Bản tin cải cách hành chính ngày 14/3/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH.. 1

1.  Trục liên thông văn bản: Nền tảng cốt lõi của Chính phủ điện tử. 1

2.  Trục liên thông văn bản Quốc gia: Không chỉ là tiết kiệm.. 2

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 4

3.  TPHCM: Đột phá vào thái độ công chức. 4

4.  Cà Mau: Có chính quyền điện tử nhưng thiếu công dân điện tử?. 5

5.  EVN Hà Nội tiến tới không thu tiền điện tại nhà dân. 7

6.  Vĩnh Long đề ra 10 chỉ tiêu trong công tác dân vận chính quyền. 8

LĨNH VỰC CẢI CÁCH.. 8

7.  Khởi nghiệp mệt mỏi thủ tục hành chính. 8

8.  Giấy phép con tiếp tục được cài cắm.. 10

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH.. 12

9.  Phải xây dựng định mức mới được tiếp nhận xe ô tô chuyên dùng. 12

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH.. 12

10.  Sắp xếp để phát triển. 12

11.  Nhiều văn bản quy phạm lạc lõng. 14


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Trục liên thông văn bản: Nền tảng cốt lõi của Chính phủ điện tử

Ông Trần Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cho hay, Trục liên thông văn bản quốc gia (VDXP) là hệ thống đặc biệt quan trọng và là nền tảng cốt lõi đảm bảo xây dựng thành công Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số. Thông tin này được ông Hùng đưa ra tại Lễ khai trương VDXP diễn ra chiều 12/3.

Theo đại diện VNPT, thực hiện Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện gửi nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước, VNPT được Văn phòng Chính phủ tin tưởng, giao phó nhiệm vụ xây dựng và triển khai hệ thống Trục liên thông văn bản quốc gia để  thực hiện việc liên thông gửi nhận văn bản điện tử giữa Văn phòng Chính phủ và các Bộ/ngành/địa phương và giữa các Bộ/ngành/địa phương.

Ngay khi nhận được yêu cầu, VNPT đã nhanh chóng bắt tay tổ chức đội ngũ với hơn 100 kỹ sư công nghệ thông tin để nghiên cứu, tham khảo học hỏi từ đối tác nước ngoài để phát triển hệ thống, đồng thời tổ chức đội ngũ công nghệ thông tin trong cả nước hỗ trợ trực tiếp cho 95 bộ/ngành/địa phương trong quá trình phối hợp thử nghiệm kết nối liên thông.

Ông Trần Mạnh Hùng cho hay, trong quá trình phát triển, triển khai, bảo đảm an toàn thông tin cho hệ thống là một yếu tố đặc biệt quan trọng, được yêu cầu thực hiện một cách nghiêm ngặt. Do đó, Tập đoàn VNPT đã hết sức chú trọng công tác bảo mật, trong cả triển khai hạ tầng mạng lưới, lựa chọn công nghệ sử dụng lẫn trong quá trình xây dựng phần mềm.

“Các trung tâm dữ liệu của VNPT hiện đều đang đạt chuẩn bảo mật quốc tế Tier 3. Nền tảng công nghệ sử dụng các máy chủ bảo mật với Chứng thư số do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp phát để thiết lập kênh trao đổi bảo mật giữa các điểm kết nối của các Bộ/Ngành/Địa phương. Trong quá trình phát triển phần mềm, VNPT áp dụng mô hình và tiêu chuẩn quốc tế đảm bảo yêu cầu về bảo mật rất cao trong thiết kế, xây dựng, phát triển phần mềm và quản lý rủi ro chủ động cho sản phẩm dịch vụ,” ông Hùng nói.

Lãnh đạo của VNPT cũng cho hay, từ ngày 19/1/2019, hệ thống đã được đưa vào thử nghiệm tại 95 đơn vị. Sau hơn 1 tháng hoạt động, đã có hơn 10.000 văn bản được liên thông trên toàn hệ thống. Hệ thống đã được Bộ Công an và Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá về đảm bảo an ninh và an toàn thông tin và đảm bảo sẵn sàng hoạt động chính thức.

Theo ông Hùng, trục liên thông văn bản quốc gia đi vào hoạt động không chỉ đảm bảo kết nối việc nhận/gửi văn bản giữa giữa các đơn vị mà còn có thể chia sẻ/kết nối dữ liệu theo các chuẩn khác nhau, đáp ứng được vấn đề quản lý tập trung, đồng thời dữ liệu được phân tán để đảm bảo được tính chủ động của các Bộ, ngành, địa phương trong việc phát triển cơ sở dữ liệu đặc thù của riêng mình. Đây là hệ thống đặc biệt quan trọng và là nền tảng cốt lõi đảm bảo xây dựng thành công Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số trong thời gian tới.

“Tập đoàn VNPT cam kết chung tay, hợp tác cùng các doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước và quốc tế nghiên cứu, đưa các ứng dụng tiên tiến nhất vào triển khai để xây dựng và hình thành nên một tương lai số tốt đẹp cho đất nước,” ông Trần Mạnh Hùng nhất mạnh. (VietnamPlus.vn 13/3)Về đầu trang

Trục liên thông văn bản Quốc gia: Không chỉ là tiết kiệm

Khai trương Trục liên thông văn bản quốc gia đã trở thành sự kiện được dư luận rất quan tâm. Theo tính toán sơ bộ, việc ứng dụng Trục liên thông văn bản quốc gia, mỗi năm tiết kiệm được trên 1.200 tỷ đồng. Trong điều kiện ngân sách nhà nước eo hẹp, số tiền tiết kiệm này là rất đáng quý. Nhiều ý kiến cho rằng, lợi ích của việc thực hiện trục liên thông này còn nhiều hơn thế. Đó là góp phần minh bạch hóa hoạt động của cơ quan công quyền, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền giám sát tốt hơn đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.

