Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 23/7/2020
1. TPHCM: Bổ sung nhiệm vụ cho sở, ngành để cải thiện Chỉ số cải cách hành chính
2. Hà Nội muốn kéo dài thời gian dùng hộ khẩu giấy
3. An Giang phấn đấu lọt top Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công
4. Từ 1/8, chủ phương tiện có thể thực hiện đăng ký xe qua mạng internet
5. Bộ VHTTDL đơn giản hóa thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin
6. Nâng cao chất lượng cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan
7. Các Bộ, ngành "nợ" Thủ tướng gần 50% số văn bản quan trọng
8. Quy định bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là công chức, viên chức
9. Cần Thơ dừng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại Hoa Kỳ
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
11. Cựu Bộ trưởng Giao thông vận tải Ba Lan bị bắt trong cuộc điều tra tham nhũng
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TPHCM: Bổ sung nhiệm vụ cho sở, ngành để cải thiện Chỉ số cải cách hành chính
Để cải thiện chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh, TP. hồ Chí Minh sẽ điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ các sở, ngành để nâng điểm số thực hiện trong năm 2020.
Với quy mô dân số 9 triệu người, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của cả nước, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế có sức hút và lan tỏa lớn trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Những đặc điểm đó đòi hỏi phải có bộ máy, nhân sự thực hiện nhiệm vụ chính trị và quản lý nhà nước.
Theo UBND Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay khối lượng công việc đối với công chức hành chính đang bị quá tải, bình quân mỗi công chức thành phố phục vụ khoảng 690 người dân. Thời gian qua, Thành phố đã nỗ lực không ngừng trong việc đổi mới, cải cách thủ tục hành chính, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả công việc. Nhờ đó, nhiều chỉ số của nền hành chính công tiếp tục được cải thiện.
Cụ thể, Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) của Thành phố trong năm 2019 đạt 83,56/100 điểm, xếp thứ 7/63 tỉnh, tăng 3 bậc so với năm 2018. Trong 4 thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ số Par Index của Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ 3, trước Cần Thơ (81,25 điểm), sau Đà Nẵng (83,68 điểm), Hải Phòng (84,35 điểm) và Hà Nội (84,64 điểm).
Mặc dù Par Index được cải thiện, nhưng một số chỉ số thành phần bị trừ điểm như lĩnh vực chỉ đạo điều hành, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính, tác động cải cách hành chính đến người dân. Nguyên nhân là do Thành phố hoàn thành muộn so với thời hạn quy định được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao theo Báo cáo của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ.
Về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (Papi), năm 2019 Thành phố nằm trong nhóm 16 tỉnh, thành phố đạt điểm trung bình cao; trong đó có 6 chỉ số tăng điểm gồm chỉ số tham gia của người dân cấp cơ sở, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình với người dân, kiểm soát tham nhũng, thủ tục hành chính công, cung ứng dịch vụ công, quản trị điện tử.
Đối với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), giai đoạn 2016 - 2019, Thành phố từ thứ 8 tụt xuống hạng 14 khi các chỉ số về gia nhập thị trường, minh bạch, chi phí thời gian, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động có xu hướng giảm điểm.
Trong nỗ lực triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả nền hành chính công, để tiếp tục cải thiện chỉ số Par Index, ông Ngô Minh Châu - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu các sở, ngành Thành phố rà soát các hạn chế dẫn đến việc bị trừ điểm để có giải pháp cụ thể, đảm bảo nhiệm vụ cải cách hành chính của Thành phố được triển khai đúng tiến độ và kế hoạch.
UBND các quận, huyện công khai tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cấp xã trên Cổng thông tin điện tử và Cổng dịch vụ của Thành phố; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ cải cải cách hành chính với nội dung trọng tâm là tuyển dụng, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.
UBND Thành phố yêu cầu thủ trưởng các đơn vị chủ động đôn đốc, phối hợp với Văn phòng UBND Thành phố khẩn trương trình Thường trực UBND Thành phố ký các văn bản, báo cáo bộ, ngành Trung ương theo ngành, lĩnh vực quản lý, đảm bảo thời gian theo quy định. Mặt khác, thực hiện nghiêm việc trả lời các phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức với thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đã được thành phố giao vốn triển khai trong năm 2020.
Để cải thiện chỉ số Papi, Thành phố sẽ điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ các sở, ngành để nâng điểm số thực hiện trong năm 2020. Thành phố cũng sẽ làm việc với Tổ chức đánh giá Papi, tìm hiểu nguyên nhân những nội dung có điểm số thấp để trao đổi, có giải pháp chấn chỉnh kịp thời.
Đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư, nâng cao chỉ số PCI, Thành phố sẽ áp dụng tối đa việc ứng dụng công nghệ thông tin để mở rộng các lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp, rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vốn, mặt bằng, đổi mới công nghệ; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông, giáo dục dạy nghề.
Về lâu dài, Thành phố sẽ thực hiện việc đảm bảo 100% đơn vị sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả; gắn trách nhiệm người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động cải cách hành chính; thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa điện tử đối với lĩnh vực xây dựng, đất đai, giáo dục, y tế.
Thành phố sẽ công khai công tác quy hoạch, kế hoạch, tài liệu pháp lý của Thành phố và quận, huyện trên trang thông tin điện tử của Thành phố, sở, ban, ngành, quận, huyện cũng như thực hiện nghiêm quy định về cung cấp đăng tải thông tin đấu thầu nhằm tăng chỉ số minh bạch… (TTXVN/Bnews.vn 23/7, Trần Xuân Tình)Về đầu trang
Hà Nội muốn kéo dài thời gian dùng hộ khẩu giấy
Nhất trí với việc bỏ quy định riêng về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương, song Hà Nội kiến nghị gia hạn dùng hộ khẩu giấy thêm 18 tháng.
Tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi), Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (cơ quan thẩm tra dự án luật) vừa tiến hành khảo sát việc thực hiện Luật Cư trú trên địa bàn Hà Nội.
Việc sửa đổi Luật Cư trú có 2 vấn đề lớn được cả xã hội quan tâm là bỏ sổ hộ khẩu giấy và bỏ điều kiện riêng với việc đăng ký thường trú vào thành phố trực thuộc Trung ương.
Theo đánh giá của UBND TP. Hà Nội, qua thực tế hơn 6 năm thực hiện việc giảm dân số cơ học, người dân di cư vào Thành phố không giảm được nhiều, do nhiều người không đủ điều kiện đăng ký thường trú, nhưng vẫn sinh sống tại nơi thuê, mượn, ở nhờ. Chính quyền Hà Nội khẳng định, việc đăng ký thường trú chỉ giảm được nhập khẩu, không giảm được nhập cư.
Dự báo về tác động của việc bỏ quy định riêng, Hà Nội chỉ ra một số ưu điểm, trong đó có nâng cao hiệu quả cải cách hành chính (theo thông kế, năm 2017 có gần 40 thủ tục hành chính liên quan đến hộ khẩu, đến nay, sau 3 năm cải cách, vẫn còn khoảng 25 thủ tục buộc phải có sổ hộ khẩu). Ưu điểm nữa là sẽ “buộc các thành phố điều chỉnh lại các chính sách về an sinh xã hội để người dân được hưởng chính sách an sinh xã hội tốt hơn vì thực sự họ cũng đang lao động, làm việc, đóng góp cho sự phát triển chung của thành phố”.
“Việc đăng ký thường trú khó khăn khiến người lao động thêm phần vất vả, họ phải mất nhiều thời gian làm thủ tục hành chính; trường hợp không đăng ký thường trú thì con em họ phải học trường tư, không được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước...”, chính quyền Hà Nội đánh giá.
Tuy nhiên, Hà Nội cũng “lo” việc bỏ quy định điều kiện đăng ký thường trú nếu không được chuẩn bị kỹ, sẽ gia tăng dân số cơ học tại các thành phố, gây áp lực cho hệ thống y tế và giáo dục, nhất là với Hà Nội vốn đã gặp áp lực dân số rất lớn, nhiều bài toán bế tắc. Hiện tại 4 quận nội thành, hạ tầng rất áp lực, nhất là y tế, văn hóa, giáo dục. Vì vậy, các luật khác cần có điều khoản điều tiết, luật pháp cho phép, nhưng Nhà nước phải điều tiết bằng các giải pháp kinh tế - xã hội.
Sau khi nhìn nhận cả ưu điểm và hạn chế, Hà Nội nhất trí với việc bỏ quy định riêng về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương. Hà Nội cũng đề nghị, với những người tỉnh ngoài làm hợp đồng không xác định thời hạn trong các công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, nên có quy định họ phải có thời gian cư trú ở thành phố trực thuộc trung ương từ một năm trở lên thì mới giải quyết đăng ký thường trú để tránh việc một số người lợi dụng cơ cấu tổ chức đơn giản của doanh nghiệp tư nhân làm hợp đồng lao động không đúng người, đúng việc, tạo nên sự mất bình đẳng trong đăng ký thường trú.
Theo lộ trình dự kiến, Luật Cư trú (sửa đổi), với phương thức quản lý mới, dựa trên nền tảng của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2021, tức là từ ngày này sẽ bỏ sổ hộ khẩu bằng giấy.
Làm việc với Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Hà Nội kiến nghị gia hạn thời gian giá trị của sổ hộ khẩu thêm 18 tháng để đảm bảo các cơ quan hành chính đang thực hiện các giao dịch với công dân yêu cầu phải có sổ hộ khẩu có sự chuẩn bị trang, thiết bị đồng bộ để tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia về dân cư. Giải pháp này được Hà Nội nhấn mạnh là “như thế mới không bị xáo trộn đột ngột của các thủ tục hiện đang liên quan đến sổ hộ khẩu”.
Theo báo cáo mới nhất của Hà Nội, hiện tại, toàn Thành phố đã cấp số định danh cá nhân cho 584.777 trường hợp là trẻ em mới sinh và hơn 3,35 triệu trường hợp đã được cấp căn cước công dân. Nhưng trên địa bàn Thành phố còn nhiều hộ, nhiều nhân khẩu chưa được đăng ký thường trú tại địa chỉ đang sinh sống thường xuyên do vướng mắc về nhà đất như đất lấn chiếm, nằm trong quy hoạch…, nên UBND các xã, phường, thị trấn không xác nhận về nhà đất, không đủ điều kiện đăng ký thường trú, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết, đã thu thập, đưa vào hệ thống thông tin dữ liệu về 80 triệu công dân, nhờ lực lượng công an chính quy được đưa về các xã. 99% các xã đã hoàn thành thu thập dữ liệu công dân, kiểm tra độ chính xác và đưa vào máy.
