Bản tin cải cách hành chính ngày 12/3/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. ‘Xa lộ’ mới cho văn bản điện tử

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. TP Hồ Chí Minh: Cần cải cách thủ tục hành chính trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

3. Quảng Nam: Tập trung tuyên truyền cải cách hành chính

4. Quảng Bình: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa ngành Thuế

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Nhiều chuyên gia chung sức triển khai chỉ đạo của Chính phủ về cải cách kiểm tra chuyên ngành

6. Bảo hiểm xã hội Hải Dương nỗ lực cải cách thủ tục hành chính

7. Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí cho doanh nghiệp

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Nhiều khoản thu nhập của công chức, viên chức bị bãi bỏ vào năm 2021

TIN THẾ GIỚI

9. Cựu lãnh đạo Vũ Hán bị cáo buộc tham nhũng và lạm quyền

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

‘Xa lộ’ mới cho văn bản điện tử

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 30/2020/NĐ-CP (Nghị định 30/2020) về công tác văn thư, thay thế Nghị định số 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư (Nghị định 110/2004) và Nghị định số 09/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều Nghị định 110/2004.

Theo ông Đỗ Văn Thuận, Phó Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ, Nghị định 30/2020 được Chính phủ ban hành, nhằm tạo hành lang pháp lý đối với công tác văn thư nói chung và văn thư điện tử nói riêng trong tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Nghị định số 30/2020 quy định chi tiết về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư gồm: Soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư theo nguyên tắc công tác văn thư được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật có hiệu lực từ ngày 5/3/2020.

Về cơ bản Nghị định số 30/2020 được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy phạm pháp luật về văn thư hiện hành tại các văn bản; Nghị định 110/2004; Nghị định số 09/2010 và các thông tư hướng dẫn thực hiện; Quyết định 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước và Thông tư số 01/2019/TT-BNV(Thông tư 01/2019) quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức.

Lãnh đạo Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cho biết, Nghị định này có những điểm mới cơ bản và ý nghĩa cụ thể như sau:

Trước hết, về phạm vi điều chỉnh: Nghị định này bổ sung nội dung quản lý và sử dụng thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư, đây là thiết bị vật lý chứa khóa bí mật và chứng thư số của cơ quan tổ chức và dùng để ký số trên văn bản điện tử của cơ quan tổ chức theo quy định của pháp luật.

Về đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức nhà nước (bao gồm cả đơn vị vũ trang nhân dân) và doanh nghiệp nhà nước (theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014). Khác Nghị định 110/2004 được áp dụng với, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp tổ chức kinh tế nói chung (trừ doanh nghiệp nhà nước) căn cứ quy định của Nghị định này và các quy định của Đảng, của pháp luật có liên quan để áp dụng cho phù hợp.

Việc thu hẹp phạm vi đối tượng áp dụng giúp cho công tác quản lý nhà nước về công tác văn thư được tăng cường, tập trung, đảm bảo tính thống nhất trong chỉ đạo về công tác văn thư theo quy định của pháp luật.

Về giải thích từ ngữ: Một trong những điểm mới và nổi bật trong Nghị định 30/2020 các khái niệm cơ bản trong công tác văn thư như: Văn bản; Văn bản chuyên ngành; Văn bản hành chính; Văn bản điện tử; Văn bản đi; Văn bản đến; Bản gốc văn bản; Bản chính văn bản giấy; Danh mục hồ sơ; Hệ thống quản lý tài liệu điện tử đã được định nghĩa cụ thể. Điều này giúp cho lãnh đạo, người làm công tác văn thư hiểu một cách thống nhất trong việc soạn thảo, quản lý văn bản, lập hồ sơ tại các cơ quan, tổ chức.

Trong đó, khái niệm về văn bản điện tử và giá trị pháp lý của văn bản điện tử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động và giao dịch của các cơ quan tổ chức. Cụ thể: “Văn bản điện tử” là văn bản dưới dạng thông điệp dữ liệu được tạo lập hoặc được số hóa từ văn bản giấy và trình bày đúng thể thức, kỹ thuật, định dạng theo quy định. “Văn bản điện tử” có giá trị pháp lý như văn bản giấy khi đáp ứng các điều kiện: Được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật; Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật.

Việc khẳng định văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy khi đáp ứng các điều kiện nêu trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện văn thư điện tử, quản lý và điều hành qua mạng, cải cách hành chính, chủ động thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xây dựng Chính phủ điện tử và hội nhập quốc tế.

Khái niệm “Văn bản chuyên ngành” cũng được chỉ rõ nguồn hình thành và quy định thẩm quyền ban hành (khác với Nghị định 110/2004) đó là: Thẩm quyền ban hành do người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày mà không phải thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong thực tế, chuyên môn, lĩnh vực quản lý chuyên ngành vô cùng phong phú và phức tạp, trong mỗi chuyên ngành lại hình thành rất nhiều các quy trình nghiệp vụ dẫn đến số lượng các văn bản, mẫu biểu trong quản lý chuyên ngành vô cùng lớn và phức tạp, việc thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi ban hành các văn bản chuyên ngành nhiều khi chỉ là hình thức. Việc bỏ quy định phải thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi ban hành văn bản chuyên ngành vừa tạo tính chủ động cho người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực ban hành văn bản quản lý chuyên ngành vừa giảm bớt thủ tục, chi phí trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

Về số lượng văn bản hành chính: Theo Nghị định này số lượng các loại văn bản hành chính có 29 loại gồm: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, phiếu báo, thư công. So với Nghị định 09/2010 bổ sung thêm 01 loại văn bản đó là Phiếu báo và bớt 04 loại văn bản đó là: Bản cam kết; Giấy đi đường; Giấy chứng nhận; Giấy biên nhận hồ sơ.

Việc quy định số lượng, tên loại văn bản hành chính cụ thể giúp chúng ta phân biệt được chính xác giữa văn bản hành chính với các hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chuyên ngành, từ đó xác định được phạm vi, hiệu lực của văn bản hành chính trong việc tổ chức thực hiện.