Trục liên thông văn bản quốc gia là giải pháp kỹ thuật, công nghệ được triển khai từ Văn phòng Chính phủ tới các bộ, ngành, địa phương để kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử. Với giải pháp công nghệ này, không chỉ tiết kiệm chi phí hành chính, giảm thời gian xử lý văn bản mà còn góp phần loại bỏ tình trạng “ngâm hồ sơ”. Ngoài ra, giúp lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương biết được tình trạng xử lý văn bản, hồ sơ, công việc trên hệ thống, từ đó có sự chỉ đạo kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Đây cũng là căn cứ để đánh giá chất lượng hoạt động của từng cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức một cách chính xác nhất.

Việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp bị chậm trễ còn có nguyên nhân từ việc hội họp quá nhiều. Có chuyên gia đã ví von hài hước nền hành chính của chúng ta là “nền hành chính họp”. Thực tế chúng ta đã dành một khoản lớn thời gian, chi phí cho việc hội, họp mà hiệu quả mang lại không cao. Trong khi, chỉ cần văn bản điện tử là có thể truyền tải được hết yêu cầu chỉ đạo của người có thẩm quyền đến từng cấp, từng ngành, từng cơ quan đơn vị, cán bộ, công chức để triển khai thực hiện mà không cần tổ chức bất kỳ cuộc hội, họp nào. Do đó, việc ra đời của trục thông tin văn bản quốc gia là điều mà người dân và doanh nghiệp chờ đợi đã lâu.

Nhưng, công nghệ hiện đại chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi kèm với nó là trình độ nhân lực tương xứng. Đây là một thách thức lớn đối với chúng ta, bởi trong bộ máy công quyền vẫn còn còn nhiều cán bộ, công chức vẫn muốn giữ thói quen làm việc giấy tờ chứ không sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin. Bởi họ không muốn từ bỏ đặc quyền, quyền lợi của mình từ việc thiếu minh bạch. Không ít trường hợp cán bộ, công chức cố tình trì hoãn trong áp dụng công nghệ hiện đại để tránh bị kiểm soát, giám sát. Đây chính là một trong những vướng mắc, rào cản tồn tại lâu nay cần phải xóa bỏ.

Nhiều ý kiến cho rằng, Chính phủ 4.0 không thể thiếu cán bộ trình độ 4.0. Để đáp ứng được yêu cầu này, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải tự đổi mới, trau dồi kiến thức mới đảm đương được vị trí. Việc liên thông văn bản quốc gia sẽ được triển khai đồng bộ từ trên xuống dưới, nếu ở đâu bị ách tắc, sẽ tắc cả một quá trình. Do đó, dù không muốn thì cán bộ, công chức cũng phải thay đổi, nếu không đáp ứng được yêu cầu mới trong công việc sẽ buộc phải rời khỏi bộ máy.

Không chỉ cán bộ, công chức thay đổi mà người dân, doanh nghiệp cũng phải thay đổi tư duy, từ hồ sơ giấy sang ứng dụng công nghệ trong thực hiện các thủ tục một cách tối đa. Cùng với đó, phát huy sức mạnh của người đứng đầu. Quá trình thực hiện cải cách cho thấy, cùng là quy trình, cùng là thủ tục nhưng nơi nào người đứng đầu quyết liệt, xắn tay vào cuộc thì cải cách hành chính rất thông. Nhưng ở nơi người đứng đầu thờ ơ, cấn cá với cải cách thì người dân, doanh nghiệp vẫn bị làm khó.

Như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng nhấn mạnh: phải đặc biệt nhấn mạnh vai trò nêu gương và sự quyết tâm, sát sao trong chỉ đạo điều hành của người đứng đầu các bộ, ngành và chính quyền các cấp để tạo chuyển biến thực sự về phương thức, về lề lối làm việc theo xu hướng mới, tiên tiến nhằm gỡ bỏ mọi rào cản cả vô hình và hữu hình từ chính những người làm việc tại cơ quan hành chính có tâm lý ngại thay đổi, do sợ phải minh bạch, công khai công việc. (Đại Biểu Nhân Dân 14/3, tr2, Hà An)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Đột phá vào thái độ công chức

Trong những lần đi cơ sở cũng như trao đổi tại các hội nghị, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, luôn nhấn mạnh điều này; đồng thời, yêu cầu công tác CCHC phải “chạm” được trái tim của công chức, công chức phải “cảm” được bức xúc của người dân khi đi làm thủ tục hành chính.

Không thể phủ nhận, TPHCM đã có rất nhiều nỗ lực thực hiện CCHC, nhằm tạo sự tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp (DN). Song, nếu đánh giá tổng thể thì việc người dân, DN đi làm thủ tục, giấy tờ còn gặp rất nhiều khó khăn. Họ không những bị vấp phải sự bất cập, nhiêu khê từ quy trình - thủ tục mà còn “đụng” phải sự thờ ơ, thậm chí nhũng nhiễu, tiêu cực của một số cán bộ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ.