Song với Hà Nội, không ít khó khăn được chính quyền Thành phố nêu ra như phòng tiếp dân tại công an các xã, phường chưa đảm bảo về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ tiếp dân tại công an xã, phường chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc giám sát quy trình thực hiện không sâu sát, chặt chẽ như công an cấp quận, huyện; các trang thiết bị, máy tính công an các xã, phường đang sử dụng còn thiếu... (Baodautu.vn 22/7, Nguyễn Lê)Về đầu trang
An Giang phấn đấu lọt top Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công
Các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh cần tập trung nâng cao Chỉ số hiệu quả quản trị, hành chính công và đưa An Giang nằm trong nhóm các tỉnh, thành đạt điểm cao nhất.
Đây là chỉ đạo của ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tại hội nghị “Phân tích kết quả Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (Chỉ số PAPI) tỉnh An Giang năm 2019,” do Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tổ chức ngày 22/7.
Theo báo cáo của Sở Nội vụ tỉnh An Giang, năm 2019, Chỉ số PAPI tỉnh An Giang đạt 44,37 điểm, xếp hạng 21/63 tỉnh, thành trong cả nước, tăng 4 bậc so với năm 2018; nằm trong nhóm các tỉnh, thành đạt điểm trung bình cao, xếp hạng 5/13 tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Có 3/8 chỉ số thành phần PAPI tăng điểm so với năm 2018 như cung ứng dịch vụ công, thủ tục hành chính công và quản trị điện tử; có 5/8 chỉ số nội dung giảm điểm so với năm 2018 như tham gia của người dân ở cấp cơ sở, công khai minh bạch, kiểm soát tham nhũng ở khu vực công, trách nhiệm giải trình với người dân và quản trị môi trường.
So với kế hoạch thực hiện các giải pháp nâng cao Chỉ số PAPI năm 2019, An Giang có 2/6 chỉ số nội dung đạt và vượt kế hoạch đề ra như chỉ số cung ứng dịch vụ công đạt 7,8 điểm, vượt 0,1 điểm và thủ tục hành chính công đạt 7,58 điểm, vượt 0,28 điểm; có 4/6 chỉ số nội dung không đạt và thấp hơn kế hoạch đề ra như chỉ số tham gia của người dân ở cấp cơ sở, trách nhiệm giải trình với người dân, công khai minh bạch và kiểm soát tham nhũng ở khu vực công.
Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh An Giang Trương Long Hồ cho biết: Việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện cả 8 nội dung đánh giá của Chỉ số PAPI tỉnh An Giang năm 2019 đạt được nhiều kết quả tích cực, thứ hạng tiếp tục được cải thiện qua từng năm.
An Giang vẫn nằm trong nhóm các tỉnh, thành đạt điểm trung bình cao và có những chỉ số nội dung đạt điểm số thuộc nhóm các tỉnh, thành đạt điểm cao nhất như: cung ứng dịch vụ công, thủ tục hành chính công và quản trị môi trường.
Những năm tới, An Giang sẽ quan tâm cải thiện các chỉ số nội dung có điểm số thuộc nhóm các tỉnh, thành đạt điểm thấp nhất và điểm trung bình thấp như: trách nhiệm giải trình với người dân, tham gia của người dân ở cấp cơ sở và quản trị điện tử.
Để nâng cao Chỉ số PAPI của tỉnh trong thời gian tới, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đề nghị các sở, ngành có liên quan tăng cường nghiên cứu, đề ra các giải pháp cải thiện 5 chỉ số nội dung được công bố trong Chỉ số PAPI năm 2019 bị mất điểm với năm 2018.
Ủy ban nhân dân tỉnh cũng yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn An Giang tập trung nâng cao sự hài lòng của người dân đối với sự quản lý, điều hành của chính quyền, nhất là cấp cơ sở xã, phường, thị trấn, khóm, ấp trên địa bàn tỉnh.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh tiếp tục bám sát, triển khai, hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong Chương trình hành động nâng cao Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công tỉnh An Giang đến năm 2020 và kế hoạch năm 2020
Trong đó, nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp nâng cao kết quả của 8 trục nội dung, 28 chỉ số nội dung thành phần của Chỉ số PAPI.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang yêu cầu các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh cần lắng nghe, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc và trả lời thỏa đáng những kiến nghị của người dân; thực hiện tốt công việc này phải đi từ cơ sở.
Đối với chỉ số nội dung về kiểm soát tham nhũng trong khu vực công, cần đẩy mạnh công tác thanh tra, tập trung vào các lĩnh vực có nhiều dư luận về tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; đôn đốc, đánh giá công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, đặc biệt trong khu vực công.
Ông Nguyễn Thanh Bình cũng lưu ý các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh cần thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với cơ quan nhà nước.
Trong đó, tập trung cải cách hành chính, cung ứng dịch vụ hành chính công mang tính phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo cho hiệu quả, chất lượng hoạt động của cơ quan nhà nước. (TTXVN/VietnamPlus.vn 22/7, Thanh Sang)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Từ 1/8, chủ phương tiện có thể thực hiện đăng ký xe qua mạng internet
Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 58/2020/TT-BCA về quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được thi hành từ 1/8/2020.
Thông tư mới này sẽ thay thế Thông tư 15-2014/TT-BCA ngày 4-01/2016 quy định về đăng ký xe. Việc chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
Trong Thông tư số 58 của Bộ Công an có hiệu lực từ ngày 1/8 quy định nhiều điểm mới đáng lưu ý. Trong đó, thông tư này sẽ cho phép người dân thực hiện các thủ tục ban đầu trên không gian mạng điện tử, tránh phải tìm đến trụ sở đăng ký của Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) cấp TP, tỉnh hoặc Cục CSGT có thẩm quyền như trước.
