Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 05/9/2022
1. Điều gì giúp nâng tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ lên hơn 51%?
2. Bắc Giang: Chính quyền thân thiện, người dân tin tưởng
3. Chuyển đổi số ở cực Nam Tổ quốc
4. Vấn đề dữ liệu trong xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng
5. Giảm phiền hà cho công dân về thủ tục hành chính, giao dịch dân sự
6. Chuyển đổi số trong lĩnh vực hộ tịch, tạo thuận lợi tối đa cho người dân
7. Bốc thăm ngẫu nhiên xác minh tài sản, thu nhập cần tránh để "sót" lãnh đạo
8. Tìm lại động lực cải cách cho đội ngũ thực thi
9. Lợi ích từ chuyển đổi số trong ngành y tế ở Ấn Độ
10. Nam Phi: Cảnh báo nạn tham nhũng, lạm dụng quyền lực trong ngành Giáo dục
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Điều gì giúp nâng tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ lên hơn 51%?
Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ TT&TT, tính đến ngày 20/8, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ của cả nước đã đạt 51,49%, tăng 4,6% so với tháng 7 và gấp 1,6 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong tháng 8 vừa qua, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã giao cụ thể chỉ tiêu thực hiện dịch vụ công trực tuyến cho các cơ quan hành chính cấp tỉnh, UBND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn trong năm nay.
Theo đó, đến cuối năm 2022, các cơ quan hành chính cấp tỉnh (trừ Thanh tra tỉnh), cùng UBND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn Bà Rịa - Vũng Tàu cần đưa tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ đạt tối thiểu 80%. Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến đạt tối thiểu 60% với cơ quan hành chính cấp tỉnh và ít nhất 50% với UBND cấp huyện, xã.
Trước Bà Rịa - Vũng Tàu, trong các tháng gần đây, đã có nhiều địa phương ra quyết định giao chỉ tiêu về tỷ lệ dịch vụ công phát sinh hồ sơ trực tuyến và tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến tới từng cơ quan nhà nước trên địa bàn, đó là: Cao Bằng, Cần Thơ, Bến Tre, Bắc Kạn, Sơn La, Ninh Thuận, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Yên Bái...
Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ trực tuyến và tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến là 2 chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả cung cấp và sử dụng dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trong phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trên thực tế, giải pháp giao chỉ tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao tới các cấp chính quyền cơ sở tại các tỉnh, thành phố đã phát huy tác dụng trong thời gian qua, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến của các địa phương.
Đơn cử như, tại Thái Nguyên, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ đã được nâng từ 28% trong quý I lên đạt khoảng 60% vào cuối quý II. Một trong những nguyên nhân giúp nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại địa phương này, theo đại diện Sở TT&TT Thái Nguyên, là do UBND tỉnh đã giao cụ thể chỉ tiêu thực hiện dịch vụ công online cho các sở, ngành, địa phương.
Hay với tỉnh Yên Bái, tính đến giữa năm nay, đã có 676 thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến mức 4 tại 18/19 sở, ban ngành, 9/9 huyện thị xã, thành phố và 173/173 xã, phường, thị trấn. Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến mức độ 4 đạt 73,57% và tỷ lệ thủ tục hành chính cung cấp trực tuyến mức 4 có phát sinh hồ sơ đạt 100%.
Trao đổi với ICTnews, đại diện Sở TT&TT tỉnh Yên Bái cho hay, kết quả trên có được là nhờ tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có việc giao chỉ tiêu về cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho các sở, ban, ngành, địa phương.
Trên phạm vi toàn quốc, tính đến trung tuần tháng 8, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ trực tuyến đã đạt 51,49%, gấp 1,6 lần so với cùng kỳ năm 2021; tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến đạt 39,82%, tăng gần 1,3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, một số dịch vụ công trực tuyến đã phát huy hiệu quả rõ rệt phục vụ người dân có thể kể đến là dịch vụ đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT; dịch vụ đăng ký, cấp biển số mô tô, xe gắn máy; dịch vụ cấp hộ chiếu phổ thông.
Có thể thấy rằng, việc cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao đã có được những chuyển biến tích cực trong thời gian qua. Nguyên nhân giúp cải thiện các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4 được nhận định là do giai đoạn vừa qua các địa phương đã đôn đốc và giao chỉ tiêu thực hiện đến từng sở ngành, quận huyện. Vì vậy, các đơn vị đã tích cực triển khai, vận động người dân, doanh nghiệp chọn dùng dịch vụ công trực tuyến.
Theo thống kê, đến nay 97,3% dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đã được các bộ, ngành, địa phương đưa lên cung cấp online mức 4 cho người dân, doanh nghiệp. Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số cũng đã xác định rõ mục tiêu đến cuối năm nay các bộ, tỉnh cần phải nâng tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ trực tuyến lên đạt 80% và tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến đạt 50%. (ICTNews.vn 05/9, Vân Anh) Về đầu trang
Bắc Giang: Chính quyền thân thiện, người dân tin tưởng
Cùng với việc thực hiện nghiêm kỷ cương công sở, Bắc Giang đang triển khai nhiều mô hình mới nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả hơn; văn hóa ứng xử giữa cán bộ và nhân dân thay đổi tích cực . Một trong những mô hình đã, đang phát huy hiệu quả và được người dân ghi nhận đó là mô hình "Chính quyền thân thiện".
