Bản tin cải cách hành chính ngày 26/5/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Quảng Ninh nỗ lực duy trì vị trí dẫn đầu về PCI trong năm 2020

2. Nỗ lực vì sự hài lòng của người dân

3. Bắc Ninh: Cải cách bộ máy hành chính tinh gọn, hiện đại

4. Lai Châu nâng cao hiệu quả cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Giảm thủ tục, tăng quyền lợi bảo hiểm

6. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường

7. Ngành Ngân hàng nỗ lực cải cách hành chính để hội nhập

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Đề nghị giảm đại biểu Quốc hội xuống còn 250 - 300 người

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Bỏ hộ khẩu, dân mừng

TIN THẾ GIỚI

10. Thái Lan: Chủ động lập bản đồ nguy cơ tham nhũng trong COVID-19

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Ninh nỗ lực duy trì vị trí dẫn đầu về PCI trong năm 2020

Theo báo cáo kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2019 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) công bố, Quảng Ninh giữ vững xếp hạng ở vị trí thứ nhất trong cả nước.

Với kết quả trên, tỉnh Quảng Ninh duy trì 3 năm liên tiếp xếp thứ 1/63 và 7 năm liên tiếp trong top 5 các tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất cả nước.

Ba năm liên tiếp 2017, 2018 và 2019, Quảng Ninh dẫn đầu toàn quốc về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và chỉ số cải cách hành chính (PAR Index).

Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) của Quảng Ninh luôn đứng trong nhóm đầu và đứng thứ nhất năm 2019. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) từ chỗ đứng thứ 62/63 tỉnh, thành phố năm 2016 vươn lên vị trí thứ 3 toàn quốc năm 2019. Đồng thời, năm 2019, chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin (ICT Index) đứng thứ 3 cả nước sau 3 năm liên tiếp giữ vị trí thứ 4/63 tỉnh, thành.

Năm 2020, Quảng Ninh phấn đấu có tổng điểm phấn đấu được cải thiện từ 73,4 lên 75,3 điểm, tăng 1,9 điểm so với năm 2019.

Đối với 10 chỉ số thành phần, tỉnh phấn đấu có 8 chỉ số trong top 5/63 (chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự); 2 chỉ số nằm trong top 10/63 (tiếp cận đất đai, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp).

Tỉnh Quảng Ninh sẽ ưu tiên tập trung và cải thiện vượt bậc điểm số và thứ hạng của 3 chỉ số gồm chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký cho hay Quảng Ninh cần tiếp tục phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời, tạo mọi thuận lợi để người dân tham gia xây dựng bộ máy chính quyền địa phương; tăng cường sự giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với các cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là chính quyền.

Cùng với đó, tỉnh tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước ở từng cấp, lấy mục tiêu phục vụ người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên hàng đầu lấy chất lượng, hiệu quả thực tế gắn với sản phẩm cụ thể; xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước các cấp của tỉnh Quảng Ninh ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động công khai, minh bạch, rõ ràng và thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả. (VietnamPlus.vn 25/5)Về đầu trang

Nỗ lực vì sự hài lòng của người dân

Theo kết quả xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2019 được Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ vừa công bố, TP Hà Nội đạt 84,64 điểm (84,64%), xếp thứ hai trong tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ðây là năm thứ ba liên tiếp Chỉ số PAR INDEX của Hà Nội được duy trì, giữ vững thứ hạng cao.

Ðáng chú ý, Hà Nội đã có sáu trong tám chỉ số thành phần đạt kết quả hơn 80% gồm: công tác chỉ đạo điều hành; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Năm 2019 cũng là năm thứ hai Hà Nội đạt thứ hạng cao về Chỉ số SIPAS với 80,09%. Ðã có ba trong năm chỉ số thành phần đạt hơn 80% gồm chỉ số thành phần về tiếp cận dịch vụ hành chính công; chỉ số thành phần về thủ tục hành chính và chỉ số thành phần về kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Hai chỉ số thành phần tăng điểm so với năm 2018 là chỉ số thành phần về tiếp cận hành chính tăng từ 82,56% (năm 2018) lên 83,14% và chỉ số thành phần về tiếp nhận phản ánh, kiến nghị tăng từ 70,70% (năm 2018) lên 72,33%.