Đặc biệt, giấy khai đăng ký xe, giấy tờ của xe, giấy tờ của chủ xe được thay thế bằng dữ liệu điện tử, được kết nối với cơ sở dữ liệu điện tử của các Bộ, ngành (Điều 10). Điều này cho phép, chủ phương tiện có thể thực hiện đăng ký xe trực tuyến (qua mạng interrnet). Theo đó, người dân sẽ thực hiện khai thông tin về chủ đăng ký phương tiện và phương tiện theo mẫu đăng tải trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông hoặc cổng dịch vụ công Quốc gia để đăng ký xe trực tuyến và nhận mã số thứ tự, lịch hẹn giải quyết hồ sơ qua email hoặc qua tin nhắn điện thoại.
Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe sẽ kiểm tra nội dung kê khai, tiến hành đăng ký cho chủ xe. Hồ sơ xe quy định cụ thể tại Điều 8, Điều 9 và trình tự cấp đăng ký, biển số theo quy định tại Điều 10 Thông tư 58. Sau đó, Chủ xe có trách nhiệm đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra đối với xe đăng ký lần đầu, xe đăng ký sang tên, xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn.
Tuy nhiên, cải tạo xe, thay đổi màu sơn (kể cả kẻ vẽ, quảng cáo), chủ phương tiện phải khai báo trên trang thông tin điện tử hoặc trực tiếp mang phương tiện đến cơ quan đăng ký xe để được xác nhận thì mới được thực hiện. Hình thức khai báo trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông đối với xe cải tạo, thay đổi màu sơn (kể cả kẻ vẽ, quảng cáo), hết niên hạn sử dụng, hỏng không sử dụng được, bị phá hủy do nguyên nhân khách quan, đăng ký xe trực tuyến thực hiện từ ngày 1/3/2021.
Cũng từ ngày 1/8/2020, tại TP.HCM, các xe hoạt động kinh doanh vận tải được cấp biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen, sêri biển số sử dụng lần lượt một trong 20 chữ cái sau đây: A, B, C, D, E, F, G, H, K, L, M, N, P, S, T, U, V, X, Y, Z. Các loại xe hoạt động kinh doanh vận tải đã đăng ký trước ngày Thông tư 58 có hiệu lực phải thực hiện đổi sang biển số nền màu vàng, chữ và số màu đen trước ngày 31/12/2021. Sau thời gian này, các trường hợp không thực hiện việc chuyển đổi biển số sẽ bị xử lý theo quy định của Chính phủ đối với hành vi điều khiển xe gắn biển số không đúng quy định. (Đời sống & Pháp luật 23/7, Minh Khôi)Về đầu trang
Bộ VHTTDL đơn giản hóa thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiến hành đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian thực hiện và giảm thiểu các bộ phận cấu thành khác của thủ tục hành chính (TTHC) trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ TTHC.
Đó là nội dung tại Quyết định số 2032/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 8/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) trên môi trường điện tử.
Theo Kế hoạch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ xây dựng và triển khai các giải pháp, điều kiện bảo đảm phương thức thực hiện TTHC trên môi trường điện tử thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ. Trong đó, thực hiện rà soát, đánh giá mức độ sẵn sàng, lựa chọn và ban hành công khai danh mục các TTHC thuộc phạm vi giải quyết của Bộ ưu tiên thực hiện trên môi trường điện tử, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; xác định rõ lộ trình, cách thức thực hiện, giải pháp vận hành, khai thác.
Rà soát ban hành các quy định về mẫu hồ sơ, tài liệu, kết quả TTHC ở dạng điện tử phải nộp theo quy định hoặc giấy tờ, tài liệu, kết quả TTHC ở dạng điện tử được luân chuyển giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tiếp nhận, giải quyết TTHC.
Rà soát, xây dựng lộ trình số hóa kết quả giải quyết TTHC đang còn hiệu lực thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ; xây dựng Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân có nhu cầu đề nghị giải quyết hồ sơ TTHC trên môi trường điện tử và lưu trữ hồ sơ giải quyết TTHC của Bộ.
Bên cạnh đó, tổ chức cung cấp TTHC trên môi trường điện tử và dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Tiếp nhận, xử lý, trả kết quả giải quyết TTHC trên môi trường điện tử tập trung, thống nhất theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; thực hiện cung cấp TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trên môi trường điện tử, đáp ứng tiêu chí dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong năm 2020.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng sẽ nâng cấp, hoàn thiện Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ bảo đảm các tiêu chí, quy định về chức năng, tính năng kỹ thuật; yêu cầu kết nối, tích hợp, chia sẻ, lưu trữ dữ liệu; giải pháp xác thực, an toàn thông tin; phương thức thanh toán trực tuyến; xây dựng, nâng cấp bổ sung các ứng dụng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (TTHC ban hành mới, thay thế, sửa đổi hoặc bãi bỏ).
Bộ cũng tổ chức đánh giá chất lượng đối với phương thức thực hiện TTHC trên môi trường điện tử thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ. Thanh tra, kiểm tra hoạt động thực hiện TTHC trên môi trường điện tử thuộc phạm vi giải quyết của Bộ theo quy định của pháp luật. Đề xuất khen thưởng và kiến nghị các biện pháp xử lý phù hợp đối với tập thể, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền. (Baochinhphu.vn 22/7, Minh Anh)Về đầu trang
Nâng cao chất lượng cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan
Để đáp ứng yêu cầu giải quyết khối lượng công việc ngày một tăng trong bối cảnh biên chế tăng không đáng kể, một trong những giải pháp được ngành Hải quan chú trọng thực hiện là đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cán bộ công chức (CBCC), viên chức.
Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Tổng cục Hải quan) Bùi Ngọc Lợi cho biết: để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, việc nâng cao chất lượng CBCC, viên chức được toàn Ngành chú trọng thực hiện.
Sau khi có các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Bộ Tài chính về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ CBCC, viên chức, các đơn vị, cơ quan, tổ chức xác định tỷ lệ tinh giản biên chế tính đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế được giao năm 2015. Trong giai đoạn 2015-2020, ngành Hải quan đã cắt giảm 542 biên chế hành chính (chiếm 5,08%), 69 biên chế sự nghiệp (chiếm 24,5%).
Cùng với đó, ngành Hải quan đã có nhiều giải pháp quản lý, sử dụng biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của đội ngũ công chức, viên chức vừa đảm bảo duy trì hoạt động theo yêu cầu nhiệm vụ của Ngành, vừa thực hiện đúng và hiệu quả chính sách tinh giản biên chế của Đảng và Nhà nước.
Tổng cục Hải quan xây dựng và tổ chức triển khai hai Đề án vị trí việc làm gồm: Đề án vị trí việc làm cho khối hành chính và Đề án vị trí việc làm cho khối sự nghiệp, làm căn cứ cho việc sắp xếp, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức.
Riêng danh mục vị trí việc làm khối hành chính của Tổng cục Hải quan là 183 vị trí, trong đó 23 vị trí việc làm nhóm lãnh đạo, 132 vị trí việc làm nhóm chuyên môn nghiệp vụ và 28 vị trí việc làm nhóm hỗ trợ phục vụ. Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang triển khai rà soát, xây dựng danh mục và mô tả vị trí việc làm theo kế hoạch và lộ trình chung của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ.
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngành Hải quan tăng cường thực hiện việc sắp xếp, bố trí biên chế giữa các đơn vị theo hướng ưu tiên bố trí biên chế cho đơn vị đang có nhu cầu cấp thiết về biên chế để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị. Mặt khác, yêu cầu các đơn vị trong Ngành căn cứ tình hình công việc thực tế, chủ động bố trí, sắp xếp, sử dụng số biên chế đang được giao một cách tiết kiệm, hợp lý và khoa học để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao. Song song đó là tích cực cải tiến cơ chế làm việc để giải quyết công việc nhanh chóng và đạt hiệu quả cao.
Trong công tác cải tiến chất lượng nguồn nhân lực, Tổng cục Hải quan cũng chú trọng bổ sung công chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính sách, chế độ, công chức thực hiện nghiệp vụ tác nghiệp trực tiếp đặc biệt là bộ phận thanh tra, kiểm tra; giảm công chức thực hiện nhiệm vụ trung gian, gián tiếp, nội ngành.
“Việc xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, phương án sắp xếp, bố trí CBCC được thống nhất trong tập thể lãnh đạo và cấp ủy đơn vị trước khi quyết định, đảm bảo công khai, khách quan; phát huy vai trò của cấp ủy đảng, đoàn thể cùng cấp trong tổ chức thực hiện; làm tốt công tác tư tưởng cho CBCC, tạo điều kiện để công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc sắp xếp, bố trí phải căn cứ vào yêu cầu công tác, vị trí việc làm, phù hợp với trình độ, năng lực; bảo đảm sự ổn định, kế thừa và phát triển đội ngũ CBCC, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị”- Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bùi Ngọc Lợi nhấn mạnh.
Đối với công tác tuyển dụng, ngành Hải quan luôn quan tâm nâng cao chất lượng bằng việc tuyển dụng công chức không qua thi tuyển đối với người tốt nghiệp thủ khoa đại học ở trong nước và người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài đối với một số trường có uy tín và tiếp nhận công chức, viên chức ngành khác chuyển công tác vào ngành Hải quan đối với đối tượng có trình độ chuyên môn cơ bản, kinh nghiệm công tác phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của ngành.
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức cũng luôn được coi trọng. Việc đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với vị trí việc làm, gắn đào tạo với việc bố trí, sử dụng công chức, viên chức tránh tình trạng đào tạo không đúng chuyên ngành, chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo xong không sử dụng gây lãng phí nguồn lực. Cùng với đó là đổi mới phương pháp, nội dung đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, yêu cầu cải cách, hiện đại hóa; đẩy mạnh hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo với các tổ chức quốc tế và Hải quan các nước. Hàng năm, Tổng cục Hải quan tổ chức và cử hơn 10.000 lượt công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn, dài hạn ở trong và ngoài nước…
Với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, công tác cán bộ và phát triển nguồn nhân lực của ngành Hải quan đã tạo được nhiều sự chuyển biến đáng ghi nhận, nguồn lực cán bộ ngày càng được nâng cao về trình độ và kỹ năng đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa. Công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ cương, kỷ luật được chú trọng, tăng cường góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị và đặc biệt là góp phần ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước. Công tác quản lý tài chính, tài sản đã được quản lý chặt chẽ, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo việc trang thiết bị máy móc, trang thiết bị công nghệ hiện đại đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hải quan. (Hải quan 23/7, Thái Bình) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Các Bộ, ngành "nợ" Thủ tướng gần 50% số văn bản quan trọng
Chiều ngày 22/7, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) Mai Tiến Dũng, Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ chủ trì buổi làm việc với 8 Bộ về tình hình xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, pháp lệnh, tình hình xây dựng, trình các đề án trong chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 7 tháng đầu năm.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 228 ngày 13/2/2020 yêu cầu các Bộ, cơ quan phải trình văn bản quy định chi tiết có hiệu lực từ 1/1/2020 trước ngày 15/3; trình văn bản quy định chi tiết có hiệu lực từ 1/7/2020 trước 15/4. Tại Nghị quyết số 28 ngày 10/3, Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan có văn bản nợ đọng thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng tại văn bản 228.
Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng, cho đến nay, các Bộ, cơ quan còn nợ đọng 26/54 văn bản, chiếm 48,1%, tăng 8 văn bản so với cùng kỳ năm 2019. Trong số này, Bộ Nội vụ có 7 văn bản, Bộ Tài chính có 6 văn bản, Bộ Công an có 5 văn bản, Bộ Giáo dục và Đào tạo có 3 văn bản, các Bộ: Công Thương, Thanh tra, Tư pháp, VHTT&DL, Quốc phòng, mỗi Bộ có 1 văn bản.
Ngoài ra, có 49 văn bản hướng dẫn luật, pháp lệnh có hiệu lực từ 1/1/2021. Như vậy, từ nay đến cuối năm, các bộ, cơ quan phải trình Chính phủ, Thủ tướng ban hành 75 văn bản, khối lượng rất lớn, đòi hỏi phải rất quyết liệt và khẩn trương.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP đề nghị nếu có chậm trễ, vướng mắc tại VPCP, đại diện các Bộ cũng cần thẳng thắn chỉ rõ, các vụ chuyên ngành của VPCP cũng phải giải trình rõ về quá trình xử lý, trách nhiệm cụ thể của các cán bộ.
Tại cuộc họp, đại diện Bộ Nội vụ cho biết, phần lớn các văn bản nợ đọng của Bộ liên quan tới việc hướng dẫn các luật mới về cán bộ, công chức, viên chức như tuyển dụng, sử dụng, quản lý, phân loại, đánh giá, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, tổ chức lại, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập…, có những vấn đề mới và khó như kỷ luật cán bộ đã nghỉ hưu. Tuy nhiên, nhiều văn bản nợ đọng do lỗi chủ quan từ phía Bộ trong việc trình chậm so với yêu cầu.
Với Bộ Tài chính, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng lưu ý cần sớm trình các văn bản liên quan tới cải cách kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu để sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh.
Kết luận buổi làm việc, Tổ trưởng Tổ công tác đánh giá cao nội dung giải trình của các Bộ đã làm rõ nhiều vấn đề và nhấn mạnh, xây dựng văn bản chi tiết là việc khó, vất vả, đề nghị các Bộ quan tâm, tạo điều kiện cho các Vụ Pháp chế thực hiện nhiệm vụ. Sau buổi kiểm tra, các đơn vị có báo cáo cụ thể các Bộ trưởng và giữ cam kết thời hạn hoàn thành.
VPCP và Bộ chủ trì sẽ cùng các cơ quan liên quan ngồi lại, thống nhất về các vấn đề còn ý kiến khác nhau, tìm kiếm sự đồng thuận, bởi với nhiều vấn đề phức tạp thì “văn bản qua lại” không xử lý được, phải ngồi trực tiếp để thảo luận, thống nhất.
Một vấn đề được Tổ công tác lưu ý là tình trạng một luật, pháp lệnh nhưng ban hành quá nhiều văn bản hướng dẫn, các văn bản lại do các vụ, cục, đơn vị khác nhau chủ trì xây dựng. Đây cũng là một lý do khiến việc ban hành các văn bản hướng dẫn kéo dài thời gian, nội dung chồng chéo, gây vướng mắc.
Các nội dung tại buổi kiểm tra sẽ được Tổ công tác tổng hợp, báo cáo đầy đủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ sắp tới. (Vnmedia.vn 23/7, Xuân Hưng)Về đầu trang
Quy định bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là công chức, viên chức
Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân vừa ký ban hành Thông tư quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức.
Quy định này áp dụng đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc tố cáo, giải quyết tố cáo; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố cáo.
Thông tư quy định, bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức là việc bảo vệ công việc gắn với chức danh, chức vụ, vị trí việc làm của cán bộ, công chức; công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý của viên chức trong quá trình giải quyết tố cáo.
Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được người có thẩm quyền giải quyết tố cáo yêu cầu hoặc đề nghị thực hiện biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp người tố cáo đó không thuộc thẩm quyền quản lý của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Tổ chức, đơn vị làm công tác tổ chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện biện pháp bảo vệ vị trí công tác có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với tổ chức công đoàn, ban thanh tra nhân dân và các tổ chức khác cùng cấp trong việc thực hiện bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức.
Về biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Tố cáo. Cụ thể là tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ; khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử; Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.
Thông tư cũng quy định rõ việc không thực hiện việc điều động, luân chuyển, biệt phái, chuyển đổi vị trí việc làm, phân công công việc khác đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ, trừ trường hợp thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo quy định tại Chương V Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 1/7/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; được sự đồng ý của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức; theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Bên cạnh đó không xử lý kỷ luật người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian được bảo vệ, trừ trường hợp người đó có hành vi vi phạm không liên quan đến lĩnh vực tố cáo.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/9/2020. (VOV.vn 23/7, Trí Anh)Về đầu trang
Cần Thơ dừng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại Hoa Kỳ
UBND TP Cần Thơ vừa có văn bản gửi Thường trực HĐND thành phố về việc dừng thực hiện Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của TP Cần Thơ tại Trường ĐH California, Riverside, Hoa Kỳ giai đoạn 2018 - 2020.
