Bản tin cải cách hành chính ngày 04/2/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Sắp xếp các đơn vị hành chính một số địa phương thuộc vùng Tây Bắc

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Bắc Từ Liêm; Hà Nội: Đột phá trong ứng dụng công nghệ thông tin

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng: Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

4. Công chức chỉ được biệt phái không quá 3 năm

5. Cắt giảm chứng chỉ ngoại ngữ, tin học khi tuyển công chức, viên chức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2020: Tiếp tục mở đường cho cải cách

7. Giảm biên chế, tăng tiền lương

TIN THẾ GIỚI

8. Quốc hội mới của Peru cần ưu tiên cải cách chống tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Sắp xếp các đơn vị hành chính một số địa phương thuộc vùng Tây Bắc

Sau khi sắp xếp, thành phố Lai Châu có 7 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 5 phường và 2 xã. Trong khi đó, thành phố Yên Bái điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số một số xã.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính một số địa phương thuộc cùng Tây Bắc như: Lai Châu, Yên Bái.

Theo Nghị quyết số 866/NQ-UBTVQH14, tỉnh Lai Châu điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Sùng Phài, huyện Tam Đường vào thành phố Lai Châu; điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Nậm Loỏng, thành phố Lai Châu vào xã Sùng Phài, thành phố Lai Châu. Sau khi sắp xếp, thành phố Lai Châu có 7 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 5 phường và 2 xã. Huyện Tam Đường có 13 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 12 xã và 1 thị trấn.

Huyện Phong Thổ sau khi điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Ma Li Chải, xã Sì Lở Lầu, có 17 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 xã và 1 thị trấn.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/2/2020. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, tỉnh Lai Châu có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 7 huyện và 1 thành phố; 106 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 94 xã, 5 phường và 7 thị trấn.

Theo Nghị quyết số 870/NQ-UBTVQH14, tỉnh Yên Bái điều chỉnh diện tích tự nhiên và dân số của các xã Phù Nham, Sơn A, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Thạch Lương, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ thuộc huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ.

Thị xã Nghĩa Lộ thành lập xã Nghĩa Lộ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ.

Huyện Văn Chấn thành lập thị trấn Sơn Thịnh trên cơ sở diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Sơn Thịnh. Sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính, thị xã Nghĩa Lộ có 14 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 4 phường và 10 xã. Sau khi điều chỉnh, huyện Văn Chấn có 24 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 21 xã và 3 thị trấn.

Thành phố Yên Bái điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Văn Tiến, xã Văn Phú, xã Phúc Lộc, xã Giới Phiên. Sau khi sắp xếp, thành phố Yên Bái có 15 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 phường và 6 xã.

Huyện Yên Bình điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Tích Cốc, xã Cảm Nhân, xã Văn Lãng, xã Phú Thịnh. Sau khi sắp xếp, huyện Yên Bình có 24 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 22 xã và 2 thị trấn.

Huyện Văn Yên điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Hoàng Thắng, xã Xuân Ái, xã Yên Hưng, xã Yên Thái. Sau khi sắp xếp, huyện Văn Yên có 25 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 24 xã và 1 thị trấn.

Huyện Trấn Yên điều chỉnh diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Minh Tiến, xã Y Can. Sau khi sắp xếp, huyện Trấn Yên có 21 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 20 xã và 1 thị trấn.

Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 1/2/2020. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, tỉnh Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 7 huyện, 01 thị xã và 1 thành phố; 173 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 150 xã, 13 phường và 10 thị trấn./. (VietnamPlus.vn 4/2, PV) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Bắc Từ Liêm; Hà Nội: Đột phá trong ứng dụng công nghệ thông tin

Với phương châm ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là khâu đột phá, thời gian qua, các phường trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm đã phát huy hiệu quả, đẩy mạnh cải cách hành chính (CCHC), chỉ đạo ứng dụng CNTT trong thực hiện, giải quyết công việc.

