinh gọn lại thì đầu việc không còn bao nhiêu, nhân sự khu vực công giảm, lương sẽ cao lên, tự động hút được người tài", ông Lộc nói và dẫn chứng tại Singapore, tư nhân khó cạnh tranh người giỏi với nhà nước vì lương ở khu vực công rất cao. Đổi lại nhà nước phải làm những việc khó, đòi hỏi lao động trình độ, chuyên môn vững vàng.
Với những bất cập chính sách tiền lương ở khu vực nhà nước, năm 2018 Trung ương ban hành Nghị quyết 27, dự tính thực hiện tháng 7/2021. Thiết kế cơ cấu lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm 30% tổng quỹ lương); bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không gồm phụ cấp); xây dựng hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo...
Theo ông Mai Đức Chính, nguyên phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động, tinh thần Nghị quyết 27 là trả công xứng đáng theo năng lực, vị trí việc làm. Điều này góp phần thúc đẩy cán bộ làm việc, khuyến khích người trẻ có năng lực gắn bó. Nếu nghị quyết được triển khai tốt sẽ tránh tình trạng "sống lâu lên lão làng", ở nhà nước lâu lương cao, trong khi những người tài lại nhận thù lao quá ít, dễ bỏ việc. Tuy vậy Covid-19 kéo dài, nghị quyết nói trên liên tục phải lùi.
"Sau dịch giá cả tăng nhanh, lượng lớn cán bộ nghỉ việc vì lương không đủ sống, nhà nước cần đẩy nhanh thực hiện Nghị quyết 27 để nâng cao thu nhập lao động làm ở khu vực công", ông Chính nói.
Nguyên phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động cho hay muốn cải cách được tiền lương, nhà nước cần xây dựng vị trí việc làm để tinh giản biên chế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều thách thức ở khâu này. Ông Chính ví dụ ngay nơi mình từng công tác, khi Nghị quyết 27 được ban hành, cơ quan yêu cầu các ban xây dựng lại vị trí việc làm, mô tả công việc cụ thể, trong đó một ban phải giảm từ 8 xuống 5 người. Thế nhưng sau 4-5 lần làm phương án, lãnh đạo ban cho rằng công việc vẫn đủ cho 8 người, không thể cắt giảm.
Theo ông Chính, cấp trên không muốn mất lòng nhân viên vì chi phí lương là ngân sách chứ không phải cơ quan hay từ túi của họ. Chưa kể hầu hết người làm việc đều hoàn thành nhiệm vụ từ tốt đến xuất sắc không có lý do cắt giảm. Pháp luật quy định công chức không hoàn thành nhiệm vụ hai năm sẽ bị điều chuyển hoặc thôi việc. Thế nhưng một người thành tích kém sẽ ảnh hưởng kết quả thi đua, xếp loại cuối năm của tập thể. Do đó, khi đánh giá cán bộ, cấp trên cũng du di cho qua những người yếu kém, năng lực hạn chế.
"Việc này dẫn đến tình trạng chung của nhiều cơ quan nhà nước là thiếu người giỏi việc nhưng lại thừa người sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về", ông Chính nói.
Nguyên lãnh đạo Tổng liên đoàn cho rằng cần có tiêu chí rõ ràng để xây dựng vị trí việc làm và người đứng đầu tổ chức phải quyết tâm mới tinh giản được biên chế. Bên cạnh đó, quy định không nên bổ đầu giảm số lượng cán bộ theo tỷ lệ phần trăm (%). Việc bắt buộc phải "hai ra một vào" ở tất cả cơ quan là máy móc. Với cách làm này mặt được là đạt thành tích tinh giản biên chế nhưng không giúp tăng lương bền vững.
Theo chuyên gia Nguyễn Quang Đồng, bộ máy nhà nước hiện được tổ chức với ba khu vực chính gồm hành chính, sự nghiệp công và đoàn thể. Do đó việc quy định số lượng biên chế cần dựa trên chức năng, vai trò, đặc điểm từng khu vực, chứ không áp một chỉ tiêu chung với tất cả địa phương như hiện nay.
Ông Đồng dẫn chứng, ở TP HCM đang thiếu công chức làm các công việc giao dịch hành chính giữa nhà nước với người dân, doanh nghiệp. Trung bình 5 năm, thành phố tăng thêm một triệu người thì số lượng cán bộ phải tăng lên để phục vụ. "Tinh giản đổ đồng ở tất cả ngành, khối, địa phương là bất hợp lý, trong ngắn hạn có thể giúp giảm người hưởng quỹ lương ngân sách, song về lâu dài không bền vững", chuyên gia nói.
