Bản tin cải cách hành chính ngày 11/5/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Thay đổi thành viên Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội thúc đẩy giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử

3. Hà Nội: Nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp

4. Tuyên Quang nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư

5. Cục Hải quan Đà Nẵng giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính

6. Đồng Nai: Quét QR code trên thẻ CCCD có gắn chíp để kiểm tra thông tin công dân

7. Bắc Giang: Chuyển đổi số trên nền sẵn có

8. Các cơ quan tại Hà Tĩnh kiểm soát ra vào bằng quét QR Code

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9. Tiền lương phải đúng ý nghĩa tiền lương, phần cứng phải cao hơn phần mềm

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Thay đổi thành viên Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 646/QĐ-TTg về thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ.

Cụ thể, đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ thay thế đồng chí Lê Vĩnh Tân đã được Quốc hội khóa XIV phê chuẩn miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Đồng chí Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế thay thế đồng chí Trương Quốc Cường theo phân công công tác. Đồng chí Hoàng Minh Sơn, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thay thế đồng chí Phạm Ngọc Thưởng theo phân công công tác.

Theo Quyết định 442/QĐ-TTg ngày 28/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ.

Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp quan trọng để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính của Chính phủ; cho ý kiến về chương trình, kế hoạch cải cách hành chính dài hạn và hằng năm do Bộ Nội vụ trình Chính phủ.

Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính; xem xét nội dung các đề án, dự án quan trọng về cải cách hành chính của Chính phủ, các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ có nội dung chủ yếu liên quan đến cải cách hành chính trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Đồng thời, Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; các nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác cải cách hành chính; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác cải cách hành chính. (Nguoilamnbao.vn 11/5) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội thúc đẩy giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử

UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Công văn số 1392/UBND-KSTTHC ngày 10-5-2021 về thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế “một cửa” và xây dựng chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành.

Theo nội dung công văn trên, các sở, ban, ngành; UBND các quận, huyện, thị xã tập trung rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Tích cực, chủ động trong việc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và nhiệm vụ được giao theo chỉ đạo của Chính phủ, UBND thành phố, bảo đảm việc hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đăng ký doanh nghiệp với Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin “một cửa” điện tử cấp bộ, hệ thống thông tin “một cửa” điện tử của thành phố phục vụ xác thực, định danh, cắt giảm, đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ công dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa”.

Cùng với đó, hoàn thành việc số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính còn hiệu lực đạt tối thiểu tương ứng 30%, 20% và 15% đối với kết quả thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp thành phố, cấp huyện, cấp xã để bảo đảm việc kết nối chia sẻ dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

UBND thành phố cũng giao các sở, ban, ngành; UBND các quận, huyện, thị xã tiếp tục mở rộng việc sử dụng văn bản điện tử (trừ văn bản mật), chữ ký số, xử lý công việc trên môi trường điện tử, bảo đảm đồng bộ trong triển khai thực hiện ở các cấp chính quyền, không gửi kèm bản giấy, thực hiện lưu trữ điện tử và hoàn thành các chỉ tiêu theo chỉ đạo của UBND thành phố; rà soát, chuẩn hóa dữ liệu tại các hệ thống thông tin “một cửa” điện tử dùng chung của thành phố; đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định… (Hanoimoi.com.vn 11/5, Thúy Nga)Về đầu trang

Hà Nội: Nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp

UBND thành phố Hà Nội vừa phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của 22 sở và cơ quan tương đương sở, 30 UBND quận, huyện, thị xã trên địa bàn.