Là một công chức Văn phòng - Thống kê được giao nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, anh Nguyễn Xuân Đông đã chủ động, sáng tạo làm tờ rơi hướng dẫn công dân đăng nhập các dịch vụ công (DVC) trực tuyến thuộc lĩnh vực Tư pháp. Trong tờ rơi có đường dẫn để đăng nhập cụ thể, các thủ tục đều được hướng dẫn tệp tin đính kèm, có hòm thư phục vụ công dân… được người dân thường xuyên áp dụng và đánh giá tốt. Từ năm 2017 đến nay, phường Minh Khai đã phát 1.700 tờ rơi cho công dân, các tổ dân phố (TDP)… "Qua đó, năm 2019, phường đã tiếp nhận 928 hồ sơ trực tuyến mức độ 3, 4; tỷ lệ các công dân nộp hồ sơ trực tuyến tại nhà đạt 88%, có lĩnh vực đạt trên 90%" - anh Đông chia sẻ.

Phó Chủ tịch UBND phường Minh Khai Hoàng Thị Chiên cho biết, xác định DVC trực tuyến mức độ 3, 4 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác CCHC, thời gian qua, phường đã phát huy hiệu quả lĩnh vực này thông qua nhiều hoạt động. Trong đó, phường đã đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, duy trì tập huấn, hướng dẫn thực hiện đăng ký DVC trực tuyến mức độ 3, 4 nhằm phục vụ công dân đăng ký tại nhà.

Nhờ đó, nhận thức của Nhân dân về việc tham gia và thực hiện DVC mức độ 3, 4 ngày càng tốt hơn. Năm 2019, phường thực hiện tốt phần mềm dung chung 3 cấp của TP với tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 100%, tỷ lệ các công dân nộp hồ sơ trực tuyến tại nhà đạt 80%. “DVC trực tuyến đem lại rất nhiều lợi ích cho công dân tham gia và cho cán bộ thực hiện dịch vụ như giảm thời gian, giảm đi lại khi đăng ký cho công dân, giảm áp lực tiếp nhận hồ sơ cho cán bộ công chức”- Phó Chủ tịch UBND phường Minh Khai nhấn mạnh.

Nhờ chú trọng việc trao đổi, thực hiện nhiệm vụ qua các phần mềm công nghệ tiện lợi như zalo, các nhóm chát…, phường Xuân Tảo đã lập được 12 nhóm công việc, trao đổi và gửi nhận hàng nghìn văn bản. Kết quả đã triển khai việc thực hiện các nhiệm vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện. Do đó, trong năm 2019, phường tiếp nhận và giải quyết 610 hồ sơ DVC mức độ 3, 4, 100% hồ sơ được đăng ký trực tuyến. Trong đó, hồ sơ công dân đăng ký trực tuyến tại nhà là 519 hồ sơ, đạt tỷ lệ trên 85% (tăng 25% so với năm 2018), 100% hồ sơ trực tuyến được giải quyết và thực hiện trên phần mềm đúng hạn và trước hạn.

Ngoài ra, phường đã đăng ký và tích cực xã hội hóa nhằm xây dựng thêm một TDP điện tử tại nhà văn hóa TDP số 3, phường Xuân Tảo (hiện nay đã có 2 TDP điện tử). Thời gian tới, phường tiếp tục nghiên cứu và đẩy mạnh công tác xã hội hóa xây dựng thêm 2 TDP điện tử, đặc biệt là các chung cư trên địa bàn phường.

Tuy nhiên, đại diện các phường cho rằng, đến nay, còn nhiều công dân gặp khó khăn khi tiếp cận và thực hiện vì DVC đòi hỏi cần có kiến thức nhất định về CNTT. Trong khi, nhiều công dân đăng nhập thông tin chưa chính xác, việc scan các bản chính đính kèm hồ sơ còn thiếu. Đội ngũ tình nguyện viên còn đi học, đi làm nên hạn chế về thời gian để hướng dẫn công dân nhập hồ sơ tại nhà, nhất là vào buổi tối.