Ðể có được những kết quả nêu trên, nhiều năm qua, TP Hà Nội đã xác định công tác cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm với mục tiêu xây dựng chính quyền theo hướng chính quyền điện tử, phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng hoạt động. Thành phố cũng tiếp tục kiên trì phương châm năm rõ: "rõ người, rõ việc, rõ quy trình, rõ trách nhiệm, rõ hiệu quả", "một người, một việc, một đầu mối xuyên suốt". Mặt khác, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện về kết quả thực hiện CCHC.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Chỉ số CCHC năm 2019 của TP Hà Nội vẫn còn một số chỉ số thành phần đạt điểm thấp, cần có giải pháp khắc phục như: việc tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách; việc triển khai kiến trúc chính quyền điện tử; việc xây dựng hệ thống thông tin báo cáo cấp tỉnh còn chưa đạt yêu cầu đề ra…Tương tự, ở chỉ số SIPAS, Hà Nội vẫn còn những chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến người dân đạt chưa cao, như: chỉ số thành phần về công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính đạt 78,38%; chỉ số thành phần về tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, đạt 72,33%... (Nhân dân 26/5, trang Hà Nội, An Trân) Về đầu trang

Bắc Ninh: Cải cách bộ máy hành chính tinh gọn, hiện đại

Theo kết quả giám sát việc thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020 tại Sở Nội vụ của Thường trực HĐND tỉnh Bắc Ninh, công tác tinh giản biên chế đã có những chuyển biến tích cực, thủ tục hành chính cũng được cải cách theo cơ chế một cửa liên thông hiện đại, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong thực thi công vụ.

Một trong những điểm nổi bật trong công tác cải cách hành chính của tỉnh Bắc Ninh là thành lập Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và 8 đơn vị cấp huyện, tạo ra bước đột phá mạnh mẽ, đem đến sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp. Năm 2017, Trung tâm Hành chính công tỉnh được thành lập, tất cả sở, ban, ngành và một số cơ quan ngành dọc của Trung ương đều thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả tại Trung tâm Hành chính công tỉnh. Bên cạnh đó, 8/8 huyện, thị xã, thành phố cũng đã thành lập Trung tâm Hành chính công cấp huyện.

Đến nay, các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện đều đã hoạt động theo mô hình Trung tâm Hành chính công, cùng với việc 100% UBND cấp xã thực hiện mô hình một cửa liên thông hiện đại, đã góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Theo báo cáo của Sở Nội vụ, năm 2020, Bắc Ninh ưu tiên tích hợp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 có đối tượng thực hiện và có số lượng hồ sơ lớn, trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, hệ thống cũng được tích hợp với Kênh “Chính quyền điện tử tỉnh Bắc Ninh” trên Zalo, phục vụ nhu cầu tra cứu kết quả về việc tiếp nhận, trả kết quả thủ tục hành chính qua mã số biên nhận hoặc quét mã QR được in trên Giấy hẹn trả của người dân, doanh nghiệp. (Đại biểu nhân dân 25/5, tr7, Tuấn Đỗ)Về đầu trang

Lai Châu nâng cao hiệu quả cải cách hành chính

Thời gian qua, tỉnh Lai Châu chỉ đạo các sở, ngành, địa phương cắt giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian chi phí đi lại cho người dân. Năm 2019, tỉnh đưa vào hoạt động Trung tâm hành chính công. Tính đến nay, Trung tâm giải quyết gần 1.400 thủ tục hành chính của 15 sở, ngành và các doanh nghiệp; tiếp đón hơn 18 nghìn lượt người đến làm các thủ tục hành chính, giải quyết gần 11 nghìn hồ sơ, tỷ lệ trả kết quả đúng hạn và trước hạn đạt hơn 99,3%.

Năm 2019, Lai Châu vươn lên vị trí thứ 51 (tăng bảy bậc so với năm 2018) về chỉ số cải cách thủ tục hành chính. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2019 (SIPAS) của tỉnh Lai Châu tăng 11 bậc so với năm 2018 (từ xếp hạng 55 trong số 63 lên xếp hạng 44 trong số 63 tỉnh, thành phố).