Theo đó, ở khối các sở, cơ quan tương đương sở, Sở Tài chính Hà Nội có Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 đạt cao nhất với 92,76 điểm; thấp nhất khối này là Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội với 76,27 điểm. Ðối với UBND các quận, huyện, thị xã, UBND quận Cầu Giấy có Chỉ số cải cách hành chính đạt cao nhất với tổng điểm là 94,22 điểm; đứng cuối trong nhóm này là UBND huyện Quốc Oai với 83,86 điểm. Nhìn vào kết quả có thể thấy những tín hiệu đáng mừng; nhiều đơn vị nỗ lực bứt phá, vươn lên mạnh mẽ, phát huy mặt mạnh, khắc phục hạn chế để giảm bớt phiền hà và tăng sự hài lòng hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Năm nay, thứ hạng trên bảng xếp hạng các đơn vị của thành phố trong nhóm dẫn đầu có những thay đổi nhất định. Ở khối quận huyện, quận Cầu Giấy tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu. Kết quả ấy phản ánh rõ những nỗ lực của địa phương trong việc công khai, minh bạch, cắt giảm thời gian và quy trình giải quyết các thủ tục hành chính một cách khoa học. Quận chủ động chấm chỉ số, đo lường mức độ hài lòng của tổ chức, công dân đối với các vấn đề “nóng”, không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức. Trong khi đó ở khối sở, ngành, Sở Tài chính có những tiến bộ vượt bậc, từ vị trí thứ sáu năm 2019 đã vươn lên vị trí dẫn đầu năm 2020 nhờ nhiều giải pháp quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính, cũng như linh hoạt công tác điều tiết thu - chi của thành phố trong bối cảnh ngân sách gặp nhiều khó khăn bởi dịch bệnh.

Từ thực tế cho thấy, cải cách hành chính không phải là việc “tốn quá nhiều tiền bạc”, mà chỉ cần người đứng đầu quyết tâm và sự vào cuộc tích cực của cán bộ công chức, việc đơn giản hóa thủ tục, nâng cao chất lượng phục vụ hoàn toàn trong tầm tay. Như nhìn từ quận Cầu Giấy, năm 2016, chỉ số cải cách hành chính của quận đứng thứ 18 trong 30 quận, huyện, thị xã của thành phố; đến năm 2017, quận đã vươn lên vị trí thứ chín, đến năm 2018, quận xếp thứ tư và đã vươn lên vị trí dẫn đầu từ năm 2019 đến nay. Ðiều đó cho thấy, chính những chỉ số được công bố hằng năm đã giúp mỗi đơn vị có sự nhìn nhận, phân tích kỹ lưỡng và đề ra hướng duy trì, cải thiện của riêng mình.

Trong khi nhiều đơn vị tăng điểm hoặc giữ vững những vị trí cao, vẫn còn có những đơn vị nhiều năm “dậm chân” ở cuối bảng xếp hạng. Ðiều đáng nói, trong số này không ít đơn vị là những “địa chỉ” người dân phải thường xuyên tiếp xúc về thủ tục hành chính. Hy vọng sau mỗi lần xếp hạng, những nơi bị “điểm kém” cần nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá lại và có những giải pháp hiệu quả hơn trong cải cách thủ tục hành chính, cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. (Nhân dân 11/5, trang Hà Nội, Khải Hưng)Về đầu trang

Tuyên Quang nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư

Trong những năm qua, tỉnh Tuyên Quang đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tỉnh xây dựng bộ chỉ số DCI - bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp huyện, thành phố, các sở, ngành, địa phương; hằng năm, tiến hành khảo sát, công bố xếp hạng chỉ số này. Ðây cũng là cơ sở giúp tỉnh xác định các “điểm nghẽn” trong chỉ đạo, điều hành, từ đó giải quyết các nút thắt, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư.

Ðến năm 2020, chỉ số năng lực cạnh tranh của Tuyên Quang xếp thứ 31 trong số 63 tỉnh, thành phố, tăng 32 bậc so với năm 2013. Hiện tỉnh đang là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Năm 2020, tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 237 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh là 1.906 doanh nghiệp. Ðồng thời, tỉnh chấp nhận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 31 dự án với tổng số vốn đăng ký 4.466 tỷ đồng.

Năm 2021, tỉnh phấn đấu tăng từ hai đến bốn bậc trên bảng xếp hạng chỉ số PCI, nằm trong tốp khá cả nước. Do đó, tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc giải quyết, rà soát, loại bỏ và đơn giản hóa các thủ tục hành chính ở mỗi cơ quan, đơn vị; công khai quy trình giải quyết thủ tục hành chính. Ðồng thời, duy trì việc gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với doanh nghiệp và thực hiện thí điểm giao Sở Kế hoạch và Ðầu tư làm đầu mối tổ chức việc tiếp nhận, trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư thực hiện dự án nằm ngoài khu công nghiệp. Triển khai thực hiện cắt giảm triệt để chi phí bất hợp lý trong tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh, đẩy lùi và ngăn chặn các hành vi làm phát sinh chi phí không chính thức của doanh nghiệp; tạo một môi trường kinh doanh chi phí thấp, ổn định… (Nhân dân 11/5)Về đầu trang

Cục Hải quan Đà Nẵng giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính

Ngày 29/4/2021, Cục Hải quan Đà Nẵng ban hành Thông báo số 863/TB-HQĐNg về giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Theo đó, Cục Hải quan Đà Nẵng sẽ thực hiện giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính đối với 02 loại thủ tục, gồm: Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô không nhằm mục đích thương mại và Thủ tục công nhận địa điểm kiểm tra hàng hóa tại chân công trình hoặc cơ sở sản xuất, nhà máy. 