Để phát huy hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong đẩy mạnh CCHC, các phường đề xuất quận Bắc Từ Liêm tiếp tục tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp Nhân dân về thực hiện DVC trực tuyến mức độ 3, 4 qua nhiều hình thức. Đặc biệt, hệ thống mạng và hệ thống phần mềm cần bảo đảm thông suốt để công chức và công dân tham gia thực hiện, xử lý một cách dễ dàng đạt hiệu quả. Phường cũng đề nghị sớm có cơ sở dữ liệu quốc gia về tất cả các lĩnh vực DVC trực tuyến để đảm bảo việc khai thác kịp thời và đồng bộ…

Bên cạnh đó, theo các phường, hàng quý tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao trình độ, kỹ năng quản trị mạng, an ninh thông tin và an toàn hệ thống mạng cho cán bộ, công chức chuyên môn và cán bộ phụ trách CNTT. Ngoài ra, cần có quy định cụ thể để bố trí kinh phí hỗ trợ cho cán bộ kiêm nhiệm CNTT tại các phường. (Kinhtedothi.vn 4/2, Trần Thảo) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng: Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững

Những nỗ lực cải cách hành chính, xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp… đã giúp TP. Hải Phòng thu hút đầu tư khởi sắc, tiếp tục là sự lựa chọn của nhiều nhà đầu tư, tập đoàn kinh tế lớn trong nước và nước ngoài.

Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, với chủ đề “Tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách - đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh”, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của TP. Hải Phòng năm 2019 là tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bằng những giải pháp thiết thực, cách làm sáng tạo.

Việc tổ chức đối thoại định kỳ hàng tháng giữa chính quyền Thành phố với các doanh nghiệp là giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm hướng dẫn, giải đáp cơ chế, kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo sự thân thiện và hài lòng của các doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý nhà nước.

Trong năm vừa qua, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng đã tham mưu để UBND Thành phố tổ chức 8 kỳ hội nghị đối thoại doanh nghiệp cấp thành phố. Tại các hội nghị này, đã có 19/28 kiến nghị được giải quyết triệt để (67,86%); 9/28 kiến nghị đang được giải quyết. Đây là kênh thông tin rất quan trọng để lãnh đạo Thành phố, các cơ quan quản lý nhà nước trao đổi, kịp thời nắm bắt tâm tư, giải quyết các vướng mắc, đề xuất, kiến nghị của doanh nghiệp.

Các kiến nghị liên quan đến lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, đất đai, cấp giấy phép kinh doanh, xây dựng đường giao thông... đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng cùng các cơ quan liên quan tham mưu UBND Thành phố giải quyết, tháo gỡ, được doanh nghiệp ghi nhận.

Có thể nói, việc tạo điều kiện, giải quyết các vướng mắc thông qua các cuộc tọa đàm, đối thoại đã giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) của Hải Phòng ước đạt 16,5% (kế hoạch tăng 15,5% trở lên), cao nhất từ trước đến nay, đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Thành phố. Theo mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hải Phòng lần thứ XV đã đề ra, quy mô GRDP (theo giá so sánh) đến năm 2020 sẽ đạt khoảng 170.000 tỷ đồng. Với mức tăng trưởng 16,5% của năm 2019, ước tính đến cuối năm 2019, quy mô GRDP (theo giá so sánh) của Thành phố đã đạt 179.846 tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2020, hoàn thành mục tiêu Đại hội trước 1 năm.

Các hoạt động xúc tiến đầu tư được triển khai có trọng tâm, trọng điểm bằng nhiều hình thức đa dạng đã góp phần quan trọng vào kết quả khởi sắc trong thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài của Hải Phòng trong năm 2019. Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng đã tiếp và làm việc với 15 đoàn nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc tìm hiểu cơ hội đầu tư tại địa phương; chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư - thương mại Việt Nam - Nhật Bản năm 2019.

Đồng thời, Sở đặc biệt chú trọng công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ thông qua hoạt động của Tổ Công tác Nhật Bản, Hàn Quốc và các hoạt động quản lý dự án FDI đã được cấp phép, đang hoạt động.