Nhằm phát huy kết quả, tỉnh Lai Châu chỉ đạo các ngành, địa phương tiếp tục rà soát, cắt giảm các quy trình, thủ tục hành chính; nâng cao tỷ lệ thủ tục hành chính mức độ 3, mức độ 4 trực tuyến. Các địa phương, đơn vị lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra quán triệt tinh thần, trách nhiệm làm việc của cán bộ trong các khâu, từ đón tiếp, tiếp nhận hồ sơ đến đôn đốc tiến độ giải quyết thủ tục.

Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách; sắp xếp và kiện toàn tổ chức các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập để góp phần nâng cao hiệu quả cải cách hành chính. (Nhân dân 25/5, PV)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Giảm thủ tục, tăng quyền lợi bảo hiểm

Ngày 25.5, Bộ Tài chính ra thông báo hỏa tốc truyền đạt chỉ đạo của Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng về việc hoàn thiện chính sách, tăng cường quản lý, giám sát, nhằm nâng cao chất lượng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Theo đó, trong Thông báo hỏa tốc số 349/TB-BTC, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng yêu cầu Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhanh chóng hoàn thiện dự thảo Nghị định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP) trong tháng 5.2020 để Bộ Tài chính trình Chính phủ. Theo thông báo này, dự thảo mới cần theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chi trả cho đối tượng được bồi thường bảo hiểm, tăng cường hậu kiểm để tránh trục lợi bảo hiểm.

Quy định chủ xe phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc thực tế đã được thực thi từ lâu nhưng gần đây lại tiếp tục “nóng” khi cảnh sát giao thông toàn quốc thực hiện tổng kiểm soát phương tiện giao thông đường bộ từ 15.5 - 14.6. Dù không thể phủ nhận vai trò của loại hình bảo hiểm này trong việc bảo vệ lợi ích người bị nạn, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra, đồng thời giảm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với vụ tai nạn. Nhưng cách thức triển khai hiện nay chưa làm bật lên vai trò đó. Số tiền mà người tham gia bảo hiểm đã đóng góp và quyền lợi mà người được hưởng là nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông lại chênh lệch đến mức giật mình

Theo công bố của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, năm 2019 doanh thu bảo hiểm xe máy là 765 tỷ đồng, nhưng bồi thường chỉ vỏn vẹn 45 tỷ đồng. Như vậy, số tiền doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho người mua bảo hiểm bắt buộc đối với xe máy chỉ khoảng 1/20, tức là chỉ gần 6%. Đây là một con số thấp kỷ lục nếu so với các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác. Doanh nghiệp bảo hiểm lãi ròng lên tới 90%, không phải thực hiện theo đúng tính chất của bảo hiểm là đền bù thiệt hại khi không may xảy ra tai nạn. Nếu cứ duy trì tình trạng này, sẽ tạo ra bất công cho người tham gia bảo hiểm.

Thực tế, thủ tục bồi thường bảo hiểm đối với xe máy đang có rất nhiều vấn đề, nên người dân chưa mặn mà mua sản phẩm này. Theo quy định, trách nhiệm bồi thường tối đa về người là 100 triệu đồng/vụ và thiệt hại về tài sản là 50 triệu đồng/vụ đối với tai nạn do xe máy gây ra. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp tai nạn xe máy không được bồi thường bởi thủ tục để nhận khoản bảo hiểm này thì phần lớn người mua không biết và rất rắc rối. Chính những thủ tục lằng nhằng đã khiến chủ phương tiện rơi vào tâm lý “mua coi như mất”, mua để đối phó với công an.

Cần phải khẳng định là chủ trương mua bảo hiểm bắt buộc đối với xe gắn máy là đúng, bởi nó gắn với trách nhiệm dân sự của người tham gia giao thông. Tuy nhiên, để thay đổi tỷ lệ tham gia bảo hiểm của xe máy thấp như hiện nay (chỉ đạt 30% trên tổng số lượng cả nước có gần 60 triệu chiếc), phải sửa đổi quy định, không thể để người dân phải ngược chạy xuôi kiếm đủ thứ giấy tờ như hiện nay. Việc thu thập giấy tờ chứng minh tai nạn và thiệt hại là do doanh nghiệp bảo hiểm phụ trách, người tham gia chỉ có trách nhiệm hỗ trợ.