Về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính: Về cơ bản thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản được thực hiện theo các quy định soạn thảo văn bản hành chính tại Nghị định 110/2004; Nghị định 09/2010; Quyết định 28/2018/QĐ-TTg và quy định tại các Thông tư hướng dẫn thực hiện.

Về chữ ký số của người có thẩm quyền và chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử được thực hiện cơ bản như thông tư 01/2019/TT, cụ thể:

- Hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dạng Portable Network Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký.

- Hình ảnh, vị trí chữ ký số của cơ quan, tổ chức là hình ảnh dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trên văn bản, màu đỏ, kích thước bằng kích thước thực tế của dấu, định dạng (.png) nền trong suốt, trùm lên khoảng 1/3 hình ảnh chữ ký số của người có thẩm quyền về bên trái. Thông tin: tên cơ quan ban hành văn bản; thời gian ký (ngày tháng năm; giờ phút giây; múi giờ Việt Nam theo tiêu chuẩn ISO 8601) được trình bày bằng phông chữ Times New Roman, chữ in thường, kiểu chữ đứng, cỡ chữ 10, màu đen.

Điểm mới tại Nghị định 30/2020 quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử kèm theo văn bản chính được thể hiện như sau.

- Văn bản kèm theo (phụ lục) cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, Văn thư cơ quan chỉ thực hiện ký số văn bản và không thực hiện ký số lên văn bản kèm theo

- Văn bản (phụ lục) không cùng tệp tin với văn bản chính, Văn thư cơ quan thực hiện ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo.

+ Vị trí: Góc trên, bên phải, trang đầu của văn bản kèm theo.

+ Hình ảnh chữ ký số của cơ quan, tổ chức: Không hiển thị.

+ Thông tin: số và ký hiệu văn bản; thời gian ký (ngày tháng năm; giờ phút giây; múi giờ Việt Nam theo tiêu chuẩn ISO 8601) được trình bày bằng phông chữ Times New Roman, chữ in thường, kiểu chữ đứng, cỡ chữ 10, màu đen.

Như vậy hình ảnh chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo văn bản chính không cùng tệp tin với văn bản chính và trên văn bản số hóa sẽ không hiển thị hình ảnh con dấu của cơ quan tổ chức tại vị trí ký số văn bản.

Đối với các văn bản có phần căn cứ ban hành thì phần căn cứ được in nghiêng; số trang của văn bản được đánh từ trang thứ 2 trở đi canh giữa lề trên của văn bản.

Về soạn thảo và ký ban hành văn bản: Nghị định quy định “Cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản chịu trách nhiệm trước người đứng đầu đơn vị và trước pháp luật về bản thảo văn bản trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao”.

Về ký ban hành văn bản đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng: “Trường hợp cấp phó được giao phụ trách, điều hành thì thực hiện ký như cấp phó ký thay cấp trưởng”.

“Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của mình ký thừa ủy quyền một số văn bản mà mình phải ký”.

Như vậy, Nghị định quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm, chất lượng văn bản của công chức, viên chức được giao hoặc đề xuất soạn thảo.

Về việc ký ban hành văn bản đối với cơ quan khuyết cấp trưởng, quy định này nhằm thống nhất cách hiểu khi đơn vị khuyết cấp trưởng, cấp phó được giao phụ trách, điều hành ký ban hành văn bản. Quy định này đã giải quyết được thực trạng, trong thực tế nhiều cơ quan tổ chức cấp phó được giao phụ trách, điều hành ghi chức danh (phó…phụ trách, điều hành; phụ trách ….) không có trong hệ thống chức danh của nhà nước quy định, dẫn đến sai thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và hiệu lực của văn bản.

Việc ký thừa ủy quyền theo Nghị định 09/2010, trong thời gian qua còn thực hiện chưa thống nhất. Nghị định 09/2010 quy định: “Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể uỷ quyền cho người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức ký thừa uỷ quyền (TUQ.) một số văn bản mà mình phải ký” dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau, có cơ quan, tổ chức hiểu “người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức” là bộ phận tham mưu, đơn vị chức năng thuộc cơ quan tổ chức ban hành văn bản mà không phải các đơn vị sự nghiệp, cơ quan nghiên cứu… trực thuộc. Tại Nghị định này người đứng đầu cơ quan, tổ chức ban hành văn bản có thể ủy quyền cho tất cả người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của mình được ký thừa ủy quyền.

Về quản lý văn bản đi: Nghị định quy định cụ thể về cấp số văn bản; lưu văn bản điện tử. Cụ thể, về cấp số văn bản chuyên ngành: do người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực quy định; Cấp số văn bản hành chính: do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định; việc cấp số, thời gian ban hành điện tử được thực hiện bằng chức năng của Hệ thống.

Với quy định như trên tạo điều kiện chủ động cho các cơ quan tổ chức tạo lập các hệ thống số văn bản đi, trên cơ sở thực tế số loại văn bản và số lượng văn bản ban hành của từng loại văn bản trong hoạt động của đơn vị, điều này giúp cơ quan tổ chức quản lý văn bản tốt hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn tại đơn vị và đảm bảo tính công khai minh bạch trong việc quản lý văn bản nói chung

Về lưu văn bản đi điện tử: Bản gốc văn bản điện tử phải được lưu trên Hệ thống của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; cơ quan, tổ chức có Hệ thống đáp ứng theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan thì sử dụng và lưu bản gốc văn bản điện tử trên Hệ thống thay cho văn bản giấy; cơ quan, tổ chức có Hệ thống chưa đáp ứng theo quy định Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan thì Văn thư cơ quan tạo bản chính văn bản giấy để lưu tại Văn thư cơ quan và hồ sơ công việc. Điều này đảm bảo an toàn cho việc lưu các văn bản do cơ quan ban hành đề phòng rủi ro an ninh mạng

Về quản lý văn bản đến: Trong công tác quản lý văn bản đến được bổ sung “Phiếu giải quyết văn bản đến” để ghi ý kiến chỉ đạo giải quyết của người có thẩm quyền, ý kiến của đơn vị chủ trì và ý kiến của cá nhân được giao trực tiếp giải quyết, khi thông tin về việc chỉ đạo, giải quyết văn bản đến không thể hiện hết trên dấu Đến và để xác định trách nhiệm trong giải quyết văn bản đến.