Ông Trần Việt Tuấn, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng cho biết, với định hướng phát triển mạnh các thành phần kinh tế để tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, trong thời gian tới, Thành phố tiếp tục thu hút các nguồn lực cả trong nước và nước ngoài. Trong đó, ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, chế biến nông sản, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao và tỷ trọng xuất khẩu lớn; các ngành có ý nghĩa về an sinh xã hội, bảo đảm môi trường và an ninh quốc gia. Đồng thời, chú trọng các ngành nghề đón đầu cách mạng công nghiệp 4.0 như công nghiệp ICT, kỹ thuật số, kỹ thuật nano, công nghiệp sinh học, vật liệu mới...

Bên cạnh đó, Thành phố sẽ tập trung nắm bắt cơ hội thu hút dòng đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ; chủ động đổi mới, đa dạng hóa các nội dung hoạt động xúc tiến đầu tư; nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ cùng với việc tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

“Đối với doanh nghiệp, thì thời gian chính là chi phí; cắt giảm được thời gian giải quyết thủ tục hành chính đối với các doanh nghiệp cũng đồng thời là cắt giảm chi phí gia nhập thị trường cho doanh nghiệp”, ông Tuấn khẳng định.

Với nỗ lực cải cách hành chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường của Hải Phòng, trong năm 2019, trên địa bàn Thành phố đã có 2.893 doanh nghiệp thành lập mới, tổng vốn đăng ký 21.811,1 tỷ đồng. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,62 tỷ đồng, tăng 4,72% so với năm 2018. Bên cạnh đó, có 1.367 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động.

Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hải Phòng cũng đã tiếp nhận, giải quyết tổng số 17.406 hồ sơ. Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thành lập và hoạt động của doanh nghiệp đã đảm bảo thực hiện trực tuyến mức độ 4; thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập mới doanh nghiệp là 1,78 ngày làm việc; thời gian trung bình đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp là 1,39 ngày làm việc, rút ngắn hơn nhiều so với quy định. Ngoài ra, Sở đã thực hiện 1.774 lượt rà soát và yêu cầu giải trình đối với doanh nghiệp, thu hồi 862 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Các nhiệm vụ công tác cải cách hành chính của Sở đã hoàn thành đúng kế hoạch, đảm bảo các yêu cầu nhiệm vụ cải cách hành chính của Thành phố và của cơ quan. Các thủ tục hành chính rà soát, điều chỉnh kịp thời niêm yết đầy đủ để phục vụ tổ chức, công dân, doanh nghiệp.

Đặc biệt, trong năm 2019, Sở đã phối hợp các ngành, đơn vị liên quan dự thảo Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, đã được Chính phủ ban hành tại Nghị quyết số 108/NQ-CP ngày 26/11/2019.

Để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng, hiện đại, chuyên nghiệp và thân thiện, bên cạnh việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ, Sở sẽ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong đăng ký, quản lý doanh nghiệp sau đăng ký và hỗ trợ doanh nghiệp.

Ông Trần Việt Tuấn nhấn mạnh: “Việc giải quyết thủ tục hành chính của tổ chức, công dân, doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không bị chậm, rút ngắn thời gian đã góp phần tạo điều kiện để các tổ chức, công dân, doanh nghiệp nhanh chóng triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội Thành phố. Sở sẽ tiếp tục thực hiện xúc tiến đầu tư chuyên nghiệp, ưu tiên thu hút dự án có hàm lượng công nghệ cao, khuyến khích áp dụng hình thức đầu tư theo mô hình hợp tác công tư để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng của TP. Hải Phòng”. (Baodautu.vn 3/2, Thanh Sơn) Về đầu trang 

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Công chức chỉ được biệt phái không quá 3 năm

Cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý công chức chỉ được biệt phái công chức trong 2 trường hợp với thời hạn tối đa là 3 năm. Hết thời hạn này phải bố trí công việc phù hợp cho công chức.