Hy vọng rằng, Nghị định thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP sẽ xóa được những bất cập và lỗ hổng trên. Người dân khi bỏ ra một đồng sẽ biết được số tiền ấy chi vào việc gì, như thế nào, ai được lợi… Người dân ai chẳng muốn được an toàn và họ sẵn sàng chi tiền nếu việc đó là cần thiết và thuận tiện. Do đó, thủ tục chi trả bảo hiểm phải nhanh chóng, thuận tiện hơn mới khuyến khích người dân tích cực mua bảo hiểm. Và khi bắt buộc người dân mua bảo hiểm, cách thức quản lý của cơ quan chức năng phải chặt chẽ đối với người bán và cả trách nhiệm bồi thường cho người mua. (Đại biểu nhân dân 26/5, tr2, Duy Anh)Về đầu trang

Đổi mới mạnh mẽ thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường

Sáng 26-5, tiếp tục kỳ họp thứ chín, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, sau thời gian thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, đã có những vấn đề và thách thức mới phát sinh từ thực tiễn cuộc sống, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi Luật. Trong đó, Luật hiện hành chưa tiếp cận và cập nhật kịp với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn; cách thức quản lý còn mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, chủ yếu dựa vào quy trình, thủ tục, chưa chú trọng quản lý theo mục tiêu và kết quả về bảo vệ môi trường...

Bên cạnh đó, môi trường nước ta đang diễn biến ngày càng phức tạp; ô nhiễm môi trường tại một số nơi đã vượt ngưỡng cho phép… đòi hỏi phải nhanh chóng thay đổi phương thức quản lý, kiểm soát về môi trường. Nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và cam kết quốc tế mới liên quan đến môi trường cần sớm được thể chế hóa, đòi hỏi cần đổi mới tư duy, cách thức trong quản lý môi trường.

“Do vậy, đã đến lúc cần hình thành đạo luật về bảo vệ môi trường một cách tổng thể, toàn diện, đồng bộ và thống nhất, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả”, Bộ trưởng Trần Hồng Hà nói.

Dự thảo Luật bao gồm 16 chương, 186 điều, trong đó đã cải cách mạnh mẽ, cắt giảm trên 40% thủ tục hành chính, giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính từ 20 đến 75 ngày. Góp phần giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp thông qua các quy định: Thu hẹp khoảng 20% đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; tích hợp các thủ tục hành chính vào giấy phép môi trường; không duy trì chế độ quan trắc môi trường định kỳ đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật về bảo vệ môi trường.

Một số điểm mới của dự thảo Luật gồm: Thanh tra, kiểm tra đột xuất về bảo vệ môi trường không cần thông báo; quy định thời hiệu xử phạt là 5 năm để phù hợp với tính chất các vi phạm về môi trường; quy định các tổ chức, cá nhân quản lý khu công cộng được “phạt” theo nội quy, quy chế về bảo vệ môi trường của khu công cộng để đạt được mục đích giáo dục, răn đe; tích hợp 6 loại giấy phép có liên quan vào một giấy phép môi trường để cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; gắn thủ tục đánh giá tác động môi trường, cấp phép với trình tự thực hiện dự án đầu tư để tạo sự thống nhất, đồng bộ; đổi mới phương thức quản lý chất thải, coi chất thải là tài nguyên để góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn…

Trình bày báo cáo thẩm tra dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng đánh giá, tuy còn có một số vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và hoàn thiện, nhất là về tính thống nhất với hệ thống pháp luật và tính khả thi của các chính sách, nhưng Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận thấy, hồ sơ dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, đầy đủ và đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến. (Hà Nội mới 26/5, Mai Hữu)Về đầu trang

Ngành Ngân hàng nỗ lực cải cách hành chính để hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng với cơ hội và thách thức đan xen, ngành Ngân hàng đã và đang đẩy mạnh việc cải cách hành chính để hội nhập và phát triển.

Trong 7 năm đánh giá cải cách hành chính (CCHC) theo chỉ số Par Index của Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã 2 lần trong top 3 và liên tiếp 5 năm gần đây xếp vị trí dẫn đầu, có thể nói đây là thành tích rất tự hào của ngành Ngân hàng trong những năm vừa qua. Đồng thời theo báo cáo  của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam luôn có sự cải thiện và duy trì thứ hạng cao so với các quốc gia trên thế giới.