Theo UBND TP Cần Thơ, Thực hiện Chỉ thị số 13/2020 của Thủ tướng về tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới, Thủ tướng yêu cầu tạm hoãn các đoàn công tác nước ngoài.
Hiện tại, tình hình dịch bệnh COVID-19 trên thế giới ngày càng diễn biến phức tạp. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có tỉ lệ người bị dịch bệnh nhiều nhất trên thế giới.
UBND thành phố đề nghị Thường trực HĐND thành phố thống nhất cho dừng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại Hoa Kỳ theo Nghị quyết số 16 của HĐND thành phố.
UBND thành phố sẽ báo cáo xin ý kiến Thường trực HĐND thành phố việc tiếp tục tổ chức lớp bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức tại Trường Đại học California, Riverside, Hoa Kỳ vào thời điểm thích hợp.
Trước đó, vào tháng 10/2018, UBND TP Cần Thơ ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của TP Cần Thơ tại Trường ĐH California, Riverside, Hoa Kỳ giai đoạn 2018 - 2020".
Theo kế hoạch, sẽ tổ chức 4 lớp bồi dưỡng (mỗi lớp 20 người) tại Trường ĐH California, Riverside, Hoa Kỳ cho 80 cán bộ, công chức, viên chức.
Lớp bồi dưỡng gồm các nhóm lĩnh vực: Nhân sự (ban hành chính sách, phân cấp quản lý, quản ý nhân sự); tài chính, ngân sách; dịch vụ công và quản lý dịch vụ công.
Nhóm lĩnh vực: Giao thông; quy hoạch đô thị (quản lý đô thị và mô hình đô thị thông minh) và Nhóm lĩnh vực: Biến đổi khí hậu; môi trường và quản lý chất thải.
Kinh phí thực hiện Đề án được chi từ nguồn ngân sách thành phố cân đối hàng năm theo quy định pháp luật. Riêng đối với viên chức khi tham gia Đề án, nguồn kinh phí được thực hiện từ nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập hoặc đóng góp của viên chức và các nguồn khác theo quy định của pháp luật. (Giáo dục & Thời đại 23/7, Quốc Ngữ)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Chốt chặn tăng biên chế
Từ ngày 20/7/2020, Nghị định số 62/2020/NĐ-CP về vị trí việc làm và biên chế công chức sẽ chính thức có hiệu lực với nhiều thay đổi tác động đến tổng biên chế. Theo đó, việc xác định vị trí việc làm sẽ là căn cứ để tuyển dụng từng vị trí công việc của đơn vị. Điều đặc biệt chính là các đơn vị này sẽ không thể tùy tiện xin thêm biên chế như trước.
Đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức nhằm xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả là nội dung lớn trong chủ trương cải cách của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những nội dung cốt lõi của việc cải cách chế độ công vụ, công chức là tiến hành xác định vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã xác định một trong những giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách chế độ công vụ, công chức là “xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng cán bộ, công chức… trên cơ sở xây dựng chức danh, tiêu chuẩn, vị trí việc làm và cơ cấu công chức, từng cơ quan nhà nước rà soát lại đội ngũ công chức, đối chiếu với tiêu chuẩn để bố trí lại cho phù hợp”.
Như vậy, xác định vị trí việc làm là nội dung quan trọng để thực hiện cải cách chế độ công vụ, công chức. Bản chất của việc xác định vị trí việc làm là xác định trong một cơ quan, đơn vị có bao nhiêu vị trí việc làm và cần bao nhiêu người với những tiêu chuẩn, năng lực gì để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị đó. Qua xác định vị trí việc làm sẽ giúp cơ quan, đơn vị phát hiện những chồng chéo về nhiệm vụ của các vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức; phục vụ hiệu quả sắp xếp lại đội ngũ công chức.
Như vậy, qua xác định vị trí việc làm các cơ quan, đơn vị sẽ có thể tuyển dụng, sắp xếp, bố trí công chức phù hợp với vị trí việc làm, loại bỏ những công chức không đáp ứng yêu cầu công việc, góp phần thực hiện tinh giản biên chế.
Xác định vị trí việc làm quan trọng như vậy nên từ năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2013/NĐ-CP “Vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức”, trong đó có quy định về xây dựng khung năng lực cho từng vị trí. Tuy nhiên, phải mất một thời gian tương đối dài các bộ, ngành địa phương mới triển khai được chủ trương này.
Mắc nhất chính là việc không ít bộ, ngành địa phương khi xây dựng đề án vị trí việc làm tại đơn vị mình thì số biên chế không những không giảm mà còn tăng. Tăng là bởi ngại va chạm, tăng là bởi không xác định đúng từng vị trí, không lượng hóa được công việc cụ thể của từng vị trí. Nếu xác định vị trí việc làm mà làm qua loa đại khái như vậy không những không giúp giảm biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ mà còn làm biên chế phình ra.
Không thể tùy tiện tăng biên chế, phải thực hiện đúng lộ trình tinh giảm 10% tổng biên chế vào năm 2021 là việc mà các bộ, ngành địa phương phải nỗ lực làm. Như vậy, xác định vị trí việc làm được đặt ra để thực hiện rất nhiều mục tiêu, trong đó ưu tiên hàng đầu là tinh giản biên chế.