Qua giám sát về CCHC, Trưởng ban Pháp chế HĐND TPHCM Trương Lâm Danh cũng nhìn nhận: “Vẫn còn một số cán bộ vô cảm với dân”. Người dân đến hỏi thủ tục, cán bộ “mặt lạnh như tiền”. Khi không trả kết quả cho dân đúng hẹn thì không xin lỗi người dân, hoặc chỉ xin lỗi kiểu cho có và cũng không rõ cụ thể ngày, tháng nào giải quyết.

Số liệu từ cơ quan chức năng cho thấy, trong năm 2018, toàn TPHCM có 68.300 hồ sơ trễ hạn. Là một người dân có nhiều lần đi làm thủ tục hành chính, ông Lê Hoàng Tâm (quận Thủ Đức) nhận xét, con số này có thể chưa phản ánh hết thực tế. Việc chậm trễ trong giải quyết hồ sơ cho người dân, nhất là hồ sơ nhà đất, bị trễ hạn là chuyện thường ngày nhưng không phải trường hợp nào cũng được thống kê.

“Người dân nộp hồ sơ và đợi đến gần ngày nhận kết quả (theo phiếu hẹn) thì được trả hồ sơ và yêu cầu bổ sung. Cơ quan thụ lý đã lách để không phải bị coi là giải quyết hồ sơ trễ hạn”, ông Tâm chia sẻ trường hợp của mình và nhiều người khác từng gặp phải.

Về vấn đề này, Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thiện Nhân nhìn nhận thẳng thắn: “Các đơn vị đều thông báo tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt trên 99%, tuy nhiên, nếu gặp người dân, DN thì họ phản ánh hồ sơ trễ hạn rất nhiều”.

Những phàn nàn của người dân và DN về CCHC còn chưa tốt đôi khi bị cho rằng do đánh giá cảm tính, nhưng khi được soi chiếu dưới các thước đo cụ thể, dễ dàng thấy: Các chỉ số CCHC và tính cạnh tranh về môi trường kinh doanh của TPHCM đang đứng vị trí thấp so với nhiều tỉnh/thành. Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của TPHCM đứng thứ 39/63; chỉ số CCHC (PAR-Index) đứng thứ 10/63 và chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng thứ 8/63 - không lọt vào tốp 5 tỉnh/thành, dù TPHCM là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Vị trí thấp kém của các chỉ số này khớp với sự không hài lòng của người dân và DN đối với sự phục vụ của các cơ quan quản lý nhà nước ở TPHCM.

Phân tích 68.300 hồ sơ trễ hạn (chiếm 0,48%) trong năm 2018, chúng ta thấy con số này tăng so với trước (năm 2017 có 38.500 hồ sơ trễ hạn, chiếm 0,32%). Trong gần 68.300 hồ sơ trễ hạn, vẫn còn trên 7.000 trường hợp (hơn 10%) chưa được cơ quan chức năng thực hiện thư xin lỗi người dân, tổ chức liên quan.

Phó Giám đốc Sở Nội vụ Huỳnh Công Hùng cho hay, trong năm 2018 vẫn còn cơ quan, đơn vị chưa xử lý triệt để các hạn chế, thiếu sót, vi phạm của công chức, đặc biệt là các công chức “góp phần” làm trễ hạn hồ sơ. Việc thực hiện thư xin lỗi cũng chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ.

Trong CCHC, thước đo kết quả thể hiện chính xác nhất là sự hài lòng của người dân và DN - với điều kiện thước đo đó thực chất, chính xác. Năm 2019, TPHCM đặt mục tiêu phấn đấu tỷ lệ hài lòng của người dân, DN đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính đạt trên 80%. Cần nhắc lại, một thời gian dài, nhiều cơ quan, đơn vị đã tổ chức ghi nhận sự hài lòng, nhưng số người dân tham gia rất thấp.

Tại quận 1, trong số 100 người đến làm thủ tục thì chỉ 4 người đánh giá, 96 người còn lại không đánh giá. Vì thế, dù tỷ lệ hài lòng được UBND quận 1 công bố là rất cao (năm 2018 đạt gần 99,3%), nhưng cũng chưa phản ánh được chính xác tỷ lệ hài lòng. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở các quận/huyện khác và cả TPHCM, trong 17,8 triệu hồ sơ hành chính phục vụ vào năm 2018, chỉ ghi nhận được 88.600 lượt người dân đánh giá.

Theo Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Thiện Nhân, số lượt đánh giá này là “rất thấp”. Vì vậy, liên tiếp trong nhiều buổi làm việc đầu năm 2019 với cơ sở, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu từng phường/xã, quận/huyện, sở/ngành và UBND TP phải đưa ra tỷ lệ hài lòng của người dân khi đến giao dịch. Nơi nào không ghi nhận được, không trả lời được tỷ lệ hài lòng của người dân, DN thì không có cơ sở chi thu nhập tăng thêm cho đội ngũ công chức.

Đã đến lúc TPHCM cũng không thể tiếp tục chấp nhận nhiều việc không bình thường lâu nay bị bình thường hóa: Sự vô cảm “có lý do” trước bức xúc của nhân dân và DN; sự phối hợp giữa quận/huyện và sở/ngành, giữa các sở/ngành với nhau, giữa sở/ngành và UBND TP chưa có quy trình chuẩn và thời hạn giải quyết, dẫn tới tình trạng các sở/ngành đùn đẩy trách nhiệm giải quyết. Điều đó dẫn tới có khi, giải quyết một vụ việc kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, cũng… không ai, không đơn vị nào chịu trách nhiệm. (Sài Gòn Giải Phóng 14/3, Kiều Phong – Mạnh Hòa)Về đầu trang

Cà Mau: Có chính quyền điện tử nhưng thiếu công dân điện tử?