Về sao văn bản: Điểm mới trong việc sao văn bản tại Nghị định này quy định các loại bản sao từ giấy sang điện tử và từ điện tử sang giấy, cách thức sao văn bản và thẩm quyền sao văn bản, này bao gồm:

a) Hình thức và các bản sao

- Sao y từ văn bản điện tử sang văn bản giấy được thực hiện bằng việc in từ bản gốc văn bản điện tử ra giấy; Sao y từ văn bản giấy sang văn bản điện tử được thực hiện bằng việc số hóa văn bản giấy và ký số của cơ quan, tổ chức;

- Sao lục từ văn bản giấy sang văn bản điện tử; sao lục từ văn bản điện tử sang văn bản giấy và được thực hiện bằng việc in, chụp từ bản sao y

- Trích sao từ văn bản giấy sang văn bản giấy; trích sao từ văn bản giấy sang văn bản điện tử; trích sao từ văn bản điện tử sang văn bản điện tử; trích sao từ văn bản điện tử sang văn bản giấy.

b) Thẩm quyền sao văn bản

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định việc sao văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành, văn bản do các cơ quan, tổ chức khác gửi đến và quy định thẩm quyền ký các bản sao văn bản.

Với quy định mới về sao văn bản giúp cho người làm văn thư hiểu rõ ràng hơn về việc sao và phương thức thực hiện sao văn bản giữa giấy và điện tử và ngược lại. Việc quy định thẩm quyền sao, ký bản sao, đảm bảo giá trị pháp lý của bản sao khi thực hiện đúng thẩm quyền sao và ký bản sao văn bản và hạn chế sao văn bản không đúng quy định tránh lãng phí.

Về kinh phí cho công tác văn thư: Nghị định 30/2020 quy định, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác văn thư trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với doanh nghiệp nhà nước việc bố trí kinh phí được thực hiện theo quy định hiện hành. Kinh phí cho công tác văn thư được sử dụng vào các công việc: Mua sắm, nâng cấp hệ thống, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, vật tư tiêu hao phục vụ công tác văn thư; bảo đảm thông tin liên lạc, chuyển phát văn bản, số hóa văn bản; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ trong công tác văn thư; các hoạt động khác phục vụ công tác văn thư.

Để thực hiện đầy đủ các yêu cầu, nội dung của công tác văn thư theo quy định tại Nghị định này, việc hiện đại hóa, nâng cấp hệ thống, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, nâng cao trình độ cho người làm công tác văn thư phải thực hiện thường xuyên phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử. Vì vậy quy định, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác văn thư trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là vô cùng cần thiết./. (Baochinhphu.vn 11/3) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP Hồ Chí Minh: Cần cải cách thủ tục hành chính trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đến nay, TP HCM đã cấp trên 1,5 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hơn 1,6 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Đối với những trường hợp tổ chức chưa được cấp giấy chứng nhận đa phần là trường hợp khó, có vướng mắc nên cần tập trung xử lý để giải quyết…

Đó là một số thông tin đáng chú ý tại Hội nghị lắng nghe ý kiến người dân và doanh nghiệp (DN) trong việc thực hiện các thủ tục hành chính (TTHC) tại Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) do Ủy ban MTTQ Việt Nam TP HCM tổ chức vào ngày 11/3/2020.

Tại hội nghị, Chủ tịch Hiệp hội các Khu Công nghiệp TPHCM Nguyễn Văn Bé phản ánh: TTHC trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Sở TNMT thời gian qua DN kêu ca rất nhiều. Trong 2 năm qua, nhiều DN nộp hồ sơ đầy đủ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kéo dài 1 - 2 năm nhưng chưa được cấp. Vì vậy, mong Sở TNMT đơn giản hóa, cắt giảm TTHC để tạo thuận lợi cho DN.

Đại diện của Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tân cho biết: Từ năm 2001, TP có chủ trương di dời một số ngành nghề ra ngoại ô, trong đó có ngành giày dép... công ty đã tìm mua đất của nông dân tại khu vực Hương Lộ 2, phường Bình Trị Đông A (quận Bình Tân) để tự xây dựng nhà máy với diện tích 5.592 m2.

Đến năm 2005 - 2006 do nhu cầu mở rộng khu vực sản xuất, công ty tiếp tục lập các thủ tục đề nghị đổi công năng tiếp các thửa đất liền kề nhà máy hiện hữu.  Tuy nhiên, cơ quan chức năng quận Bình Tân cho biết các thửa đất dự định mở rộng thuộc sở hữu của công ty nằm trong quy hoạch đất công viên cây xanh. 14 năm qua, công ty đã kiến nghị các cấp từ Trung ương đến TP HCM nhưng vẫn chưa được giải quyết…

Công dân Nguyễn Văn Hoàng, ngụ quận 9 cũng cho biết: “Trước Tết, tôi đi làm hồ sơ đóng thuế trước bạ nhà đất, sau khi điền các thông tin vào hồ sơ và nộp cho cán bộ tiếp nhận được hẹn 15 ngày sau ra lấy kết quả. Tuy nhiên, đến ngày thứ 10, bộ phận tiếp nhận hồ sơ mời tôi lên và trả lại bộ hồ sơ, yêu cầu tôi check vào hạng mục sử dụng đất và tiếp tục hẹn thêm 15 ngày nữa. Dù đây là một lỗi cực kỳ nhỏ và nếu khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ thụ lý yêu cầu tôi bổ sung ngay là hoàn thiện, nhưng đằng này lại tiếp nhận hồ sơ và sau đó trả lại. Như vậy, có chết người dân không? Đây quả thực hành là chính”…

Tại hội nghị, Giám đốc Sở TNMT Nguyễn Toàn Thắng tiếp thu toàn bộ ý kiến của người dân, DN, đại biểu nêu ra để có những giải pháp khắc phục trong công tác cải cách hành chính tại Sở trong thời gian tới.