Theo yêu cầu nhiệm vụ, công chức (CC) được cử biệt phái đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác. Khoản 12, điều 7 Luật Cán bộ,CC nêu rõ: Biệt phái là việc CC của cơ quan, tổ chức, đơn vị này được cử đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ.

Ngoài ra, tại điều 27 Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ cũng nêu rõ, việc biệt phái CC được thực hiện trong các trường hợp sau: Theo nhiệm vụ đột xuất, cấp bách; Để thực hiện công việc chỉ cần giải quyết trong một thời gian nhất định.

Biệt phái công chức trong các trường hợp: Theo nhiệm vụ đột xuất, cấp bách; Để thực hiện công việc chỉ cần giải quyết trong một thời gian nhất định

Từ các căn cứ trên có thể thấy, CC sẽ bị biệt phái trong 2 trường hợp: Do yêu cầu của nhiệm vụ, cụ thể là trong các trường hợp đột xuất, cấp bách và khi phải thực hiện một công việc cụ thể chỉ cần một khoảng thời gian nhất định.

Trong thời gian bị biệt phái này, mặc dù CC phải chịu sự phân công, bố trí, đánh giá, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được cử đến biệt phái nhưng vẫn thuộc biên chế của đơn vị ban đầu.

Việc biệt phái CC chỉ nhằm thực hiện công việc trong một thời gian nhất định nên theo quy định tại Luật Cán bộ, CC và Nghị định 24, khoảng thời gian này là không quá 3 năm trừ một số ngành, lĩnh vực đặc thù do Chính phủ quy định. Khi hết thời hạn biệt phái, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý CC phải có trách nhiệm trả lương, bố trí công việc phù hợp và bảo đảm các quyền lợi khác cho các đối tượng này.

Đồng thời, trong thời gian biệt phái, CC sẽ được hưởng một số chính sách như: Được thuê nhà ở công vụ do Nhà nước đầu tư xây dựng; Được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định tại Nghị định 76/2019/NĐ-CP nếu biệt phái đến miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Đặc biệt, sẽ không thực hiện biệt phái với 4 đối tượng CC đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật; Đang bị điều tra, truy tố, xét xử; Đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. (Nld.com.vn 4/2, H.Lê) Về đầu trang

Cắt giảm chứng chỉ ngoại ngữ, tin học khi tuyển công chức, viên chức

Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân vừa ký Quyết định số 69/QĐ-BNV, ban hành kế hoạch xây dựng các nghị định nhằm quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, bảo đảm tiến độ, chất lượng, có hiệu lực thi hành cùng với hiệu lực thi hành của Luật (01/7/2020).

Theo đó, việc xây dựng các nghị định phải bảo đảm đồng bộ với các quy định của Đảng về tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đánh giá, kỷ luật... đối với cán bộ, công chức, viên chức. Kế thừa quy định còn phù hợp, bổ sung những nội dung mới, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống văn bản quy định trong lĩnh vực cán bộ, công chức, viên chức.

Đồng thời, tích hợp các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao. Thu gọn đầu mối các văn bản quy định trong lĩnh vực cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm thuận lợi trong quá trình thực hiện; giảm thiểu thủ tục hành chính, văn bằng, chứng chỉ; giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện, đặc biệt là các chính sách ưu đãi đối với người dân tộc thiểu số.

Trong đó, Nghị định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức sẽ rà soát và quy định nhằm bảo đảm việc giảm thiểu quy định về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong điều kiện tuyển dụng, nâng ngạch công chức; cải cách và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong tuyển dụng, nâng ngạch; rà soát, bổ sung các quy định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức vụ đối với công chức lãnh đạo, quản lý để bảo đảm phù hợp với quy định mới của Đảng về công tác cán bộ; quy định chi tiết các chính sách ưu đãi đối với người dân tộc thiểu số.