Theo báo cáo về Môi trường kinh doanh 2020 được Nhóm Ngân hàng Thế giới công bố ngày 24/10/2019, chỉ số tiếp cận tín dụng, tăng 5 điểm và tăng 7 bậc, đứng thứ 25/190 nền kinh tế (vượt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP là tăng ít nhất 1 bậc trong năm 2019), đứng thứ 2 trong các nước ASEAN (sau Brunei). Trong đó, chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng của Việt Nam đạt điểm tối đa 8/8 điểm.

Chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam là một điểm sáng, thể hiện sự quyết tâm của NHNN trong việc chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp được tiếp cận tín dụng công bằng, minh bạch. Như vậy, có thể khẳng định CCHC đã được NHNN rất chú trọng và triển khai đạt hiệu quả cao.

CCHC có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, được Chính phủ đặc biệt chú trọng và xác định là một trong những khâu đột phá chiến lược để đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Nhận thức sớm yêu cầu CCHC trong ngành Ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc sâu rộng với cơ hội và thách thức đan xen, CCHC là xu hướng tất yếu khách quan để ngành Ngân hàng hội nhập và phát triển ngang tầm các ngân hàng trong khu vực và thế giới. NHNN đã xác định rõ các định hướng, mục tiêu và xây dựng kế hoạch CCHC tổng thể và hết sức cụ thể trong từng giai đoạn 5 năm và hằng năm và thường xuyên rà soát, bổ sung; trên cơ sở đó kiên trì, bền bỉ chỉ đạo và tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ trong toàn ngành.

Quan điểm của NHNN trong CCHC còn thể hiện một sự nhất quán chặt chẽ giữa các giải pháp cải cách trong hệ thống NHNN và các giải pháp cải cách của hệ thống các TCTD và xác định đây là một nội dung trọng tâm trong chiến lược tái cơ cấu của ngành Ngân hàng. CCHC là cơ hội, yêu cầu tất yếu để từng hệ thống TCTD phát triển, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động, chất lượng phục vụ, sức cạnh tranh với các ngân hàng trên thế giới.

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú: “Mục tiêu xuyên suốt là đẩy mạnh 6 lĩnh vực CCHC trong hệ thống NHNN gắn với đổi mới phương thức phục vụ của ngành Ngân hàng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và phải tạo chuyển biến rõ nét về cải thiện môi trường kinh doanh trong hoạt động ngân hàng; mọi cải cách thủ tục hành chính thực chất là các giải pháp nhằm tăng thêm khả năng tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tiền tệ ngân hàng đối với doanh nghiệp và người dân trong toàn bộ quy trình, điều kiện và thủ tục vay vốn và cung ứng dịch vụ tiền tệ ngân hàng.

“Quan điểm và trọng tâm trong điều hành của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ và đẩy mạnh cải cách hành chính để đảm bảo mục tiêu kép vừa thúc đẩy sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, phục vụ người dân, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh tích cực bền vững”, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Nhờ sự quyết tâm trong chỉ đạo, điều hành của NHNN, sự nỗ lực chung trong toàn ngành, cả 6 lĩnh vực thuộc chương trình tổng thể CCHC nhà nước và các nhiệm vụ về cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đều đạt được những kết quả tích cực. (Dangcongsan.vn 26/5, Đ.H)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đề nghị giảm đại biểu Quốc hội xuống còn 250 - 300 người

Ý kiến này được đại biểu nêu ra trong quá trình thảo luận về dự luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.

Thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội báo cáo giải trình, tiếp thu các ý kiến thảo luận về dự luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, vào sáng 26/5, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Hoàng Tùng cho biết, tổng số đại biểu Quốc hội (ĐBQH) không quá 500 đại biểu đã được thực hiện ổn định trong nhiều nhiệm kỳ gần đây.

“Số lượng này đủ để bảo đảm trong Quốc hội có thành phần, cơ cấu đại diện phù hợp về vùng, miền, dân tộc, tôn giáo, giới, ngành, nghề, độ tuổi...” - Chủ nhiệm Thanh Tùng giải thích.