Cụ thể, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, tạm nhập khẩu xe ô tô không nhằm mục đích thương mại sẽ giảm từ 07 ngày làm việc (theo quy định tại điểm b.3 khoản 1 Điều 4 Chương II Thông tư số 143/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính) xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đầy đủ hồ sơ, trừ những trường hợp phức tạp, cần xác minh tại địa bàn, xác minh đối tượng nhập khẩu và phải chờ xác nhận của các cơ quan liên quan khác.

Thủ tục công nhận địa điểm kiểm tra hàng hóa tại chân công trình hoặc cơ sở sản xuất, nhà máy sẽ giảm từ 05 ngày làm việc (theo quy định tại Điều 102 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính) xuống còn 04 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đầy đủ hồ sơ.

Việc giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính nêu trên của Cục Hải quan Đà Nẵng nhằm rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, là giải pháp thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn TP. Đà Nẵng. (Tapchitaichinh.vn 11/5)Về đầu trang

Đồng Nai: Quét QR code trên thẻ CCCD có gắn chíp để kiểm tra thông tin công dân

Để tạo thuận lợi cho công dân trong quá trình giao dịch hành chính, dân sự, mới đây Công an tỉnh Đồng Nai đã có văn bản gửi các sở, ban ngành đoàn thể và UBND các huyện, thành phố thông báo về việc khai thác thông tin trong mã QR code trên thẻ căn cước công dân (CCCD) thay thế giấy xác nhận số CMND.

Theo đó, mã QR code được in ở mặt trước, phía góc phải trên cùng của thẻ CCCD là nơi lưu thông tin về số CMND 9 số của công dân, mã hóa toàn bộ các thông tin của người dân như: Họ tên, năm sinh, quê quán, địa chỉ... Chỉ cần dùng máy quét mã thì toàn bộ các thông tin của người dân sẽ hiện lên phần mềm.

Công an tình đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quá trình giao dịch hành chính, dân sự sử dụng quét mã QR code để kiểm tra thông tin số chứng minh nhân dân của công dân trên thẻ CCCD mẫu mới không yêu cầu công dân xuất trình giấy xác nhận chứng minh nhân dân (thông tin trong mã code đã được Bộ Công an xác thực). (Baodongnai.com.vn 11/5, Kim Liễu)Về đầu trang

Bắc Giang: Chuyển đổi số trên nền sẵn có

Nhằm ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giúp địa phương, người dân, doanh nghiệp (DN) vươn lên phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh Bắc Giang đang tập trung chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số (CĐS). Dựa trên những nền tảng sẵn có, tỉnh Bắc Giang xác định chiến lược CĐS trước mắt tập trung vào ba trụ cột chính là: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Trước đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang đã ban hành Nghị quyết số 433-NQ/TƯ ngày 4/5/2019 về phát triển công nghệ thông tin (CNTT) trên địa bàn giai đoạn 2019-2025 trên ba trụ cột chính là phát triển kết cấu hạ tầng CNTT, xây dựng các hệ thống phần mềm CNTT đồng bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT.

UBND tỉnh cũng phê duyệt quy hoạch phát triển CNTT đến năm 2020 và định hướng 2030; kiến trúc chính quyền điện tử và nhiều đề án, chương trình, kế hoạch thực hiện. Mới đây, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện chương trình hành động thúc đẩy CĐS và đang tham mưu xây dựng Nghị quyết của Tỉnh ủy về CĐS tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

Với sự chỉ đạo vào cuộc chủ động, tích cực, nhạy bén, đến nay, Bắc Giang đã chuẩn bị được nhiều nền tảng cơ bản để phát triển CĐS, đặc biệt là chính quyền số. Trong đó, hạ tầng và nền tảng số phục vụ CĐS cũng được thực hiện khá hiệu quả. Cụ thể, tỉnh có trạm thu phát sóng phát triển mạnh với 1.422 trạm, phủ sóng 3G, 4G đến 100% xã, phường.

Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh được đầu tư bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, phục vụ tốt việc cung cấp, khai thác dữ liệu của các cấp, ngành và tích hợp với dữ liệu quốc gia. Hệ thống phần mềm quản lý văn bản, điều hành công việc được triển khai đến 100% cơ quan liên thông 4 cấp; xử lý văn bản không giấy tờ (chữ ký số); tổng số dịch vụ công mức độ 3, 4 trên Cổng thông tin dịch vụ công tỉnh là 1.077 hồ sơ.

Dựa trên nền tảng có sẵn, các cơ quan, đơn vị, địa phương, DN cũng có kế hoạch CĐS riêng, phù hợp. Ví như tại Hiệp Hòa, với “tài nguyên” có sẵn về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, dữ liệu… huyện bắt tay ngay vào CĐS, trong đó trước tiên là chính quyền số. Ông Hoàng Công Bộ, Chủ tịch UBND huyện chia sẻ: “Huyện xác định đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo bước đột phá, mang lại giá trị cho người dân, DN và KT-XH địa phương.

Vì vậy, hằng năm huyện bố trí từ 3-4 tỷ đồng cho nhiệm vụ này. Riêng năm 2020, Hiệp Hòa đầu tư 3,6 tỷ đồng xây dựng trụ sở bộ phận một cửa huyện; đầu tư trang thiết bị, đường truyền Internet phục vụ cho hoạt động tại bộ phận một cửa và các ngành giáo dục, y tế cũng như người dân và DN sử dụng một cách hiệu quả nhất”.

Nhờ vậy, đến quý I năm 2021, bộ phận một cửa cấp huyện, xã tiếp nhận gần 4,1 nghìn hồ sơ, tỷ lệ giải quyết đạt 85%, trong đó trước hạn là 25%, không có hồ sơ chậm, muộn; tỷ lệ văn bản chuyển đi trong các cơ quan, đơn vị có chữ ký số chiếm hơn 80%.

Tuy nhiên, do là huyện nông nghiệp và từng bước tập trung phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị nên vẫn còn khó khăn về nguồn vốn, hạ tầng CNTT; một bộ phận cán bộ khối Đảng, đoàn thể chưa đi đầu trong thực hiện, nhất là sử dụng chữ ký số để giải quyết công việc trên môi trường mạng nên chưa theo kịp tiến độ chung của tỉnh đặt ra. Đây là vấn đề huyện tập trung khắc phục. (Baobacgiang.com.vn 10/5)Về đầu trang

Các cơ quan tại Hà Tĩnh kiểm soát ra vào bằng quét QR Code

Hà Tĩnh đã yêu cầu tất cả các cơ quan, đơn vị, địa điểm kinh doanh niêm yết, kiểm soát việc ra vào đơn vị thông qua QR Code, sử dụng một trong các ứng dụng NCOVI, Bluezone, tokhaiyte.vn.

Đây là một trong những biện pháp nhằm tăng cường áp dụng các giải pháp CNTT trong phòng, chống dịch Covid-19, góp phần giúp truy vết, ngăn chặn, khoanh vùng, cách ly, dập dịch hiệu quả.

UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu lãnh đạo các sở ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và UBND các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn chỉ đạo đẩy mạnh khai báo y tế điện tử qua mã QR Code. Việc này được thực hiện qua một trong những phần mềm ứng dụng tokhaiyte.vn, Bluezone hoặc NCOVI.

Cùng với đó, từ ngày 9/5, theo thẩm quyền được giao, lãnh đạo các sở, ngành, địa phương phải chỉ đạo tất cả cơ quan, bệnh viện, trường học, công ty, đơn vị, siêu thị, khách sạn, cơ sở lưu trú, nhà hàng, khách sạn, quán ăn, cà phê, phương tiện vận chuyển công cộng…. đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Đặc biệt, yêu cầu 100% cơ quan, đơn vị, địa điểm kinh doanh sử dụng mã QR Code cho cơ quan, đơn vị mình tại trang tokhaiyte.vn; đồng thời niêm yết, kiểm soát việc ra vào cơ quan, đơn vị thông qua mã QR Code, sử dụng một trong các phần mềm tokhaiyte.vn, NCOVI, Bluezone. (Ictnews.vietnamnet.vn 11/5, M.T)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tiền lương phải đúng ý nghĩa tiền lương, phần cứng phải cao hơn phần mềm

Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi lần này được kỳ vọng sẽ có những giải pháp, đột phá để thực hiện được lộ trình cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân.