Tương tự, ông Mai Đức Chính cho rằng nếu tính cả người tạm trú, TP HCM phải đến 13 triệu người. Vì vậy biên chế các ngành y tế, giáo dục phải tính trên số dân mới hợp lý. Ngay trong tổ chức công đoàn, nhà nước có thể cho số lượng biên chế nhất định, Tổng liên đoàn sẽ chủ động điều tiết về các địa phương vừa đảm bảo số lượng theo yêu cầu mà vẫn phục vụ tốt nhất người lao động.
Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội đầu tháng 6 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị Chính phủ bố trí ngân sách tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức trong năm 2023. Trước đây, việc điều chỉnh tăng lương thực hiện hàng năm, nhưng ba năm qua tạm dừng do Covid-19.
Lần điều chỉnh lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức gần nhất là từ 1/7/2019, tăng từ 1,39 triệu đồng lên 1,49 triệu đồng. Theo đó, công chức trình độ đại học mới đi làm (hưởng lương bậc 1 với hệ số 2,34) sẽ nhận lương gần 3,5 triệu đồng. Mức lương quá thấp sẽ khó giữ người ở lại với khu vực nhà nước. (Vnexpress.net 10/8, Lê Tuyết)Về đầu trang
Bộ trưởng Nội vụ trả lời kiến nghị về chế độ tiền lương của viên chức, công chức
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký văn bản gửi đoàn Đại biểu Quốc hội Hà Nội và TP.HCM trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV.
Phản hồi kiến nghị của cử tri TP.HCM về chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, nhất là chế độ tiền lương cho ngành y tế và giáo dục nói riêng, Bộ Nội vụ cho biết viên chức ngành y tế và giáo dục được áp dụng chế độ tiền lương, phụ cấp theo chế độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập như viên chức nói chung.
Đối với viên chức ngành y, ngoài chế độ trên còn được áp dụng chế độ phụ cấp đặc thù. Hiện Bộ Y tế đang xây dựng, trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2011 cho phù hợp Kết luận số 25 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 38 của Chính phủ về chương trình phòng, chống dịch Covid-19 theo hướng áp dụng mức phụ cấp ưu đãi nghề 100% đối với cán bộ y tế dự phòng, y tế cơ sở.
Trong khi đó, ngành giáo dục được áp dụng chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo.
Theo Bộ Nội vụ, chế độ tiền lương, phụ cấp hiện hành được thực hiện từ tháng 10/2004 đến nay, mặc dù đã được điều chỉnh, bổ sung nhiều lần nhưng tiền lương, thu nhập và đời sống của cán bộ, công chức, viên chức nói chung và của viên chức ngành y tế, giáo dục nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn.
Cử tri Hà Nội đề nghị nghiên cứu, tham mưu Chính phủ sớm thực hiện lộ trình cải cách tiền lương, nâng mức lương tối thiểu cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội và sự tăng giá của hàng hoá, dịch vụ, tránh tình trạng rút bảo hiểm xã hội một lần gia tăng thời gian vừa qua. Cử tri Hà Nội đề nghị quan tâm đến đối tượng giáo viên, cán bộ, công chức ở cấp xã, phụ cấp đối với cán bộ thôn, tổ dân phố.
Trả lời, Bộ Nội vụ cho hay đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 107 năm 2018 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách tiền lương. Trong đó, Chính phủ đã phân công nhiệm vụ cho các bộ, cơ quan liên quan xây dựng cụ thể các nội dung của chế độ tiền lương mới để thực hiện từ năm 2021 theo lộ trình.
Do tác động của nhiều yếu tố bất lợi, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-l9 nên Hội nghị Trung ương 13 khoá XII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ đạo lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương mới vào thời điểm phù hợp. Trong năm 2021, 2022, dự toán ngân sách nhà nước chưa bố trí kinh phí để tăng lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức (bao gồm cả cán bộ, công chức cấp xã) và lực lượng vũ trang.
Về cải cách chính sách tiền lương đối với người lao động trong khu vực doanh nghiệp và chế độ bảo hiểm xã hội một lần, Bộ Nội vụ cho biết Nghị định số 38/2022 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Theo phân công của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) có chức năng quản lý nhà nước về chế độ Bảo hiểm xã hội (BHXH) (trong đó có chế độ BHXH một lần). Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH trình cấp có thẩm quyền quy định chế độ này cho phù hợp, khắc phục tình trạng rút BHXH một lần gia tăng trong thời gian qua như ý kiến cử tri nêu.