Mặt khác, với dân số hơn 96 triệu người, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho rằng số lượng cử tri mà mỗi ĐBQH đại diện cũng như khối lượng công việc mà ĐBQH cần thực hiện liên quan đến việc thực thi chức năng đại diện (như tiếp công dân, nắm bắt, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri, tiếp nhận, xử lý đơn thư của cử tri gửi đến…) ngày càng tăng thêm.

Do đó, UBTVQH lo ngại, nếu giảm bớt số lượng ĐBQH thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu đại diện và khả năng cũng như chất lượng thực hiện vai trò đại diện của mỗi ĐBQH.

"UBTVQH xin phép Quốc hội cho giữ quy định tổng số ĐBQH không quá 500 đại biểu như hiện nay" - ông Tùng nêu.

Bàn về tiêu chuẩn ĐBQH, đa số ý kiến tán thành bổ sung quy định ĐBQH có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam (Điều 22).

Có ý kiến đề nghị không nên quy định vấn đề này trong Luật Tổ chức Quốc hội vì Luật Quốc tịch đã quy định hoặc nên quy định trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, có ý kiến đề nghị bổ sung từ “chỉ” trước cụm từ “có một quốc tịch”.

Điểm này được UBTVQH tiếp thu theo ý kiến của đa số đại biểu quy định như đã thể hiện trong dự thảo Luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thống nhất với cách quy định về tiêu chuẩn đại biểu HĐND trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương mới được Quốc hội sửa đổi tại kỳ họp thứ 8.

Liên quan đến một số ý kiến đề nghị giảm ĐBQH kiêm nhiệm công tác tại các cơ quan hành pháp; cân nhắc việc cơ cấu ĐBQH dựa trên các tiêu chí về ngành, nghề; có chính sách thu hút các cán bộ, công chức, viên chức có kinh nghiệm công tác lâu năm, có năng lực, trí tuệ, sắp đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn đủ điều kiện về sức khỏe tham gia làm ĐBQH hoạt động chuyên trách, UBTVQH cho biết đang cùng các cơ quan hữu quan nghiên cứu, chuẩn bị các nội dung đề xuất cụ thể.

Ngoài điều chỉnh về cơ cấu, thành phần, tỷ lệ người được giới thiệu ứng cử ĐBQH và dự kiến cơ cấu ĐBQH cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, UBTVQH cũng sẽ xem xét việc dành tỷ lệ nhất định cho các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, người có nhiều kinh nghiệm hoạt động đại biểu sắp đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn đủ điều kiện về năng lực công tác, trí tuệ, uy tín và có sức khỏe...

Các tiêu chí lựa chọn, cơ cấu cụ thể người ứng cử ĐBQH, theo ông Tùng, sẽ được cụ thể hóa trong Đề án bầu cử ĐBQH khóa XV.

Về tỷ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách, có ý kiến tán thành quy định tỷ lệ ít nhất là 35% tổng số ĐBQH như hiện nay nhưng nhiều ý kiến đề nghị nâng tỷ lệ này lên mức 40% tổng số ĐBQH hoặc cao hơn nữa cho phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 18-NQ/TW.

Giải trình, UBTVQH phân tích, việc quy định trong Luật tỷ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách ở mức cao hơn hiện nay sẽ là cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch, chuẩn bị nguồn nhân sự tham gia làm ĐBQH hoạt động chuyên trách, từ đó tăng cường tính chuyên nghiệp, góp phần quan trọng cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Tiếp thu ý kiến của đa số ĐBQH, UBTVQH đã chỉnh lý khoản 2 Điều 23 theo hướng nâng tỷ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách lên ít nhất là 40% tổng số ĐBQH.

“Trong quá trình chuẩn bị nhân sự, tổ chức bầu cử ĐBQH khóa tới, UBTVQH sẽ cùng các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu đề xuất và thực hiện các giải pháp phù hợp để bảo đảm bầu và bố trí đủ số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách như quy định của Luật” – ông Tùng thông tin. (Công an TPHCM 26/5, Hải Triều)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bỏ hộ khẩu, dân mừng

Cuốn sổ hộ khẩu bằng giấy ở thời đại công nghệ - công nghiệp 4.0 vừa lạc lõng vừa là hiện thân của trì trệ, gây ra nhiều hệ lụy đối với đời sống dân sinh vì thế nên Dự thảo Luật cư trú (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm (thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ),trình bày tại chương trình làm việc ngày 23/5 (Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV) về bãi bỏ hộ khẩu thay thế bằng mã số định danh cá nhân; được coi là bước ngoặt mang tính lịch sử trong quản lý xã hội, xóa bỏ phiền hà nhũng nhiễu, tạo niềm tin cho nhân dân.