UBND tỉnh Cà Mau vừa họp Ban Chỉ đạo Công nghệ thông tin để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thời gian qua. Nhiều vấn đề được đưa ra mổ xẻ, trong đó, việc “Chính quyền điện tử” đang dần hoàn thiện nhưng “Công dân điện tử” còn thiếu, rất được quan tâm.

Theo ông Nguyễn Minh Luân, Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Cà Mau, hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin là giúp tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài chính.

Trong năm 2018, ngành Giáo dục Cà Mau đã thực hiện chuyển các loại sổ nghiệp vụ từ giấy sang số hóa. Trên 60 đầu sổ nghiệp vụ được chuyển đổi và phục vụ rất thiết thực cho công tác quản lý và giảng dạy. Giáo viên đỡ mất thời gian, phụ huynh cập nhật được thông tin về con cái mình nhanh chóng ngay tại nhà.

Cũng theo ông Luân, hiện ngành nào, địa phương nào cũng có nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết nhanh các thủ tục, song khó khăn vẫn còn rất nhiều. Rào cản lớn nhất là nhận thức về việc cần áp dụng vào thực tiễn. Muốn phát triển dịch vụ công trực tuyến, công chức, viên chức phải đi đầu thực hiện thì nhiều người còn chưa nắm rõ, chưa áp dụng và cứ thế làm theo kiểu theo truyền thống thì khó tác động được đến người dân.

“Đã có chính quyền điện tử nhưng đa số người dân không hiểu “Chính quyền điện” tử là gì, nghĩa là chúng ta chưa có “Công dân điện tử”-ông Luân nêu rõ.

Ông Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tán đồng với ý kiến trên và chỉ rõ, thời gian qua, để khuyến khích, tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến, ngành chức năng đã cấp gần 800 tài khoản sử dụng dịch vụ cho cán bộ đoàn, mặt trận của tỉnh và huyện nhưng không mấy người sử dụng. “Cán bộ tuyên truyền không sử dụng thì ai sử dụng, rồi tuyên truyền cho ai?”- ông Hải đặt vấn đề.

Cũng theo ông Hải, không chỉ ý thức mà trình độ của cán bộ, công chức, viên chức còn rất kém trong sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Có nơi còn chưa phân biệt được đâu là thủ tục hành chính, đâu là thủ tục thông thường.

Việc đăng các văn bản lên cổng thông tin dịch vụ công cũng chưa kịp thời gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Cần bỏ ngay tư tưởng thờ ơ, cứ quản lý, làm theo kiểu truyền thống của một bộ phận không nhỏ cán bộ. Phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm hướng tới lợi ích chung.

Người đứng đầu UBND tỉnh Cà Mau dẫn chứng, trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân hiện có rất nhiều vấn đề, nhiều vụ việc. Ứng dụng công nghệ thông tin vào, có phần mềm xử lý, từng vụ việc nhập vào là xong. Sau đó, muốn biết ai tiếp nhận, ai xử lý, xử lý đến đâu chỉ cần lên tra là rõ.

“Hiệu quả như vậy, nhưng tại sao lợi ích chưa đến được với người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến và phải hướng dẫn cho nhân dân, cho doanh nghiệp”- ông Hải nêu rõ.

Nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương trên địa bàn cần tập trung tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính.

Không để tiếp diễn việc “Chính quyền điện tử” cơ bản đã hoàn thiện đến các cấp, các ngành, nhiều thủ tục hành chính đã triển khai ở mức độ 3 và 4 (trên môi trường mạng) nhưng đa số người dân vẫn chưa được hưởng lợi. Các huyện, thành phố trực thuộc phải thành lập ngay Ban chỉ đạo Công nghệ thông tin. Thủ trưởng các đơn vị phải tập trung khắc phục ngay các khó khăn, hạn chế. (VOV.vn 14/3, Trần Hiếu)Về đầu trang

EVN Hà Nội tiến tới không thu tiền điện tại nhà dân

Theo Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVN Hà Nội), mục tiêu đặt ra hiện nay là tiến tới sẽ không thu tiền điện tại nhà của các hộ dân. Thay vào đó là triển khai hình thức thu tiền tự động qua ngân hàng, thu hộ qua tổ chức trung gian, giúp giảm được chi phí, tiện lợi cho người dân.

Ông Nguyễn Xuân Thắng, Trưởng Ban Kinh doanh EVN Hà Nội thông tin, hiện Tổng Công ty đã ký kết hợp đồng hợp tác với 17 ngân hàng và 5 tổ chức trung gian thanh toán tiền điện. Đồng thời, EVN Hà Nội cung cấp các hình thức thanh toán tiền điện như: thanh toán trích nợ tự động qua tài khoản ngân hàng của người sử dụng điện và qua tin nhắn thông báo chỉ số công tơ kèm theo số tiền sử dụng trong kỳ thanh toán. Sau đó, ngân hàng chủ động đối soát với EVN Hà Nội và tự động trừ số tiền đó vào tài khoản ngân hàng của người sử dụng điện.

Trưởng Ban Kinh doanh EVN Hà Nội cho biết thêm, việc đa dạng hóa các kênh thanh toán tiền điện giúp người dân chủ động đối với hóa đơn tiền điện, giảm thiểu thời gian và rủi ro khi tham gia thanh toán bằng tiền mặt. Đối với EVN Hà Nội, khi người dân thanh toán tiền điện không bằng tiền mặt cũng giúp tối ưu hóa các khâu sản xuất.