Liên quan giải quyết thủ tục cho các DN trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, Giám đốc Sở TNMT Nguyễn Toàn Thắng cho hay: Vừa qua, do có những vướng mắc cần phải phối hợp, xin ý kiến TP xử lý nên mất nhiều thời gian trong giải quyết hồ sơ cho DN. Hiện nay, các vướng mắc đã được TP chỉ đạo tháo gỡ và sắp tới Sở sẽ phối hợp chặt chẽ với các ngành, đơn vị để phát hiện các vấn đề tồn tại xử lý ngay tránh để kéo dài gây bức xúc cho DN.

Đối với đất đai có nguồn gốc từ tài sản Nhà nước phải xử lý theo Quyết định 09 trước đây (nay là Nghị định 167/NĐ-CP) thì tất cả những mặt bằng, khu đất trước đây của DN Nhà nước nay cổ phần hóa phải xử lý các khâu mới tiến hành cấp giấy chứng nhận. Về cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân phải thống nhất quan điểm để xử lý cấp giấy chứng nhận cho người dân, vì hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quy định pháp luật…

Ông Nguyễn Toàn Thắng cho biết: Hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, TP đã cấp trên 1,5 triệu giấy chứng nhận; với những trường hợp tổ chức chưa được cấp giấy chứng nhận đa phần là trường hợp khó, có vướng mắc nên cần tập trung xử lý để giải quyết. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, TP đã cấp trên 1,6 triệu giấy chứng nhận, chiếm tỷ lệ 97%, còn 3% đa số là những trường hợp tranh chấp, lấn chiếm… cần phải xử lý các vướng mắc mới tiến hành cấp giấy…

Tại hội nghị, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Tô Thị Bích Châu đề nghị Sở TNMT tiếp thu và có ý kiến trả lời cụ thể các ý kiến cho người dân, DN nêu ra tại hội nghị. Sở TNMT cũng cần lưu ý, khi người dân hỏi các TTHC trên cổng thông tin điện tử của Sở thì trả lời cần ghi rõ ngày trả lời để người dân, MTTQ Việt Nam TP giám sát. Mặt khác, thủ tục càng rõ ràng, hướng dẫn càng cụ thể thì sẽ giảm thời gian và giảm bức xúc cho người dân. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của cán bộ thụ lý và giải quyết hồ sơ… (Thanhtra.com.vn 11/3, Tuấn Minh) Về đầu trang

Quảng Nam: Tập trung tuyên truyền cải cách hành chính

Đối với cán bộ, công chức, viên chức, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến nội dung các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về CCHC; tuyên truyền về kết quả xếp hạng chỉ số CCHC hằng năm của tỉnh; kết quả CCHC của các sở ngành, địa phương; kết quả khảo sát mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước.

Tuyên truyền các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ, gắn với kỷ luật, kỷ cương hành chính. Nhất là quy tắc ứng xử, văn hóa giao tiếp, tác phong, thái độ phục vụ trong giải quyết các công việc liên quan đến người dân. Giới thiệu các mô hình, sáng kiến hay, hiệu quả; các tập thể, cá nhân điển hình trong thực hiện công tác CCHC tại cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh.

Đối với người dân và doanh nghiệp, tập trung tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về CCHC có liên quan đến người dân, doanh nghiệp. Tuyên truyền bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết từ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đã được UBND tỉnh chuẩn hóa và công bố; việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) qua dịch vụ bưu chính công ích...

Phương thức tuyên truyền thông qua các hội nghị, tập huấn, thông tin trên các phương tiện truyền thông từ tỉnh đến cơ sở… Niêm yết công khai bộ TTHC và quy trình giải quyết tại Trung tâm Hành chính công tỉnh; bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, cấp xã. Tiếp tục duy trì việc đăng tải bộ câu hỏi/trả lời những vấn đề thường gặp trong quá trình giải quyết TTHC trên địa bàn tỉnh. Đồng thời khảo sát mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong thực hiện TTHC.

Một số hoạt động tuyên truyền trọng tâm như tuyên truyền trực quan, tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng; tổ chức cuộc thi tìm hiểu CCHC, duy trì và nâng cao chất lượng “Bản tin điện tử CCHC”; thực hiện tuyên truyền về các chính sách, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh...(Baoquangnam.com.vn 11/3, M.L) Về đầu trang

Quảng Bình: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa ngành Thuế

Đó là một trong những nội dung phong trào thi đua mà tập thể cán bộ, nhân viên ngành Thuế tỉnh đã và đang thực hiện, đạt được nhiều kết quả khả quan.

Ông Đoàn Vĩ Tuyến, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh cho biết, những năm qua, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, đơn vị đã thường xuyên triển khai hiệu quả phong trào thi đua đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa ngành Thuế.

Cụ thể, Cục Thuế tỉnh triển khai thực hiện đề án Cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo cơ chế “Một cửa” trong tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo yêu cầu của người nộp thuế (NNT). Trong đó, việc tiếp nhận, luân chuyển, theo dõi kết quả xử lý hồ sơ được thực hiện thông qua chương trình Quản lý thuế tập trung (TMS), ứng dụng công nghệ thông tin trong hầu hết các khâu quản lý thuế.

Nhờ vậy, từ nhiều năm qua, mặc dù số lượng cán bộ công chức của đơn vị không tăng trong điều kiện số doanh nghiệp, hộ kinh doanh tăng cao nhưng Cục Thuế tỉnh vẫn thực hiện tốt, bảo đảm thời gian công tác tiếp nhận, giải quyết hồ sơ của NNT.