Hộ khẩu song hành với từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Khi đất nước chưa thống nhất, sổ hộ khẩu cùng với sổ gạo được coi như gia bảo của mọi gia đình ở miền Bắc. Người ta hay dùng cụm từ “buồn như mất sổ gạo” khi nhìn thấy ai đó đang rất…buồn!. Mất sổ gạo buồn, mất sổ hộ khẩu còn buồn hơn vì luôn có hàng chục, hàng trăm thứ thủ tục được mở lối, khai thông nhờ cuốn sổ.

Kể từ sau năm 1975 đến nay, cuốn  sổ sớm sờn gáy gả màu mang tên hộ khẩu, vẫn là vật bất ly thân, là cứu cánh của từng gia đình trước một rừng thủ tục hành chính ăn theo.

Sổ hộ khẩu ghi rõ nơi cư trú (thôn, xóm, ấp, số nhà, tổ dân phố, phường, xã, quận, huyện, tỉnh, TP) cùng tên, giới tính, ngày tháng năm sinh của chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình (có quan hệ với chủ hộ như cha, mẹ vợ, con, dâu, rể…) nên được cơ quan có trách nhiệm và người thực thi công vụ, coi là cuốn sổ ấn định tư pháp công dân, lấy đó làm căn cứ giải quyết các loại giấy tờ, thủ tục khác, trong đó có cả việc làm chứng minh nhân dân và cấp hộ chiếu.

Dưới bom đạn chiến tranh, qua thời bao cấp khó khăn và sau hơn 30 năm đất nước mở cửa đổi mới; không ít chuyện bi hài liên quan đến hộ khẩu đã xảy ra nhưng cuốn sổ cứ mặc nhiên tồn tại, trở thành nỗi ám ảnh thường trực của mọi người dân - từ chứng thực giấy tờ, xin học cho con, tạm trú cho cha mẹ, bắc điện, nước đến chuyển nhượng tài sản, làm nhà, lập doanh nghiệp…Hộ khẩu cùng với “thiên chức” của nó còn là cơ hội cho các ứng xử máy móc, vô cảm của bộ phận không nhỏ công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền   

Theo tờ trình Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi), do Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm đọc trước Quốc hội: Xuất phát từ chủ trương cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, giấy tờ cho công dân, Luật được sửa đổi nhằm loại bỏ quản lý cư trú thủ công (bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú) sang quản lý bằng dữ liệu điện tử.

Mỗi công dân sẽ được cấp dãy số (gồm 12 số) là mã định danh cá nhân. Mã định danh cá nhân được chia sẻ, kết nối từ cấp quản lý địa phương đến các bộ - ngành liên quan.

Công chức, viên chức, người thực thi công vụ chỉ cần gõ dãy số định danh cá nhân trên máy tính, mọi thông tin liên quan đến công dân sẽ thể hiện đầy đủ. Quản lý dân cư bằng mã số định danh cá nhân, theo Bộ trưởng Tô Lâm, sẽ  giúp loại bỏ một phần hoặc toàn bộ 13 nhóm thủ tục hành chính về đăng ký thường trú, tạm trú trong thực hiện tách sổ hộ khẩu, điều chỉnh thay đổi sổ hộ khẩu, xóa đăng ký thường trú khi đăng ký nơi mới. Dự thảo Luật cũng bỏ các quy định riêng về điều kiện đăng ký thường trú tại các TP trực thuộc trung ương

Có thể nói rằng rằng Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) trình Quốc hội lần này, khẳng định tính nhất quán về chủ trương cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Ngày 30/10/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị quyết (số 112/NQ-CP) về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công an, để thống nhất việc quản lý bằng mã số định danh cá nhân.