Trong thời gian này, khi chưa thực hiện được tất cả các thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt thì EVN Hà Nội vẫn triển khai song song việc thanh toán tiền điện theo phương thức truyền thống.

Theo EVN Hà Nội, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang lan tỏa mạnh mẽ, đơn vị này còn ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện nhiều loại dịch vụ điện trực tuyến khác.

Hiện nay, EVN Hà Nội đã chính thức công bố 32 dịch vụ điện trực tuyến bao gồm 7 nhóm dịch vụ cơ bản: cấp điện mới, hợp đồng mua bán điện, yêu cầu hệ thống đo đếm, dịch vụ thanh toán tiền điện và dịch vụ tra cứu thông tin, báo sự cố điện, tiếp nhận đăng ký sử dụng dịch vụ của khách hàng. Cuối năm 2018, EVN Hà Nội cũng chính thức công bố dịch vụ điện trực tuyến cấp độ 4 đáp ứng mọi dịch vụ theo yêu cầu của quý khách hàng từ khâu đăng ký, nhận kết quả đến thanh toán 100% thông qua trực tuyến. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 13/3)Về đầu trang

Vĩnh Long đề ra 10 chỉ tiêu trong công tác dân vận chính quyền

Tỉnh Vĩnh Long đề ra bảy nội dung với 10 chỉ tiêu chủ yếu trong công tác dân vận chính quyền năm 2019. Trong đó, tỉnh tập trung đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính trên các lĩnh vực trọng tâm; tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân và giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân; làm tốt công tác thanh tra nhân dân, công tác hòa giải ở cơ sở; khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Ðể đạt mục tiêu đề ra, tỉnh chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Công tác cải cách hành chính được tăng cường, trọng tâm là nâng cao chất lượng công tác tham mưu tổng hợp của các cấp, các ngành và trách nhiệm của người đứng đầu. Công tác tiếp công dân được duy trì thường xuyên, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ, giải quyết kịp thời các yêu cầu của tổ chức, công dân theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, bộ phận "tiếp nhận và trả kết quả". Phong trào thi đua "Dân vận khéo" được các cơ quan nhà nước hưởng ứng tích cực, trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ. (Nhân Dân 14/3, tr2)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Khởi nghiệp mệt mỏi thủ tục hành chính

Báo cáo mới nhất về môi trường kinh doanh 2019 của Ngân hàng Thế giới (WB), khi xếp hạng Chỉ số gia nhập thị trường, đã xếp Việt Nam ở hạng 106/190 thế giới. Đây là mức xếp thuộc loại rất thấp và không có cải thiện nhiều năm nay.  Theo WB, so sánh quốc tế và khu vực, thủ tục thành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanh ở Việt Nam phức tạp, chồng lấn, gây tốn kém về thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

Thí dụ, theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan, doanh nghiệp phải nộp lệ phí 100.000 đồng để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại các phòng đăng ký kinh doanh. Đồng thời doanh nghiệp lại phải làm một thủ tục khác và phải nộp lệ phí 300.000 đồng để công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp tại Cổng Thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia.

Điều đáng nói, cả 2 thủ tục này có nội dung như nhau và đều được tiến hành tại 1 phòng đăng ký kinh doanh, tức doanh nghiệp phải nộp phí 2 lần.  Đối với mỗi doanh nghiệp khoản phí này không đáng kể, nhưng với mỗi năm có khoảng 100.000 doanh nghiệp thành lập mới, khoản nộp thêm cũng lên đến 30 tỷ đồng.

Trào lưu khởi nghiệp, thành lập doanh nghiệp mới, nhất là  khởi nghiệp sáng tạo ở nước ta đã có từ nhiều năm nay, với việc hình thành nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực thương mại điện tử, dạy học trực tuyến… Đặc biệt, năm 2016 được xem là năm “Quốc gia khởi nghiệp” khi Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ và thúc đẩy khởi nghiệp. Tuy nhiên, nhiều thủ tục hành chính đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, khiến doanh nghiệp vuột mất nhiều cơ hội.

Theo khảo sát mới đây của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ), có 73% doanh nghiệp cho rằng rào cản liên quan đến cơ chế chính sách do thủ tục rườm rà, gây mất thời gian; 46% cho rằng do chồng chéo giữa các cơ quan nhà nước; 36% cho rằng do sự thay đổi đột ngột và bất định về chính sách… Chính phủ có hàng loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có cải cách mạnh thủ tục hành chính, nhưng chỉ có 27% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá cao nhóm giải pháp này.

Chính vì rào cản thủ tục hành chính hiện nay, để thành lập, nắm bắt thời cơ, nhanh chóng đi vào hoạt động, doanh nghiệp buộc phải tìm cách đối phó. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp khởi nghiệp đăng ký thành lập doanh nghiệp ở quốc gia khác đã không còn là trường hợp đơn lẻ.

Hoặc các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thường hình thành nhanh chóng, thay đổi vốn góp liên tục, thoái vốn nhanh. Nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động trong một giai đoạn nhất định để đáp ứng nhu cầu của thị trường, của nền kinh tế. Sau đó, doanh nghiệp có thể giải thể và thành lập mới, đầu tư theo hướng khác.

Tốn quá nhiều thời gian, tiền bạc để lo các thủ tục hành chính còn khiến nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp nản lòng. Một con số thống kê cho biết, mỗi năm có khoảng 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp khai sinh. Song con số có thể tồn tại và trụ được trên thương trường chỉ khoảng 10%. Vì sao? Câu trả lời vẫn nằm ở các quy định, chính sách, thủ tục hành chính… những rào cản làm giảm sức cạnh tranh khiến doanh nghiệp khởi nghiệp khó sống.