Lãnh đạo Cục Thuế cũng đã tập trung chỉ đạo việc hỗ trợ NNT bằng rất nhiều hình thức, như: hướng dẫn qua điện thoại, gửi bằng văn bản… Hầu hết thắc mắc của NNT khi giao dịch đều được cán bộ chuyên môn của đơn vị giải đáp trực tiếp thông qua bộ phận giao dịch “Một cửa” tại Văn phòng Cục Thuế và các chi cục thuế trực thuộc. Đặc biệt, nhằm giúp NNT thành thạo trong việc ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng hóa đơn điện tử, khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử…, Phòng Tuyên truyền-Hỗ trợ NNT đã phối hợp tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật, thu hút hàng trăm học viên tham gia. Qua đó, tạo thuận lợi cho NNT rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.

Theo ông Cổ Kim Thảo, Trưởng phòng Tuyên truyền-Hỗ trợ NNT, Cục Thuế tỉnh, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, cán bộ của Phòng đã tập trung phối hợp với nhiều cơ quan, ban ngành, địa phương trong công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về thuế.

Cụ thể, Phòng phối hợp với Trường Đại học Quảng Bình, Trường Trung cấp Kinh tế, Trường Trung cấp Luật phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế cho học sinh, sinh viên, góp phần đưa chính sách thuế đi vào cuộc sống. Đặc biệt, Trang thông tin điện tử của Cục Thuế tỉnh thường xuyên được nâng cấp, cập nhật công khai đầy đủ các thủ tục hành chính thuế và kịp thời đưa tin phản ánh các hoạt động của ngành, đơn vị.

Thống kê từ năm 2015 đến nay, phòng đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đăng tải hơn 1.700 tin, bài, ảnh và hơn 20 chuyên đề phản ánh các hoạt động của ngành Thuế tỉnh; biên soạn, cung cấp cho NNT hơn 31.000 ấn phẩm, tờ rơi có nội dung tuyên truyền về chính sách thuế.

Những kết quả đạt được trong công tác cải cách hành chính nói trên đã góp phần không nhỏ đưa Cục Thuế tỉnh trở thành một trong những đơn vị đứng tốp đầu của Tổng cục Thuế về chỉ tiêu nộp thuế điện tử. Hiện tại, toàn tỉnh có gần 100% doanh nghiệp đang hoạt động đã hoàn thành việc kê khai thuế qua mạng, trên 98% doanh nghiệp thực hiện nộp thuế điện tử và gần 720 doanh nghiệp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.

Bên cạnh nỗ lực hiện đại hóa ngành Thuế, việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cũng đã được Cục Thuế tỉnh hết sức quan tâm. Hàng năm, tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và đặc thù hoạt động của từng bộ phận, Cục Thuế tỉnh chủ động phối hợp với các trường, trung tâm đào tạo tổ chức các lớp tập huấn cập nhật kiến thức kinh tế-tài chính, kỹ năng nghiệp vụ quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, nghiệp vụ kế toán…

Từ năm 2015 đến nay, Cục Thuế tỉnh đã cử gần 5.300 lượt cán bộ, công chức, người lao động đi đào tạo trình độ đại học, cao học; tham gia các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước; tập huấn nghiệp vụ kế toán, tin học, thanh tra cơ bản…

“Cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành Thuế là yêu cầu thường xuyên, cấp bách nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước. Vì thế, thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, công chức học tập nâng cao trình độ chuyên môn; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế nhằm tạo điều kiện tối đa cho NNT thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách”, ông Đoàn Vĩ Tuyến cho biết thêm. (Baoquangbinh.com.vn 11/3, Nguyễn Hoàng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Nhiều chuyên gia chung sức triển khai chỉ đạo của Chính phủ về cải cách kiểm tra chuyên ngành

Theo Quyết định 246/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, nhiều chuyên gia đến từ bộ, ngành, tổ chức tham gia trong Tổ công tác triển khai thực hiện Nghị quyết 99/NQ-CP ngày 13/11/2019 của Chính phủ về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Tổ công tác thực hiện triển khai Nghị quyết 99/NQ-CP về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu do Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai là Tổ trưởng; hai Phó tổ trưởng gồm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành và Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) Ngô Hải Phan.

Bên cạnh đó thành viên Tổ công tác gồm nhiều chuyên gia đến từ các tổ chức, bộ ngành như: Viện Nghiên cứu và Quan lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư); Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp; Vụ pháp chế, Bộ Tài chính và các cán bộ lãnh đạo một số vụ, cục thuộc Tổng cục Hải quan.

Tổ công tác có nhiệm vụ tổ chức làm việc với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực để triển khai chỉ đạo của Chính phủ về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu về các nội dung sau:

Rà soát, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu hiện hành về: Danh mục văn bản quy phạm pháp luật quy định về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; quy trình, thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc diện kiểm tra chuyên ngành; các tiêu chí thống kê về kiểm tra chuyên ngành; các thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện.

Thực hiện, đề xuất xây dựng mô hình mới về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 13/11/2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2020 của Chính phủ và giải pháp thực hiện.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai mô hình mới về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Trước đó, trên cơ sở kết quả cuộc họp ngày 19/2/2020 do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 246/QĐ-BTC thành lập Tổ công tác triển khai thực hiện Nghị quyết 99/NQ-CP ngày 13/11/2019 của Chính phủ về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 1/1/2020 và Nghị quyết 99/NQ-CP ngày 13/11/2019 của Chính phủ về việc giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Đề án cải cách kiểm tra chuyên ngành theo hướng cơ quan Hải quan là đầu mối thực hiện kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đang triển khai xây dựng dự thảo Đề án “Cải cách mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu”.

Để triển khai, ban soạn thảo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo và làm việc với các chuyên gia, lãnh đạo các đơn vị thuộc bộ, ngành để lắng nghe, tiếp thu ý kiến hoàn thiện dự thảo nhằm hiện thực hóa các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đề áp dụng vào thực tế. (Haiquanonline.com.vn 11/3, N.Linh) Về đầu trang

Bảo hiểm xã hội Hải Dương nỗ lực cải cách thủ tục hành chính

Triển khai giao dịch điện tử, tiếp nhận và trả kết quả qua bưu điện và tại trung tâm phục vụ hành chính công, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin… là những giải pháp mà Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương đang tích cực triển khai, góp phần tạo thuận lợi cho người dân, cơ quan và doanh nghiệp địa phương.