Về Nghị định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức cũng được thay thế, cũng được rà soát và quy định nhằm bảo đảm việc giảm thiểu quy định về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong điều kiện tuyển dụng, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; cải cách và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong tuyển dụng, nâng ngạch; quy định chi tiết các chính sách ưu đãi đối với người dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, các Nghị định về đánh giá và phân loại cũng như việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức cũng được sửa đổi thay thế cho phù hợp với tinh thần của luật đã được sửa đổi.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thiện dự thảo Tờ trình, dự thảo Nghị định và các tài liệu liên quan sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, trình Chính phủ trong tháng 4/2020. (Tienphong.vn 4/2, Luân Dũng) Về đầu trang  

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2020: Tiếp tục mở đường cho cải cách

Nghị quyết 02/2020 về cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia sẽ tiếp tục mở đường cho các chương trình cải cách của Việt Nam để môi trường kinh doanh đạt chuẩn quốc tế.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

Đây là năm thứ 7 liên tiếp Chính phủ ban hành Nghị quyết về cắt giảm điều kiện kinh doanh, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Năm 2014 lần đầu tiên Chính phủ ban hành Nghị quyết 19/2014 về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Kể từ đây, vấn đề cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu.

Có thể nói, giai đoạn từ 2014 đến 2018, Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chỉ trong 5 năm, Việt Nam đã tăng 30 bậc về năng lực cạnh tranh. Nhưng như nhận định của nhiều chuyên gia thì môi trường kinh doanh Việt Nam mới chỉ chỉ đang được cải thiện hơn so với chính mình mà thôi.

Nói như Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc, "môi trường kinh doanh Việt Nam vẫn đang ở mức trung bình của thế giới, năng lực cạnh tranh trong ASEAN chưa vào top 4. Nếu chừng nào chúng ta còn hài lòng với thể chế trung bình thì không thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình, phải là thể chế vượt trội”, TS Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh rằng: “Việt Nam phải vượt ít nhất 42 bậc nữa để có thể bước vào nhóm 4 ASEAN. Đó là một hành trình gian nan”.

Đồng thời, trong năm 2019, hầu hết các bộ đều đã ban hành được Nghị định về cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mình quản lý. Các điều kiện đầu tư kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hoá của nhiều bộ vượt mức 50%.

Những nỗ lực này, theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhận định đã mang lại hiệu quả khá tích cực và được các doanh nghiệp phản ánh ngay qua các kết quả điều tra. Nếu như năm 2017 có 58% doanh nghiệp phải xin giấy phép kinh doanh có điều kiện thì năm 2018 đã giảm xuống chỉ còn 48%. Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết họ gặp khó khăn khi xin giấy phép cũng giảm từ 42% xuống còn 34%.

“Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận thì với 48% doanh nghiệp phải xin giấy phép kinh doanh vẫn ở mức cao. Vì nếu nhân con số này với hơn 714 nghìn doanh nghiệp hiện nay thì tức là có đến gần 350 nghìn doanh nghiệp vẫn phải xin một loại giấy phép con nào đó”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Nỗ lực là điều không thể phủ nhận song ở tại nhiều nơi, doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Báo cáo “Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2019” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố mới đây cho thấy, quy định pháp luật kinh doanh còn nhiều chồng chéo, khiến doanh nghiệp “không biết đường nào mà lần”.

Nói như ông Bùi Văn Khắng, Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh: “Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc tiếp cận đất đai vô cùng khó. Các chính sách liên quan đến đất đai tồn tại trong các luật như Luật Đất đai, Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng còn nhiều chồng chéo, làm khó doanh nghiệp”.

Các chuyên gia cho rằng, những xung đột này sẽ khiến doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính trùng lặp, đi lại mất nhiều thời gian, nộp nhiều loại hồ sơ giống nhau cho các cơ quan nhà nước khác nhau khiến chi phí tốn kém. Đặc biệt, trong quá trình thực thi, doanh nghiệp phải tiếp nhiều đoàn thanh kiểm tra, mà nhiều doanh nghiệp cho biết “kiểu gì cũng sai”… dẫn đến rủi ro cao về vi phạm pháp luật.

Hiểu rõ vấn đề này nên Nghị quyết 02/2020 về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh năm nay đã đặt ra những mục tiêu cụ thể, dài hơi cho môi trường kinh doanh.