Vấn đề đặt ra, hầu hết thủ tục liên quan đến nhà nước, đặc biệt là hệ thống hành chính công đều phải có “bôi trơn”, dù là thủ tục nhỏ nhất. Đó là, tư duy gây khó dễ cho người cần mình đã trở thành bệnh của những người có quyền nhận xét, phê chuẩn, thừa nhận, đánh giá, đồng ý hay không đồng ý… đối với người khác.

Tư duy này dẫn đến việc lợi ích của người bị đánh giá, được công nhận hay được thừa nhận, mức độ, cấp độ cao hay thấp phụ thuộc vào người mà Nhà nước trao cho họ thẩm quyền. Và đây chính là gốc rễ, cội nguồn của cơ chế xin-cho, đang hành doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng.

Việc cần làm lúc này là tiếp tục rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hỗ trợ, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính cũng như tháo gỡ các rào cản trong thủ tục hành chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Chỉ khi giảm thiểu chi phí và các yêu cầu tuân thủ theo quy định cũng như trên thực tế, mới thực sự khuyến khích phong trào khởi nghiệp phát triển cả về lượng và chất. (Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính 14/3)Về đầu trang

Giấy phép con tiếp tục được cài cắm

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa bị gọi đích danh là cơ quan làm tăng thêm thủ tục cho doanh nghiệp, làm phức tạp thêm hoạt động thẩm định giá đất, định giá đất. Đáng nói, Bộ Tài chính là đơn vị phát hiện ra điều này.

Trong văn bản gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính cho rằng, quy định hiện hành của Nghị định 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều các nghị định liên quan đến điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên môi trường đã tăng thêm điều kiện hành nghề tư vấn giá đất.

Cụ thể, theo quy định mới, cá nhân có thẻ thẩm định viên về giá muốn hành nghề tư vấn xác định giá đất thì bắt buộc phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa học nghiệp vụ về định giá đất theo chương trình bồi dưỡng về định giá đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Trước đó, chỉ cần có thẻ thẩm định viên về giá hoặc có chứng chỉ định giá bất động sản hoặc chứng chỉ định giá đất là đủ điều kiện hành nghề này.

“Quy định trên không phù hợp với Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; đặc biệt là không phù hợp với chủ trương của Chính phủ hiện nay là cắt giảm và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo ra sự chồng chéo trong các quy định pháp luật về thẩm định giá”, Bộ Tài chính ghi rõ trong văn bản gửi Văn phòng Chính phủ.

Bộ này cũng đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo lại các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực thẩm định giá đất, định giá đất, trình Chính phủ sửa đổi Nghị định 136/2018/NĐ-CP theo hướng không làm tăng thêm thủ tục cho doanh nghiệp, không làm phức tạp thêm đối với hoạt động thẩm định giá đất, định giá đất.

Văn bản của Bộ Tài chính đồng thời được gửi tới Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) để tổng hợp kiến nghị.

Cũng phải nói thêm, không phải bây giờ điều kiện tăng thêm này mới được phát hiện. Tháng 5/2018, trong quá trình góp ý cho Dự thảo Nghị định 136/2018/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã gửi ý kiến trên tới Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng không được tiếp thu, nghiên cứu, xem xét.

Sau hơn 2 năm im ắng khi Thông tư 37/2015/TT-BCT được Bộ Công thương bãi bỏ vào tháng 11/2016, những tranh luận quanh quy định về kiểm tra formaldehyde và các amin thơm với các lô hàng dệt may nhập khẩu nóng trở lại.

Lần này, văn bản được nhắc tới là Thông tư 21/2017/TT-BCT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may. Thông tư này được ban hành thay thế Thông tư 37/2015/TT-BCT.

“Doanh nghiệp nói với chúng tôi là họ tốn kém và chờ đợi hơn trước nhiều”, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - CIEM, cơ quan được giao nhiệm vụ rà soát các văn bản quy phạm liên quan đến điều kiện kinh doanh) cho biết.

Cụ thể, với quy định về phương pháp lấy mẫu phục vụ đánh giá sự phù hợp tại Thông tư 21/2017/TT-BCT, Thông tư 21/2017/TT-BCT chỉ khác Thông tư 37/2015/TT-BCT về thời điểm lấy mẫu là sau thông quan, còn dù doanh nghiệp nhập một mã hàng, chia thành 2 lô nhập về 2 cảng khác nhau, thì việc lấy mẫu sẽ vẫn thực hiện ở cả 2 lô. Nhưng Thông tư 21/2017/TT-BCT tạo thêm chi phí và thời gian tuân thủ vì các kết quả lấy mẫu sẽ được sử dụng để làm thủ tục về hợp quy, để có được tem QR dán trên sản phẩm.

“Doanh nghiệp không chỉ mất chi phí kiểm tra mẫu, mà còn chi phí in tem QR. Tem QR thì chỉ in khi có kết quả kiểm tra theo lô. Thời gian chờ đợi để có kết quả hợp quy khoảng 15 - 20 ngày. Chúng tôi đang tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp để có tính toán chi tiết”, bà Thảo phân tích.

Trước đó, tại Hội nghị tổng kết năm 2018, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) kiến nghị Bộ Công thương tiếp tục ngừng áp dụng Thông tư 21/2017/TT-BCT do tốn nhiều thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã nói, chi phí họ phải bỏ ra gấp 3 lần so với trước đây.