Bà Lê Thị Giang Tâm, ở số nhà 26, ngõ 59 đường Chi Lăng, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, đến Trung tâm phục vụ hành chính công để làm lại thẻ bảo hiểm y tế cho mẹ mình đang bị bệnh nặng cần đi bệnh viện gấp. Biết hoàn cảnh của bà Tâm, nhân viên bảo hiểm xã hội đã giải quyết nhanh chóng chỉ khoảng 30 phút.

“Mẹ tôi năm nay 84 tuổi, bị bệnh nặng phải đi viện cấp cứu nên tôi đến để làm lại thẻ bảo hiểm y tế cho mẹ. Được nhân viên bảo hiểm tỉnh hỗ trợ tư vấn tận tình, thủ tục cấp lại thẻ nhanh gọn nên tôi phấn khởi lắm”, bà Lê Thị Giang Tâm nói.

Có nhu cầu đi làm lại thẻ bảo hiểm y tế cho hai mẹ con, chị Vũ Thị Thu, giáo viên Trường Tiểu học Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương cũng chung nhận định: “Các thủ tục được nhân viên Bảo hiểm xã hội tỉnh giải quyết nhanh, chỉ mất khoảng 30 phút, người dân không mất thời gian chờ, chúng tôi rất hài lòng”, chị Vũ Thị Thu cho biết.

Theo chị Vũ Thị Thu Hương, Phó Chánh văn phòng Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương phụ trách Bộ phận tiếp nhận hồ sơ bảo hiểm xã hội tại Trung tâm hành chính công tỉnh Hải Dương, mỗi ngày bộ phận này tiếp 190 lượt người đến giao dịch, có hôm lên đến 280 người. 6 cán bộ bảo hiểm xã hội túc trực tại đây sẵn sàng làm quá trưa hoặc chiều muộn ngoài giờ hành chính để giải quyết công việc, giúp người dân đỡ đi lại vất vả.

Bên cạnh đó, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương đã quy định nhiều hình thức tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả để doanh nghiệp lựa chọn như: Giao dịch điện tử, giao dịch qua dịch vụ bưu chính… Đến nay, Hải Dương đã có 5.500 đơn vị sử dụng lao động thực hiện giao dịch hồ sơ điện tử lĩnh vực thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.

Chị Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phụ trách nhân sự của công ty Trách nhiệm hữu hạn Brother Việt Nam tại khu công nghiệp Phúc Điền thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đánh giá: Với một doanh nghiệp trên 10.000 lao động như chúng tôi, việc giao dịch điện tử rất hữu ích cho doanh nghiệp trong công tác thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội. Trước kia, chúng tôi phải đến cơ quan bảo hiểm xã hội, chờ đợi, xếp hàng, mất rất nhiều thời gian, thì hiện nay với sự đổi mới này, chúng tôi đỡ rất nhiều thời gian, công sức. Hy vọng trong thời gian tới, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ có nhiều cải tiến để tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động và cả doanh nghiệp.

Theo Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương, sau một thời gian thực hiện cải cách hành chính theo chỉ đạo của Chính phủ, hiện số thủ tục hành chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giảm từ 115 thủ tục xuống còn 27 thủ tục; giảm 56% số lượng hồ sơ; giảm 82% chỉ tiêu trên tờ khai, mẫu biểu; giảm 78% quy trình, thao tác thực hiện.

Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương Vũ Đức Khiên cho biết, những năm gần đây, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp cải cách thủ tục hành chính để giảm thời gian đi lại cho các tổ chức, cá nhân. Việc tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa đã được cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương triển khai mạnh mẽ. Cụ thể, từ tháng 1/2020, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh triển khai tiếp nhận và trả kết quả giải quyết 24 thủ tục hồ sơ thuộc lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cấp huyện.

Triển khai giao dịch điện tử giúp bộ phận phụ trách nhân sự của công ty TNHH Brother Việt Nam tại khu công nghiệp Phúc Điền thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Nhiều ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động nghiệp vụ đã và đang được cơ quan bảo hiểm xã hội Hải Dương triển khai tích cực, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ.

Trưởng phòng Công nghệ thông tin, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương Nguyễn Quang Huy cho biết, hiện nay ngành bảo hiểm xã hội Hải Dương đã khai thác, đưa vào ứng dụng các hệ thống phần mềm nghiệp vụ liên thông tập trung, kết nối, chia sẻ dữ liệu. Tất cả 294/294 cơ sở y tế trên địa bàn đã kết nối với hệ thống, dữ liệu thanh toán chi phí khám chữa bệnh được gửi lên cổng tiếp nhận ngay sau khi bệnh nhân ra viện. Cùng với đó, việc liên thông dữ liệu khai sinh thông qua sự phối hợp giữa Bảo hiểm xã hội tỉnh với Sở Tư pháp giúp người dân thuận tiện khi làm thủ tục cấp giấy khai sinh và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em, không cần thực hiện hồ sơ giấy với cơ quan bảo hiểm xã hội để làm thủ tục cấp thẻ. Hiện Hải Dương đã cấp liên thông được 10.639 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Việc cấp lại thẻ bảo hiểm y tế không thay đổi thông tin được thực hiện trực tuyến trên cổng thông tin dịch vụ công quốc gia.

Cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương cũng đã áp dụng hệ thống tương tác đa phương tiện đối với người dân, doanh nghiệp khi tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Điển hình như: Nhắn tin cho người tham gia khi đi khám chữa bệnh được cơ quan bảo hiểm thanh toán chi phí khám chữa bệnh; nhắn tin cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khi đến hạn đóng tiền hoặc có phát sinh liên quan; cung cấp thông tin tra cứu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trên Cổng thông tin bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương; cung cấp thông tin quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế qua dịch vụ đầu số tin nhắn 8079.

Trong thời gian tới, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương phấn đấu triển khai phần mềm giao dịch điện tử tới 100% đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn, thành lập tổ triển khai giao dịch điện tử từ tỉnh đến huyện, nhằm hướng dẫn và hỗ trợ các đơn vị sử dụng lao động thực hiện giao dịch điện tử lĩnh vực thu, cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế; đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan để triển khai thành công giao dịch điện tử.