Người nghỉ hưu thường đồng hành với bệnh tật, không có thu nhập khác, sức lao động cạn dần, mức sống bị giảm do đồng tiền bị trượt giá; cuộc sống rất khó khăn. Trong khi đó, năm 2020 và 2021, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 nên những người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không được tăng lương. Bên cạnh đó, số người không tham gia bảo hiểm xã hội khi về già sẽ không có lương hưu. Đây sẽ là gánh nặng cho an sinh xã hội. Do đó, điều cần hướng tới là làm sao để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội có thể duy trì thời gian đóng BHXH để về già có sổ hưu và không hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần.

Để làm được điều đó, một mặt phải tuyên truyền để người dân hiểu được lợi ích của lương hưu, không chỉ ở khoản lương hằng tháng mà còn là bảo hiểm y tế khi họ về già. Vì thế, quy định để người lao động có thêm cơ hội có lương hưu bằng cách giảm thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu, thay vì phải đóng tối thiểu 20 năm thì có thể giảm xuống 15 năm, 10 năm như nhiều nước đang làm là điều hợp lý và khuyến khích người lao động tham gia. Việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp xã hội là vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm kịp thời hỗ trợ khó khăn cho người nghỉ hưu, đồng thời thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa những người nghỉ hưu ở các thời kỳ. Dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đang hướng đến tạo cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề này.

Đánh giá về Dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), ông Phạm Minh Huân- nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH cho rằng, các đề xuất chủ yếu tập trung vào "những điều chưa làm được", chứ không phải giải quyết "vấn đề đang tồn tại". Đáng chú ý, một số chính sách mới được đề ra lần này đứng trước nhiều thách thức trong thực hiện. Đơn cử như việc giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu là xu thế của nhiều quốc gia, song Chính phủ thường có chính sách đi kèm như tạo thu nhập cao, việc làm bền vững, hỗ trợ bảo hiểm xã hội tự nguyện..

Bên cạnh đó, mức hưởng bao nhiêu cũng phải tính toán, bởi Luật hiện hành quy định đóng tối thiểu 20 năm, hưởng thấp nhất 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội; nếu rút ngắn còn 10-15 năm, mức hưởng có thể chỉ còn trong khoảng 20%-25%, dẫn đến lương hưu chỉ trên dưới 1 triệu đồng thì cũng khó đảm bảo cuộc sống cho người lao động.

Hay việc "siết chặt" điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Năm 2015, khi sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Ban soạn thảo từng đề xuất hạn chế nhận bảo hiểm xã hội một lần tại Điều 60, nhưng chưa thực hiện được vì công nhân tại một số địa phương phản ứng, Chính phủ sau đó phải kiến nghị Quốc hội sửa đổi quy định này theo hướng để người lao động tự chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần hoặc bảo lưu để đóng tiếp nếu có điều kiện. "Sửa Luật để mở rộng diện bao phủ, tiến tới bảo hiểm xã hội toàn dân, tăng số người được hưởng lương hưu là điều cần thiết. Song sẽ là thách thức lớn, khi chính sách bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam quá nhanh"- ông Huân nhấn mạnh.

Cũng theo ông Huân, khi sửa Luật Bảo hiểm xã hội, nên khởi động lại quy định hạn chế nhận bảo hiểm xã hội một lần. Theo đó, trong phần đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (người lao động 8%, chủ  sử dụng lao động 18%) thì người lao động có thể rút 8% đã đóng; phần còn lại do doanh nghiệp đóng sẽ giữ lại trong quỹ Bảo hiểm xã hội để sau này chi trả khi họ đến tuổi hưu. Điều kiện cụ thể ra sao và tuyên truyền thế nào để người lao động đồng thuận, tránh lặp lại "vết xe đổ" của Điều 60 như 6 năm trước hay như bài học Chính sách 176 "về một cục" cũng còn đó. người lao động muốn rút bảo hiểm xã hội một lần mua ô tô để đầu tư cho cuộc sống chẳng hạn, là việc lúc trẻ, còn về già thì sao? Chính sách cần nhìn đến đoạn họ không còn làm việc được nữa, ốm đau, bệnh tật, không có lương hưu, Nhà nước sẽ phải chi trả bằng trợ cấp xã hội. Mức trợ cấp xã hội hiện hành vài trăm nghìn đồng trông "có vẻ ít", nhưng hàng triệu người dồn lại là gánh nặng lớn mà Nhà nước phải lo; chưa kể trên 60% người già Việt Nam hiện không có lương hưu.