Nghị quyết nêu rõ, ở nhóm thủ tục đăng ký thường trú sẽ bãi bỏ hình thức quản lý dân cư đăng ký thường trú bằng sổ hộ khẩu, thay thế bằng cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Các loại giấy tờ liên quan như chuyển hộ khẩu; chứng minh các mối quan hệ gia đình, giấy khai sinh;  đăng ký thường trú cũng sẽ được bãi bỏ. Nghị quyết cũng loại bỏ  quản lý tạm trú theo hình thức sổ tạm trú để thay thế bằng  cập nhật thông tin cá nhân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Thủ tục  tách sổ hộ khẩu, cấp đổi sổ hộ khẩu, cấp đổi sổ tạm trú, gia hạn tạm trú; thủ tục liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh, đăng ký ngành nghề kinh doanh có điều kiện cũng bị bãi bỏ.

Nghị quyết số 112/NQ-CP của Chính phủ cũng loại bỏ  việc yêu cầu công  dân phải xuất trình sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân. Thực hiện Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2017 đến nay, đã có trên 18 triệu người được cấp mã số định danh cá nhân. Với tỷ lệ tăng dân số là 1,14%, năm 2020, dân số trung bình của Việt Nam là 97,3 triệu người. Bộ Công an cho biết, dự kiến đến tháng 12/2020 sẽ hoàn thành cấp mã số định danh cá nhân cho tất cả công dân

Một số người cho rằng việc bỏ sổ hộ khẩu giấy, chuyển sang quản lý dân cư bằng dữ liệu điện tử, chỉ thay đổi về mặt hình thức vì cơ quan công an vẫn còn quản lý thủ tục đăng ký nơi cư trú của công dân. Đây chỉ là nhận xét phiến diện bởi tiện ích công nghệ thông tin của thời đại công nghệ - công nghiệp 4.0 cho phép người có trách nhiệm kiểm tra dữ liệu công dân chỉ bằng cú nhấp chuột trên máy tính hay điện thoại thông minh thay vì yêu cầu người dân trình ra cuốn sổ hộ khẩu  ra đời  từ gần 70 năm trước. Bỏ hộ khẩu giấy cũng đồng nghĩa với bỏ hàng loạt thủ tục ăn theo hộ khẩu phiền phức, giúp mọi người dân thở phào như  trút đi gánh nặng mà họ mang trên vai ngay từ khi mới chào đời. (Đại đoàn kết 25/5, Thanh Tùng)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Thái Lan: Chủ động lập bản đồ nguy cơ tham nhũng trong COVID-19

Bangkok Post ngày 25/5 đưa tin, giữa bối cảnh dịch COVID-19 cùng với sự gia tăng những tin báo về tham nhũng ở tất cả các cấp, Ủy ban Chống tham nhũng Quốc gia Thái Lan (NACC) đã đưa ra các kịch bản để ngăn chặn tham nhũng trong khủng hoảng.

Cục Xúc tiến và Mở rộng tham gia chống tham nhũng (NACC) phụ trách Dự án "Kiên quyết - Quan tâm đầy đủ để ngăn chặn tham nhũng", mục đích nhằm thúc đẩy nhận thức và sự tham gia của công chúng thông qua câu lạc bộ STRONG, bao gồm 77 cộng đồng địa phương tại 76 tỉnh và Thủ đô Bangkok. Các tổ chức cộng đồng có thể cùng nhau giám sát và báo cáo tham nhũng.

Dự án tiến hành lập bản đồ nguy cơ tham nhũng thu hút công chúng trong việc tìm ra các khu vực có nguy cơ tham nhũng trên toàn quốc. Bản đồ bao gồm các vấn đề tham nhũng khác nhau theo các lĩnh vực. Trong giai đoạn này, bản đồ nguy cơ tham nhũng trong khủng hoảng COVID-19 được lập, bao gồm thu thập thông tin và phân tích theo khung đánh giá nguy cơ và phân tích các kịch bản.

Theo Tổng Thư ký NACC Warawit Sukboon: “Bản đồ nguy cơ tham nhũng là để khuyến khích sự tham gia của công chúng, giám sát và báo cáo tham nhũng trên toàn quốc trong thời gian dịch bệnh COVID-19 và điều đó có thể ngăn chặn tham nhũng kịp thời. Hơn nữa, chúng tôi có thể tập hợp dữ liệu một cách có hệ thống để hỗ trợ thêm cho các hoạt động trong tương lai". (Thanhtra.com.vn 25/5, Ngọc Anh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.025.818 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này