Bộ Nội vụ cũng thông tin theo quy định hiện hành, việc quy định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố ngoài mức khoán theo quy định của Chính phủ sẽ do UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp xem xét, quyết định.
Đồng thời, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước năm 2022 và những năm tiếp theo, Bộ sẽ trình Chính phủ báo cáo Trung ương và Quốc hội thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương để tăng lương cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang (trong đó có giáo viên) và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với yêu cầu Nghị quyết 27 của Trung ương khóa XII. (Doanhnhansaigon.vn 09/8)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật!
Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, 6 tháng đầu năm, việc chuyển đổi số quốc gia đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể, nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số tiếp tục chuyển biến tích cực ở các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu. Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nghị quyết của cấp ủy, kế hoạch của chính quyền 5 năm và hàng năm về chuyển đổi số.
Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của 22/22 bộ, ngành và 63/63 địa phương được thành lập và đi vào hoạt động. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước kết nối 4 cấp hành chính tiếp tục được phát triển, đã kết nối đến 100% huyện; hơn 97% xã trên toàn quốc. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 3.699 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; hơn 2,1 triệu tài khoản đăng ký tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ...
Bên cạnh đó, nhờ phát triển kinh tế số, xã hội số, tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GDP tiếp tục tăng; nhiều doanh nghiệp tích cực chuyển đổi số; thuế điện tử, hóa đơn điện tử được phổ cập. Người dân tích cực sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ công quốc gia trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Một số chỉ tiêu trong Kế hoạch hoạt động của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số năm 2022 đã đạt mục tiêu đề ra như tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử là 100%, đạt mục tiêu đề ra; tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ là 11,27%, vượt mục tiêu đề ra là 7%; tỷ lệ người dân từ 15 tuổi có tài khoản thanh toán là 66%, vượt mục tiêu đề ra là 65%.
Những kết quả trên là đáng khích lệ, tuy nhiên, cần phải nhắc lại rằng, cách đây gần 2 năm, hồi tháng 12.2020, tại Diễn đàn Phát triển doanh nghiệp công nghệ số, nhiều ý kiến cho rằng chuyển đổi số không phải phong trào đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin mà là thay đổi tư duy. Ví dụ như không thể ứng dụng công nghệ thông tin nhưng các văn bản chỉ đạo vẫn phải được in ra, "ký tươi", đóng dấu rồi sau đó lại scan, chuyển thành dạng PDF, chuyển, gửi đi và đơn vị nhận sau đó ứng dụng AI để nhận dạng, bóc tách dữ liệu sang dạng văn bản. Hay như tình trạng cát cứ dữ liệu giữa các cơ quan, bộ ngành - xuất phát tư duy, nhận thức về chuyển đổi số dẫn đến việc khai thác và sử dụng dữ liệu gặp nhiều khó khăn.
Cũng vì những tồn tại này mà tại Phiên họp thứ Ba của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số để đánh giá kết quả chuyển đổi số 6 tháng đầu năm 2022, xác định những hướng giải pháp, nhiệm vụ chuyển đổi số thời gian tới diễn ra hôm 8.8, Thủ tướng Phạm Minh Chính thêm một lần nữa nhấn mạnh, phải liên tục đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tránh tư duy “cát cứ" thông tin, số liệu, dữ liệu. Phải coi đây là tài sản quốc gia và tài sản này chỉ được làm giàu thêm khi được liên thông, chia sẻ, xác thực hướng đến mục tiêu cuối cùng là phục vụ tốt nhất cho nhân dân.
Và với những tồn tại, hạn chế hiện nay, điều đặc biệt quan trọng, theo Thủ tướng Phạm Minh Chính là phải nghĩ thật, nói thật, làm thật, có hiệu quả thật, người dân, doanh nghiệp được thụ hưởng thật. Nói phải đi đôi với làm, "không đánh trống bỏ dùi". Không để hiện tượng dịch vụ công trực tuyến thì nhiều, nhưng người dân sử dụng ít, hiệu quả không cao. Các nền tảng nhiều, cơ sở dữ liệu lớn nhưng tính đồng bộ, liên thông thấp...