Nhưng Bộ Công thương không đồng tình. Ngày 24/1/2019, Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công thương) đã công bố trên trang thông tin chính thức của Bộ lý do phải thực hiện quy định này là để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và khẳng định quy định này không phát sinh các thủ tục hành chính do các cơ quan quản lý nhà nước không trực tiếp tác động vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Bà Thảo cho rằng, Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công thương) cần phân tích các kiến nghị của doanh nghiệp trong việc thực thi Thông tư 21/2017/TT-BCT trên góc độ là người tuân thủ. “Giả sử chỉ yêu cầu lấy mẫu theo mã, loại sản phẩm, thay vì lô hàng nhập khẩu, chi phí đã giảm đi đáng kể. Có bao giờ Vụ suy nghĩ theo hướng này không?”, bà Thảo nói.

Phải nhắc lại, một trong những lý do Thông tư 37/2015/TT-BCT bị đề nghị bãi bỏ là doanh nghiệp đã phải trả chi phí hàng trăm tỷ đồng cho việc kiểm tra và thời gian thông quan hàng hoá kéo dài, nhưng chỉ có một tỷ lệ không đáng kể lô hàng không đạt hàm lượng quy định trong thời gian thực hiện quy định này. (Đầu Tư Chứng Khoán 14/3, Khánh An)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Phải xây dựng định mức mới được tiếp nhận xe ô tô chuyên dùng

Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để hướng dẫn về việc điều chuyển xe ô tô chuyên dùng phục vụ công tác của cơ quan này.

xe công

Theo đó, Văn phòng Chính phủ thống nhất chủ trương thực hiện điều chuyển 1 chiếc xe Land Cruiser V8, biển số 80A-36869 từ Văn phòng Chính phủ sang Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm xe chuyên dùng phục vụ công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và phòng, chống thiên tai, cứu trợ người nghèo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Bộ Tài chính cho biết, đề xuất của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tiếp nhận chiếc xe trên là loại ô tô chuyên dùng khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù theo quy định tại Khoản 7 Điều 17 Nghị định 04/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô. Thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô chuyên dùng khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về đối tượng sử dụng, chủng loại, số lượng, mức giá tối đa.

Để có cơ sở xem xét, quyết định việc điều chuyển theo quy định của pháp luật, Bộ Tài chính đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng định mức sử dụng xe ô tô chuyên dùng khác phục vụ nhiệm vụ đặc thù theo quy định tại Khoản 7 Điều 17 Nghị định 04/2019/NĐ-CP của Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về đối tượng sử dụng, chủng loại, số lượng, mức giá tối đa trước khi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định áp dụng. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 13/3, Minh Anh)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH 

Sắp xếp để phát triển

Những nguyên tắc, khung pháp lý, quy định cụ thể cho việc sáp nhập, sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, xã không đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và dân số ở giai đoạn 2019 - 2021 vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa bằng một Nghị quyết. Đây là bước khởi đầu cho một công việc quan trọng, phức tạp và nhạy cảm, nhưng lại cần thiết.

Dựa trên tiêu chuẩn quy định tại Nghị quyết số 1211 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính, như tính toán được đưa ra, ngay trong năm 2019, sẽ cơ bản hoàn thành việc sáp nhập, sắp xếp 16 quận, huyện và 631 phường, xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và dân số.

Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy, chia tách, sáp nhập đơn vị hành chính các cấp có lẽ không phải là câu chuyện mới. Nhưng một con số đáng suy ngẫm đã được đưa ra là trong vòng 30 năm, số đơn vị hành chính cấp huyện đã tăng từ 431 lên 713; cấp xã cũng tăng thêm 1.505 đơn vị.

Số đơn vị tăng thêm, đồng nghĩa với ngân sách cũng thêm gánh nặng cho xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị làm việc và chi thường xuyên. Chưa kể đến việc, nhiều địa bàn dù diện tích rộng, nhưng dân số lại quá ít, vẫn phải có đầy đủ bộ máy, hệ thống hạ tầng an sinh mà nhiều khi “không dùng hết”, dẫn đến lãng phí.

Ngược lại, lại có những địa bàn hiện nay do sự phát triển ồ ạt của chung cư cao tầng, dẫn đến dân số phát triển chóng mặt, nhưng diện tích hạ tầng lại chưa thể gánh nổi, chuyện thiếu trường, thiếu lớp… đang là hệ lụy.

Hơn nữa, số đơn vị hành chính chỉ lớn về số lượng, nhưng không đủ tiêu chuẩn cũng gây ra những khó khăn trong công tác lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn, làm cho không gian bị chia cắt, manh mún, phân tán các nguồn lực.

Do lịch sử để lại, thực tế cũng có không ít những địa bàn, cùng một khu đất, cùng một tòa nhà nhưng mỗi góc lại chịu sự quản lý của một đơn vị hành chính, gây khó trong quản lý.

Mục đích của việc sắp xếp, sáp nhập lần này được kỳ vọng là nhằm khắc phục các hạn chế phát sinh từ thực tiễn, để tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương, giảm bớt gánh nặng của ngân sách Nhà nước.

Đồng thời, cũng để tập trung nguồn lực, khuyến khích tăng quy mô ở những nơi đủ điều kiện. “Sắp xếp để phát triển chứ không phải sắp xếp để yếu đi hay gây khó khăn hơn” như Chính phủ đã khẳng định.

Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhận định, sắp xếp, sáp nhập các huyện, xã là một việc quan trọng, phức tạp, cần những lộ trình bước đi phù hợp, không phải là bài toán cơ học máy móc.

Bởi thế, Nghị quyết lần này ngoài quy định về chế độ sắp xếp, kiện toàn bộ máy, chính sách…, cũng đã nhấn mạnh đến những yếu tố đặc thù - vốn là vấn đề gây tranh luận nhiều khi bài toán sắp xếp đơn vị hành chính được đặt ra.

Như vậy, có thể nói việc sắp xếp, sáp nhập theo quan điểm là phải thực hiện đúng tiêu chuẩn song cũng đảm bảo tính linh hoạt cho từng địa phương khi tính đến đặc điểm địa lý, truyền thống lịch sử, văn hóa, yêu cầu đảm bảo quốc phòng an ninh, kinh tế - xã hội…

Việc sắp xếp, sáp nhập là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, dù đã có những nguyên tắc cụ thể và “dự liệu” những vấn đề phát sinh, kể cả việc "tranh thủ bổ nhiệm cán bộ", nhưng cũng cần tính được hết các yếu tố thực tiễn và đảm bảo tính ổn định, lâu dài, không thể thực hiện kiểu khắc nhập - khắc xuất tùy theo chủ quan.

Đặc biệt, sáp nhập hay chia tách cũng cần chú trọng tới quy hoạch các vùng liên kết giữa các đơn vị hành chính, thể hiện rõ xu hướng hợp tác, thay vì xu hướng chia tách hay sáp nhập cơ hữu. Đó là vấn đề nhiều người đặt ra. (Kinh Tế & Đô Thị 14/3, Trần Hà)Về đầu trang

Nhiều văn bản quy phạm lạc lõng

Mới đây, dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về nước mắm do Cục Chế biến & Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) soạn thảo phải tạm dừng thẩm định và 2 thông tư của Bộ TN&MT vừa ban hành phải ngưng hiệu lực thi hành một số quy định do chưa phù hợp với thực tiễn... Đây cũng là tình trạng chung của nhiều văn bản sai sót về thẩm quyền, nội dung phải xử lý.

Trước tình trạng phế liệu nhập khẩu tồn đọng tại các cảng biển tăng đột biến, ngày 14/9/2018, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 08 và Thông tư số 09 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Kèm 2 thông tư này là 6 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng cho 6 loại phế liệu nhập khẩu gồm sắt thép, giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại màu và xỉ hạt lò cao. Trong đó quy định, cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng các phế liệu nhập khẩu kể trên là Sở TN&MT nơi có nhà máy, cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.

Quy định trên sau khi ban hành đã vấp phải ý kiến phản ứng của DN do chồng chéo với quy định khác, kéo dài thêm thời gian thông quan với các lô hàng phế liệu nhập khẩu. Trước bất cập trên, Văn phòng Chính phủ có công văn yêu cầu Bộ trưởng Bộ TN&MT ban hành Thông tư bãi bỏ những nội dung bất cập để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN.

Ngày 8/3/2019, hơn 4 tháng sau ngày 2 Thông tư 08 và 09 có hiệu lực, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư 01/2019/TT-BTNMT quy định ngưng hiệu lực thi hành một số quy định của 2 thông tư trên. Như vậy, với thông tư mới, một phần của Thông tư 08 và 09 đã phải bãi bỏ.

Trong khi đó, dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN-12607:2019 về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm do Cục Chế biến & Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) soạn thảo đã bị các DN sản xuất nước mắm truyền thống phản đối. Nhiều tổ chức đại diện cho ngành sản xuất nước mắm truyền thống đã có văn bản kiến nghị gửi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc xây dựng dự thảo này. Các ý kiến cho rằng những tiêu chuẩn đưa ra trong dự thảo không hợp lý, gây khó khăn, thậm chí triệt tiêu nước mắm truyền thống.

Qua kiểm tra, rà soát, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Đồng Ngọc Ba cho biết, tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật vẫn còn nhiều. Trong khi đó, việc xử lý một số văn bản trái pháp luật, nhất là khắc phục hậu quả, xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật còn hạn chế, vướng mắc.

“Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ ưu tiên kiểm tra các văn bản tác động trực tiếp đến người dân, DN, môi trường đầu tư, kinh doanh, tiến tới hoàn thành việc kiểm tra ngay sau khi ban hành và trước thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản” - ông Ba khẳng định.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân của tình trạng này là do trình độ của cán bộ tham mưu ban hành văn bản của một số cơ quan còn hạn chế, nhiều đề xuất ban hành không xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, không phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành chưa thực hiện nghiêm một số quy định của Luật Ban hành VBQPPL về trình tự, thủ tục xây dựng, đặc biệt là việc đánh giá tác động, tổng kết thực tiễn; công tác kiểm tra, xử lý vi phạm chưa kịp thời... Do đó, để nâng cao chất lượng VBQPPL trong thời gian tới, cần quan tâm đúng mức đến nguồn nhân lực trong quá trình xây dựng VBQPPL, coi đây là khâu then chốt; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật.

Năm 2018, Cục Kiểm tra VBQPPL (Bộ Tư pháp) đã kiểm tra 5.557 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương; phát hiện và kết luận kiểm tra đối với 84 văn bản sai về thẩm quyền, nội dung, 52/84 văn bản đã được xử lý; 32 văn bản chưa xử lý (trong đó có 21 văn bản trong thời hạn xử lý). (Kinh Tế & Đô Thị 14/3, Phương Nguyễn)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.040.578 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này