Cùng với các giải pháp về công nghệ thông tin, đại diện lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương cũng cho biết, đơn vị sẽ tiếp tục đầu tư hạ tầng mạng, thiết bị công nghệ thông tin, tăng cường truyền thông về chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… để việc cải cách thủ tục hành chính của ngành phát huy hiệu quả hơn, đảm bảo tối ưu quyền lợi cho đối tượng tham gia, thuận lợi cho cơ quan và doanh nghiệp. (Baotitnuc.vn 11/3, Mạnh Minh) Về đầu trang

Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí cho doanh nghiệp

Ngày 11-3, Bộ Công thương đã có chỉ thị số 06 về việc tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phòng chống dịch và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của ngành công thương trước diễn biến mới của dịch Covid-19, nhằm triển khai hiệu quả Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 4-3-2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội, ứng phó với dịch Covid-19.

Tại chỉ thị này, Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu: Vụ Thị trường trong nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi sát diễn biến tình hình thị trường, phối hợp với các doanh nghiệp và các địa phương triển khai ngay các biện pháp để hỗ trợ, bảo đảm đủ nguồn cung các mặt hàng thiết yếu; đề nghị các doanh nghiệp cam kết bình ổn giá hàng hóa thiết yếu, nhất là tại địa phương có dịch bệnh; chỉ đạo, đôn đốc các địa phương có phương án bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của địa phương theo từng cấp độ diễn biến của dịch bệnh và kế hoạch hỗ trợ cung ứng cho các địa phương khác khi cần thiết, bảo đảm cung ứng đủ hàng hóa thiết yếu cho người dân trong mọi tình huống theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ đạo tại chỗ, lực lượng tại chỗ, hệ thống phân phối tại chỗ, hàng hóa tại chỗ) và 3 sẵn sàng (chủ động nguồn hàng, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương).

Bộ trưởng Bộ Công thương cũng yêu cầu Tổng Cục Quản lý thị trường tăng cường công tác quản lý thị trường và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các hành vi đầu cơ, găm hàng, nâng giá để trục lợi, nhất là đối với các mặt hàng phục vụ phòng chống dịch và các nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân dân.

Đối với công tác tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu các đơn vị chức năng rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí cho doanh nghiệp; cắt giảm phí, lệ phí đối với các đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong phạm vi và lĩnh vực quản lý. Đáng chú ý, lãnh đạo Bộ Công thương yêu cầu Cục Điều tiết điện lực “chưa thực hiện điều chỉnh tăng giá trong quý 1 và 2 năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất của doanh nghiệp do Nhà nước định giá”; giao Cục Công nghiệp chủ trì phương án tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất, nhập khẩu; rà soát, báo cáo về thực trạng, nhu cầu nguyên vật liệu đầu vào, đề xuất phương án tổ chức sản xuất và các giải pháp để đa dạng hóa, bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh và bảo đảm đủ nguồn cung cho hoạt động sản xuất trong nước để Bộ Công thương báo cáo Chính phủ trong tháng 3 này; phối hợp với các địa phương, đề xuất biện pháp phát triển mạnh các vùng sản xuất, các khu công nghiệp, khu kinh tế để chủ động hơn nguồn cung ứng nguyên liệu trong nước...

Chiều 11-3, Bộ Tài chính tổ chức họp báo cung cấp thông tin liên quan dự thảo nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất. Theo dự thảo, đối tượng áp dụng là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng trực tiếp do dịch Covid-19. Cụ thể, với doanh nghiệp, thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) tháng 3 chậm nhất là ngày 20-9; tháng 4 là ngày 20-10; tháng 5 là ngày 20-11; tháng 6 là ngày 20-12; quý 1-2020 là ngày 30-9; quý 2 là ngày 30-12. Như vậy, với các mốc thời gian trên, các doanh nghiệp được gia hạn 5 tháng. Theo tính toán của Bộ Tài chính, số thuế GTGT phải nộp từ tháng 3 đến tháng 6, số thu ngân sách các tháng đó giảm khoảng 22.600 tỷ đồng. Tuy nhiên, số thu ngân sách năm 2020 không giảm do doanh nghiệp phải thực hiện nộp vào ngân sách trước ngày 31-12.

Đối với cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình kinh doanh, Bộ Tài chính đề xuất gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền thuế phát sinh phải nộp năm 2020 trước ngày 15-12. Dự kiến, số thuế được gia hạn khoảng 3.000 tỷ đồng nhưng số thu ngân sách năm 2020 của nhóm này không giảm do phải nộp vào ngân sách trước ngày 15-12.

Đối với tiền thuê đất, theo quy định hiện hành, thời hạn nộp tiền thuê đất hàng năm là 2 kỳ (kỳ 1 trước ngày 31-5, kỳ 2 trước ngày 31-10), Bộ Tài chính đề nghị Chính phủ cho phép gia hạn thời hạn nộp tiền thuê đất 5 tháng kể từ ngày phải nộp tiền thuê đất của kỳ 1. Dự kiến số tiền thuê đất được gia hạn khoảng 4.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, số thu ngân sách cũng không giảm do doanh nghiệp hộ, cá nhân kinh doanh phải thực hiện nộp vào ngân sách trước ngày 31-10. (Sggp.org.vn 12/3, Văn Phúc - Hà My) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Nhiều khoản thu nhập của công chức, viên chức bị bãi bỏ vào năm 2021

Nghị quyết 27 nêu rõ: Bãi bỏ phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu); phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp công tác Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, phụ cấp công vụ, phụ cấp độc hại, nguy hiểm.

Từ 1-7-2020, cán bộ, công chức, viên chức nhận lương theo mức lương cơ sở mới là 1,6 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2021, khi áp dụng chính sách cải cách tiền lương mới thì các đối tượng này sẽ bị mất nhiều khoản thu nhập.