Bình luận về nội dung Nghị quyết 02/2020, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng nói rằng: Ở Nghị quyết này, Chính phủ đã quyết liệt hơn, thể hiện ở chỗ các mục tiêu đặt ra cao hơn, các giải pháp đi vào cụ thể hơn.

Theo đó, năm 2020, phấn đấu môi trường kinh doanh theo xếp hạng EoDB (của Ngân hàng Thế giới - WB) lên 10 bậc; năng lực cạnh tranh theo xếp hạng GCI 4.0 (của Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF) lên 5 bậc; đổi mới sáng tạo theo xếp hạng GII (của Tổ chức Sở  hữu Trí tuệ Thế giới - WIPO) lên 3 - 4 bậc; Chính phủ điện tử (của Liên hợp quốc - UN) lên 10 - 15 bậc.

Nghị quyết nêu rõ, 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020: Tiếp tục cải thiện điểm số và thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh; Cải cách thực chất các các quy định về điều kiện kinh doanh; Tiếp tục cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành và kết nối Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN;  Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4; Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

“Đây là những cải cách phải làm thường xuyên liên tục, nếu dừng lại sẽ lại nảy sinh những vướng mắc mới, rào cản mới”, TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Trong đó phải tiếp tục cải thiện thứ hạng các chỉ số môi trường kinh doanh, cải cách thực chất các các quy định về điều kiện kinh doanh. Cắt giảm thực chất 50% số mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành.

"Phải tiếp tục cắt giảm 50% mặt hàng kiểm tra chuyên ngành theo mã HS chi tiết chứ không phải theo mã HS chuyên ngành. Đồng thời, chuyển mạnh sang kiểm soát rủi ro thay vì kiểm tra trước thông quan", ông Cung lưu ý.

Ông Cung cũng kỳ vọng, việc thực hiện Nghị quyết 02 với những chỉ tiêu cao, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đặt ra với sự thực hiện nghiêm túc của các bộ, ngành và địa phương thì năm 2020 sẽ có những bước tiến mạnh mẽ. (Enternews.vn 4/2, Huyền Trang) Về đầu trang

Giảm biên chế, tăng tiền lương

Trong bối cảnh quỹ lương hạn hẹp, ngân sách khó khăn, để thực sự nâng cao tiền lương, thu nhập cho công chức, viên chức, cũng phải thực hiện quyết liệt mục tiêu sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế theo Nghị quyết 18-NQ/TW về tinh giản biên chế...

Kể từ ngày 1-7, mức lương cơ sở dành cho cán bộ, công chức, viên chức sẽ được điều chỉnh tăng thêm 7,38%.

Cụ thể, theo Nghị quyết 86/2019/QH14 về tăng lương cơ sở mà Quốc hội vừa thông qua thì từ ngày 1-7, lương cơ sở sẽ tăng từ 1,49 triệu đồng/tháng (hiện nay) lên 1,6 triệu đồng/tháng. Không chỉ lương mà phụ cấp được tính theo mức lương cơ sở của các đối tượng công chức cũng tăng.

Cùng với đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã ký ban hành Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Theo đó, kể từ ngày 1-1, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp theo chế độ hợp đồng lao động sẽ được tăng lương tối thiểu vùng 150.000 - 240.000 đồng (tức là tăng thêm 5,5%). Như vậy, từ năm 2020 này, nhiều khoản thu nhập của cả công chức, viên chức ở khu vực công và người lao động ở khu vực doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể.

Theo Bộ Nội vụ và Bộ LĐTB-XH, mức tăng lương cơ sở và lương tối thiểu vùng năm 2020 là bước đệm cho một giai đoạn tiền lương mới, có nhiều thay đổi tiến bộ hơn, bắt đầu từ năm 2021, đã được nêu tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Theo Nghị quyết 27-NQ/TW, mục tiêu đề ra là từ năm 2021, sẽ áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị, để tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính của cán bộ, công chức, viên chức. Song, như Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định, vấn đề mấu chốt, đầu tiên hiện nay vẫn là nguồn tiền lương từ đâu để trả cho cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công và làm cách nào để tinh giản biên chế, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, lương cao mà lại làm việc hiệu quả, có năng suất?