Phải thẳng thắn, chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa dữ liệu, mà phải tận dụng tiến bộ công nghệ để thúc đẩy hiệu quả ở mọi quy trình thực hiện. Đặc biệt, phải coi chuyển đổi số là cuộc cách mạng về tư duy, ở đó, dữ liệu của các bộ, ngành là một bộ phận cấu thành nên dữ liệu quốc gia. Không thể có chuyện dữ liệu "anh", dữ liệu "tôi", không có dữ liệu chung, dữ liệu riêng mà chỉ còn một khối dữ liệu thống nhất và duy nhất của quốc gia. Bộ, ngành, doanh nghiệp nào cũng có thể truy cập tùy cấp độ để phục vụ lợi ích lớn nhất là lợi ích người dân, lợi ích của dân tộc, đất nước. (Đại biểu nhân dân 10/8, Ninh Hà)Về đầu trang
Để người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến
Theo thống kê, nếu năm 2020, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến chỉ đạt 1,78% thì năm 2021 đã tăng lên 9,51% và 7 tháng năm 2022 đạt gần 18%. Mặc dù tăng dần qua từng năm, nhưng tỷ lệ trên vẫn được coi là khá thấp so với yêu cầu, mức độ đầu tư cho chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu, triển khai các ứng dụng số.
Việc tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn thấp cho thấy nhiều điều. Thứ nhất, người dân chưa quen với việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường internet, thông qua các ứng dụng số, không biết có thủ tục hành chính đã được triển khai dịch vụ công trực tuyến; còn nhiều người chưa được tiếp cận với internet, máy tính hay thiết bị di động thông minh hoặc có thiết bị di động thông minh nhưng vẫn giữ thói quen làm thủ tục hành chính trực tiếp…
Thứ hai, việc thông tin, tuyên truyền cũng chưa đủ, chưa có cơ chế khuyến khích người dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số. Hạ tầng số dù được cải thiện, nhưng tốc độ mạng băng rộng cố định, di động vẫn ở mức trung bình khá, chưa tạo đột phá để phục vụ chuyển đối số quốc gia. Nhiều cơ sở dữ liệu chậm triển khai, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu hạn chế, vướng mắc, chưa hiệu quả… đã cản trở việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân.
Hơn hết, một số dịch vụ công trực tuyến mang tính hình thức, chưa thực chất, người dân chưa thấy thuận tiện, dễ sử dụng. Nhiều dịch vụ công nhưng tỷ lệ sử dụng thấp dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư. Có thể so sánh với tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ mua bán trực tuyến hay thanh toán trực tuyến trên nền tảng số tăng gấp nhiều lần trong bối cảnh dịch bệnh để thấy, nếu dịch vụ trực tuyến hữu ích, thuận tiện, cần thiết, người dân sẽ tìm đến và sử dụng, biến nó thành công cụ không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày.
Vậy, làm gì để thu hút, tăng tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến? Trước hết, việc chuyển đổi số cần tiếp tục được đẩy mạnh toàn diện; chuyển đổi số không chỉ ở từng cấp, ngành, doanh nghiệp mà phải đến với từng người dân và phục vụ người dân. Hạ tầng số phải tiếp tục được đầu tư, phát triển mạnh mẽ, chất lượng mạng băng rộng cố định, di động không ngừng được cải thiện. Hệ thống cơ sở dữ liệu phải được xây dựng đồng bộ, liên thông, chia sẻ, xác thực cùng nhau hướng đến mục tiêu cuối cùng là phục vụ người dân tốt nhất. Các doanh nghiệp số phải chủ động, sáng tạo, xây dựng các sản phẩm số hữu ích, xử lý những vấn đề thực tiễn đang đặt ra; đi cùng với đó là làm tốt việc truyền thông, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận của người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Chủ trì phiên họp Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số lần thứ ba, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số đã nhấn mạnh, phải lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu, động lực chuyển đổi số. Người dân, doanh nghiệp phải tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Chuyển đổi số phải để người dân, doanh nghiệp, sử dụng dịch vụ công, tiện ích xã hội thuận tiện hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn. Để tránh hiện tượng dịch vụ công trực tuyến nhiều, nhưng người dân sử dụng ít; các nền tảng số nhiều, cơ sở dữ liệu lớn nhưng tính đồng bộ, liên thông lại thấp, cần phải làm thật, có hiệu quả thật, người dân, doanh nghiệp được hưởng thụ thật.
Lấy người dân là trung tâm, để người dân tham gia chuyển đổi số và người dân được hưởng thụ thật rõ ràng là cách hiệu quả nhất khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. (Hanoimoi.com.vn 10/8, Gia Khánh) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/8/2022 (09/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 08/8/2022 (08/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 05/8/2022 (05/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 04/8/2022 (05/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 03/8/2022 (03/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 02/8/2022 (02/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 01/8/2022 (01/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 29/7/2022 (29/07/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 28/7/2022 (28/07/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 27/7/2022 (27/07/2022)