Đây là tinh thần được nêu tại Nghị quyết 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 21-5-2018. Theo đó, bởi hiện nay có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương làm phát sinh những chi phí bất hợp lý, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ.

Không chỉ vậy, việc có quá nhiều phụ cấp cũng đồng thời "cào bằng" các vị trí làm việc, không đánh giá đúng năng lực, phát huy được vai trò của từng đối tượng. Không chỉ vậy, vô hình chung việc này khiến năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác của công chức, viên chức không cao.

Đặc biệt, Nghị quyết 27 nêu rõ: Bãi bỏ phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu); phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp công tác Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, phụ cấp công vụ, phụ cấp độc hại, nguy hiểm.

Do đó, từ năm 2021, những khoản phụ cấp sau đây sẽ bị bãi bỏ: Phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu để đảm bảo tương quan tiền lương với cán bộ, công chức); Phụ cấp chức vụ lãnh đạo (do các chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị thực hiện xếp lương chức vụ); Phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội; phụ cấp công vụ (do đã đưa vào trong mức lương cơ bản); Phụ cấp độc hại nguy hiểm (do đã đưa điều kiện lao động có yếu tố độc hại, nguy hiểm vào phụ cấp theo nghề).

Riêng giáo viên, việc bỏ phụ cấp thâm niên đã được quy định cụ thể tại điều 76 Luật Giáo dục 2019: Nhà giáo… được ưu tiên hưởng phụ cấp đặc thù nghề theo quy định của Chính phủ

Trong khi Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi, bổ sung quy định giáo viên được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác.

Do đó, từ 1-7-2020, khi Luật Giáo dục chính thức có hiệu lực, giáo viên đã không còn được hưởng phụ cấp thâm niên nữa.

Như vậy, đến năm 2021, sẽ chỉ còn 7 khoản phụ cấp được tiếp tục thực hiện gồm: Phụ cấp kiêm nhiệm, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp lưu động, phụ cấp phục vụ an ninh, quốc phòng, phụ cấp đặc thù với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu).

Cũng tại Nghị quyết này, Ban Chấp hành Trung ương còn quy định sẽ bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của công chức, viên chức có nguồn gốc ngân sách Nhà nước như: Tiền bồi dưỡng họp; Tiền bồi dưỡng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án; Hội thảo… 

Đồng thời, cũng khoán các chế độ ngoài lương như tiền xăng xe, tiền điện thoại, không gắn lương công chức, viên chức với việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy định chính sách, chế độ không có tính chất lương.

Vì vậy, năm 2021 sẽ có nhiều khoản phụ cấp cũng như các khoản thu nhập ngoài lương của công chức, viên chức sẽ không còn nữa. Thay vào đó, các đối tượng này chỉ được hưởng lương, phụ cấp theo vị trí việc làm, qua đó để tạo nguồn lực cho cải cách tiền lương. (Nld.com.vn 12/3, H.Lê) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Cựu lãnh đạo Vũ Hán bị cáo buộc tham nhũng và lạm quyền

Một quan chức cấp cao của đảng ủy thành phố Vũ Hán đã bị cáo buộc tội danh tham nhũng và lạm dụng quyền lực sau khi bị sa thải vào tháng 2 trong thời gian dịch Covid-19 bùng phát.

Theo AFP, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc hôm 11/3 đã chính thức cáo buộc tội danh tham nhũng và lạm dụng quyền lực đối với Cai Jie, cựu ủy viên đảng ủy thành phố Vũ Hán, quan chức vừa bị sa thải hồi tháng 2 khi dịch Covid-19 đang hoành hành tại thành phố thủ phủ Hồ Bắc.

Trong khi đó, cơ quan kỷ luật tỉnh Hồ Bắc cho biết Cai đã lạm dụng quyền lực để trục lợi cho bản thân và người khác, đồng thời mua bán trái phép nhiều tài sản với giá trị lớn. Cai cũng bị cáo buộc phân bổ ngân sách cho các công ty tư nhân một cách trái phép.

Cuu lanh dao Vu Han bi cao buoc tham nhung va lam quyen hinh anh 1 vu_han_quan_chuc.jpg

Ông Cai Ji bị sa thải trong tháng 2 cùng nhiều quan chức cao cấp của Vũ Hán. Ảnh: AP.

Trong tháng 2, nhiều quan chức cấp cao tại Hồ Bắc nói chung và Vũ Hán nói riêng đã bị cách chức, trong bối cảnh công luận Trung Quốc chỉ trích chính quyền các cấp tại tỉnh Hồ Bắc không ứng phó hiệu quả với sự bùng phát của virus corona.

Jiang Chaoliang, bí thư đảng ủy tỉnh Hồ Bắc, đã bị thay thế bởi thị trưởng thành phố Thượng Hải là Ying Yong. Trong khi đó, bí thư thành ủy Vũ Hán là Ma Gouqiang đã bị cách chức. Cơ quan kỷ luật Trung Quốc cũng sa thải 2 lãnh đạo cấp cao của cơ quan y tế tỉnh Hồ Bắc, cùng lãnh đạo của Hội Chữ thập Đỏ Vũ Hán vì thiếu trách nhiệm.

Các quan chức tỉnh Hồ Bắc và thành phố Vũ Hán bị cho là thiếu năng lực dẫn tới sự bùng phát trên diện rộng của virus corona, khiến hành chục nghìn người mắc bệnh, dẫn tới việc Bắc Kinh phong tỏa toàn bộ tỉnh Hồ Bắc.

Tới ngày 11/3, Trung Quốc đã ghi nhận 80.788 người dương tính với virus corona, trong đó 3.158 ca đã tử vong, phần lớn tại thành phố Vũ Hán. Hiện tại, 61.582 bệnh nhân nhiễm virus corona tại Trung Quốc đã hồi phục sau quá trình điều trị.

Dù vẫn là quốc gia có số ca nhiễm bệnh và tử vong cao nhất thế giới, tốc độ lây lan của virus corona tại Trung Quốc đã giảm mạnh trong tuần qua. (News.zing.vn 11/3, Duy Anh) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.028.091 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này