"Như ý kiến than thở nhiều người già không có lương hưu, nhưng không tham gia lấy đâu ra lương hưu. Nhà nước chỉ hỗ trợ, người lao động phải cùng lo việc này" - ông Huân cho hay.

Cũng theo ông Lợi, người dân lo ngại việc Dự thảo "làm khó" việc nhận bảo hiểm xã hội một lần là không đáng vì chính sách bảo hiểm xã hội một lần không mất được. Ví như, người ốm đau bệnh tật, di chuyển ra nước ngoài... không tham gia được nữa thì bắt buộc phải được giải quyết. Nhóm đối tượng nhận bảo hiểm xã hội một lần là nhóm đặc thù, cần thiết.

Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam trên 2.700 USD chưa phải mức cao. Song "chiếc bánh" thu nhập vẫn cần phải chia phần cho chi tiêu hiện tại và để dành khi về già. Muốn người lao động đảm bảo được cuộc sống thì phải nâng thu nhập trung bình lên bằng mở rộng sản xuất, tạo việc làm bền vững; đồng thời cần minh bạch đóng- hưởng bảo hiểm xã hội. "Trong khu vực chính thức vẫn phải duy trì tăng mức đóng trên cơ sở tăng mặt bằng tiền lương, nghĩa là cải cách bảo hiểm xã hội phải đi đôi với cải cách tiền lương. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội bắt buộc mới được 30% thì khó gọi là an sinh xã hội. Về lâu dài, cần kéo lao động khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức, tiến tới đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và Nhà nước hỗ trợ một phần cho những người có mức đóng thấp"- ông Huân chia sẻ.

Về mức đóng bảo hiểm xã hội, ông Bùi Sỹ Lợi cho rằng cơ quan quản lý nhà nước phải làm sao để mức đóng đạt mức 70% tổng thu nhập tiền lương, theo quy định của pháp luật về lao động và nghị quyết của Trung ương.

"Tiền lương phải đúng ý nghĩa tiền lương, phần cứng phải cao hơn phần mềm, chứ không như hiện nay phần mềm đang lớn hơn phần cứng, không phản ánh đúng bản chất của tiền lương. Tiền lương là thước đo giá trị sức lao động phải bằng 70%, 30% là các khoản phụ cấp. Khi đóng bảo hiểm xã hội phải đóng 70% mức thực chất tiền lương thực nhận để mức đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội cao lên, mức nhận cũng cao lên" - ông Lợi nói.

Về ý nghĩa của việc nhận nhiều - đóng nhiều, ông Lợi cho rằng quan trọng nhất còn là để giảm mất cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn. Việc này cũng bổ trợ để giảm dần thời gian đóng từ 20 năm xuống 15 năm và có thể xuống 10 năm.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Huân nhấn mạnh: "Lương hưu cũng hiểu là cân bằng mức đóng - hưởng. Việc có thể nhận lương hưu sau 10 năm đóng bảo hiểm xã hội là có thể nhưng mức lương nhận được sẽ rất thấp. Người đóng thấp vẫn nên cho hưởng lương hưu, dù thấp, thay vì hưởng bảo hiểm xã hội  một lần vì trả 1 cục họ sẽ tiêu hết, sau này cuộc sống bấp bênh".

Về việc giảm thời gian có thể hưởng bảo hiểm xã hội trong Dự thảo, ông Lợi nêu quan điểm nếu giảm thời gian phải dựa trên mức đóng cao hơn để cân bằng quỹ. Gốc rễ quy định thời gian đóng là muốn nhiều người tham gia bảo hiểm xã hội và không vội vã lấy bảo hiểm xã hội1 lần ra để ăn ngay. (Nld.com.vn 11/5)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo 

More

Lượt truy cập: 12.013.475 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này