Về nguồn tiền lương, theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, giải pháp chủ yếu là phải quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách; các bộ ngành, địa phương phải phấn đấu cho tăng trưởng kinh tế, thực hiện cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước, tăng tỷ trọng thu nội địa; dành 40% tăng thu của ngân sách trung ương và 70% tăng thu của ngân sách địa phương để bố trí nguồn cải cách tiền lương. Trong bối cảnh quỹ lương hạn hẹp, ngân sách khó khăn, để thực sự nâng cao tiền lương, thu nhập cho công chức, viên chức, cũng phải thực hiện quyết liệt mục tiêu sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế theo Nghị quyết 18-NQ/TW về tinh giản biên chế, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị quyết số 37 của Bộ Chính trị về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, xã.

Báo cáo của Chính phủ cho thấy, tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước tại các bộ ngành, địa phương đã giảm khoảng 8,68%; số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc khối Chính phủ quản lý năm 2019 đã giảm so với năm 2015 là 50.547 người, trong đó giảm 4,26% tại địa phương, giảm 11,85% tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia vẫn lo ngại tiến độ tinh giản biên chế còn chậm, có nơi không giảm mà vẫn phình ra.

Thời gian chuẩn bị để chính thức áp dụng chính sách cải cách tiền lương không còn nhiều, vì vậy, ngay trong năm 2020 phải tăng cường kiểm tra, rà soát kỹ việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong khối đơn vị sự nghiệp, kể cả y tế và giáo dục. Rút gọn biên chế hưởng lương, ưu tiên thu nhập cho những cán bộ, công chức làm việc năng suất, hiệu quả, có uy tín; giảm mạnh các đối tượng “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”, đùn đẩy trách nhiệm, sách nhiễu, thiếu năng lực… (Sggp.org.vn 4/2, Phúc Hậu) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Quốc hội mới của Peru cần ưu tiên cải cách chống tham nhũng

Đó là phát biểu của Tổng thống Peru Martin Vizcarra về những ưu tiên cải cách chính trị và tư pháp để chống tham nhũng trong Chính phủ.

Trên Báo La Republica, ông Martin Vizcarra nói, ông muốn thấy các nhà lập pháp thông qua những dự luật cải cách đang chờ được xử lý trước khi nhiệm kỳ của ông kết thúc. "Chúng tôi chỉ còn một năm rưỡi quyền lực. Chúng tôi phải đi thẳng vào ưu tiên, bao gồm cải cách chính trị và tư pháp", Tổng thống Peru nói.

Trước đó, vào cuối tháng 1, các cuộc bầu cử đặc biệt đã bầu ra cơ quan lập pháp mới của Peru, sau 5 tháng kể từ khi ông Vizcarra tuyên bố giải tán Quốc hội do phe đối lập kiểm soát, đã có những động thái chống lại các cải cách chống tham nhũng và từ chối việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chính phủ của ông.

Ông Vizcarra đã đề xuất những cải cách trong bối cảnh một loạt bê bối tham nhũng đã làm xói mòn niềm tin của công chúng.

Các biện pháp cải cách bao gồm: Kêu gọi cấm các chính trị gia bị kết án tham nhũng ra tranh cử; Kiểm soát các khoản tài chính chiến dịch lớn; Trao quyền lực lớn hơn cho cơ quan tư pháp để tước quyền miễn trừ truy tố đối với các nhà lập pháp bị nghi ngờ tham nhũng; Tăng cường sự tham gia của những công dân bình thường vào các đảng phái chính trị; và thúc đẩy bình đẳng giới...

Thời gian cho nhiệm kỳ của Quốc hội Peru hiện nay là 2016-2021. (Thanhtra.com.vn 3/2, Ngọc Anh) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.031.007 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này