Nếu xác định vị trí việc làm, có bảng mô tả chi tiết công việc của từng vị trí cụ thể trong nền công vụ, mọi việc được lượng hóa thì mới có thể xác định được ai là người không hoàn thành nhiệm vụ, chứ vẫn cứ đánh giá một cách chung chung, định tính như hiện nay chắc chắn sẽ khó có nạn “công chức cắp ô” như đã và đang vẫn tồn tại.
Điều khiến nhiều người lo ngại chính là khi các đơn vị hành chính ổn định sau khi các đơn vị phê duyệt đề án xác định vị trí việc làm thì biên chế vẫn có thể tăng nếu một số bộ ngành, địa phương muốn điều chỉnh các đơn vị hành chính.
Tuy nhiên, sẽ không lo tăng biên chế một cách tùy tiện như trước, Nghị định 62 nêu rõ: Việc điều chỉnh biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức chỉ được xem xét trong 3 trường hợp: Cơ quan, tổ chức có sự thay đổi một trong các căn cứ xác định biên chế công chức. Thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện.
Như vậy, việc thành lập các đơn vị mới cũng phải có sự giám sát chặt chẽ, phải lý giải cụ thể tại sao lại thêm 1 vị trí này, và vị trí việc làm ấy sẽ đảm trách những việc cụ thể thế nào? Có như vậy mới không còn thực trạng các đơn vị kiếm cớ tách đơn vị hành chính để đẻ thêm biên chế.
Đặc biệt, để chốt chặn việc tăng biên chế thông qua xác định vị trí việc làm, Nghị định 62 cũng ràng buộc trách nhiệm của người đứng đầu khi xác định từng vị trí của đơn vị mình.
Cụ thể, người đứng đầu bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức thực hiện không đúng quy định về vị trí việc làm và biên chế công chức tại Nghị định này bị xem xét: Xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật; Đưa vào xem xét phân loại, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm. Không những thế, phải bồi hoàn số kinh phí đã sử dụng vượt quá số biên chế công chức được cơ quan có thẩm quyền giao hoặc sử dụng không đúng quy định về quản lý và sử dụng biên chế công chức. Rõ ràng, quy rõ trách nhiệm bằng chế tài cụ thể sẽ chặn được việc tăng biên chế với trăm ngàn lý do đã từng xảy ra. (Đại đoàn kết 23/7, Nguyên Khánh)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Cựu Bộ trưởng Giao thông vận tải Ba Lan bị bắt trong cuộc điều tra tham nhũng
Một trong những cựu Bộ trưởng Giao thông vận tải của Ba Lan đã bị bắt trong một cuộc điều tra tham nhũng.
Cựu nghị sĩ, được gọi tên là "Sławomir N.", đã bị bắt giữ vì bị nghi ngờ có hành vi tham nhũng và hoạt động trong một nhóm tội phạm có tổ chức, theo Cục Chống tham nhũng Trung ương Ba Lan.
Nghi phạm cũng từng là người đứng đầu cơ quan quản lý đường cao tốc của Ukraine ("Ukravtodor"), Cục này cho biết.
Hai người đàn ông khác - một cựu chỉ huy quân sự và một doanh nhân - cũng đã bị giam giữ.
Cuộc điều tra được phối hợp thực hiện bởi Cơ quan Công tố quận tại Warsaw, Cơ quan Công tố Đặc biệt Chống Tham nhũng ở Kyiv và Cục Chống tham nhũng Quốc gia (NABU) của Ukraine.
Chính quyền Ukraine nói rằng "hơn 50 cuộc điều tra" đã được tiến hành tại các cơ quan của Ukravtodor và các doanh nghiệp Nhà nước, cũng như các căn nhà liên quan tới các cựu quan chức Nhà nước của Ba Lan.
Nhóm tội phạm bị nghi ngờ đã hoạt động từ năm 2016 đến 2019, do cựu lãnh đạo của Ukravtodor, người đã lợi dụng quyền lực để "nhận được những lợi ích bất hợp pháp".
Khi các công ty Ukraine không thể hoàn thành các hợp đồng xây dựng đường giao thông, họ đã nhận được đề nghị gia hạn thi công để đổi lấy những "lợi thế không chính đáng", cơ quan công tố cho biết.
"Tất cả những trường hợp này đều liên quan đến các quyết định về việc sử dụng vốn do các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp dưới dạng các khoản vay để sửa chữa các hệ thống đường bộ của Ukraine", người đứng đầu NABU, ông Artem Sytnyk nói.
Các nhà chức trách cho biết tổng số tiền thuộc quỹ tín dụng mà nhóm tội phạm đã sử dụng để thu lợi bất chính là hơn 270 triệu euro.
"Nhóm tội phạm đã thực hiện mọi cách để che giấu tội phạm của mình và nguồn gốc phi pháp của số tiền chúng đã lấy", ông Artem Sytnyk nói thêm.
Các cáo buộc chống lại "Sławomir N." có thể khiến người này phải chịu mức án tù tối đa lên tới 12 năm.
Vào tháng 1, một báo cáo của Tổ chức Minh bạch Quốc tế cho thấy Ba Lan là một trong năm quốc gia EU chưa giải quyết được vấn đề sử dụng ngân quỹ quốc gia sai mục đích.
Ba Lan, Hungary, Romania, Croatia và Hy Lạp là một trong những quốc gia kém nhất EU về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2019 thực hiện bởi Tổ chức Minh bạch Quốc tế. (Thanhtra.com.vn 23/7, Trần Minh Tuấn)Về đầu trang./.