Năm 2021, Bắc Giang triển khai thí điểm mô hình “Chính quyền thân thiện” tại xã Hợp Đức (Tân Yên), phường Trần Phú (TP Bắc Giang), thị trấn Đồi Ngô (Lục Nam). Đến nay đã nhân rộng ra các huyện, TP với 26 mô hình. Qua đó từng bước làm thay đổi nhận thức của cán bộ, công chức theo hướng cởi mở, thân thiện, nâng cao trách nhiệm phục vụ và được người dân đánh giá cao.
Những năm gần đây, chỉ số hài lòng của tổ chức, công dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước luôn ở mức cao (trên 90%). Nói về mô hình "Chính quyền thân thiện" của phường Lê Lợi (TP Bắc Giang), chị Nguyễn Thị Vân (tổ dân phố Dân Chủ) chia sẻ: “Tôi rất vui khi trực tiếp đồng chí Chủ tịch UBND phường có mặt tại bộ phận một cửa để trao giấy khai sinh và chúc mừng gia đình. Ngoài ra, phường còn gửi tặng tấm thiệp chúc mừng gia đình có thêm thành viên mới. Chúc bé mạnh khỏe, hay ăn, chóng lớn kèm theo hướng dẫn khi chăm sóc trẻ sơ sinh”.
Ông Lê Xuân Trường, Chủ tịch UBND phường cho biết: “Để các thủ tục hành chính (TTHC) được giải quyết trôi chảy, hằng ngày UBND phường phân công luân phiên một đồng chí lãnh đạo trực, ký, giải quyết hồ sơ tại bộ phận một cửa, bảo đảm các hồ sơ về hộ tịch, chứng thực được tiếp nhận và trả kết quả ngay cho công dân. Phường soạn các mẫu thư (xin lỗi, cảm ơn, chúc mừng, chia buồn); tổ chức trao giấy chứng nhận kết hôn (trường hợp kết hôn lần đầu), giấy khai sinh cho công dân tại bộ phận một cửa”.
Từ đầu năm đến nay, phường Lê Lợi đã gửi gần 200 thư, chủ yếu là chúc mừng gia đình có thêm thành viên mới và kết hôn; không có thư xin lỗi do chậm muộn, quá hạn giải quyết TTHC.
Chị Nguyễn Thị Phương, tổ dân phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Đồi Ngô (Lục Nam) cũng bày tỏ sự phấn khởi khi đến làm TTHC ở bộ phận một cửa thị trấn. Theo chị Phương, phòng làm việc được sắp xếp gọn gàng, có khu vực riêng để công dân ngồi chờ với nhiều sách báo, wifi miễn phí, sạc điện thoại... Ngoài ra cán bộ cũng tận tình hướng dẫn, hồ sơ giải quyết nhanh chóng.
Ông Nguyễn Thái Thu, Bí thư Đảng ủy thị trấn cho biết: “Trong mọi hoạt động của chính quyền thân thiện, Đảng ủy, UBND thị trấn đều lấy người dân làm trung tâm phục vụ. Từ đầu năm đến nay, định kỳ hằng tháng cán bộ chuyên môn tổng hợp ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân khi đến giao dịch tại bộ phận một cửa. Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ có những giải pháp phù hợp, nâng hiệu quả hoạt động”. Được biết, tỷ lệ công dân đánh giá mức độ "rất hài lòng" đạt hơn 94%.
Trên tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, 100% hồ sơ TTHC tại bộ phận một cửa cấp xã đều được giải quyết đúng và trước hạn. Ngoài ra, UBND các xã, phường, thị trấn luôn quan tâm lắng nghe, chia sẻ những bức xúc, nguyện vọng, giải trình kịp thời mối quan tâm chính đáng của nhân dân thông qua buổi đối thoại.
Từ đó kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Mới đây, phường Trần Phú (TP Bắc Giang), xã Hợp Đức (Tân Yên) lắp đặt 25 cụm loa truyền thanh thông minh tại các thôn, tổ dân phố; thuận lợi, hiệu quả hơn trong tuyên truyền, phổ biến thông tin.
Ngày 21/12/2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang ban hành Công văn số 924-CV/TU về việc nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong phục vụ người dân, doanh nghiệp; đề ra các giải pháp nâng cao chỉ số PCI, PAR INDEX, SIPAS, PAPI của tỉnh Bắc Giang và chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng mô hình điểm “Chính quyền thân thiện”, “Công an xã tận tụy, gắn bó, thân thiện, vì nhân dân phục vụ”. Trong đó xác định mục tiêu đến hết năm 2022, 100% xã, phường, thị trấn hoàn thành mô hình.
Từ hiệu quả ở các địa phương, một số đơn vị đã chủ động nghiên cứu thí điểm, nhân rộng mô hình. Đơn cử như huyện Yên Dũng triển khai thí điểm tại xã Đồng Phúc, Lãng Sơn từ tháng 3/2022; Hiệp Hòa thực hiện tại thị trấn Thắng và xã Đoan Bái; Việt Yên xây dựng tại thị trấn Bích Động và xã Việt Tiến.
Các phường, xã, thị trấn đã vận hành đồng bộ mô hình “Chính quyền thân thiện” và mô hình “Công an xã tận tụy, gắn bó, thân thiện, vì nhân dân phục vụ”. Tại bộ phận một cửa đã niêm yết công khai TTHC bằng mã QR và số điện thoại của lãnh đạo UBND xã, tổ kiểm tra công vụ cấp tỉnh, cấp huyện để tiếp nhận ý kiến phản ánh. Cùng đó bố trí khu vực ngồi chờ, trang thiết bị hiện đại; duy trì tốt hệ thống tin nhắn trả kết quả cho tổ chức, công dân.
Lắp đặt hòm thư góp ý, hòm thư tố giác tội phạm đặt tại trụ sở UBND cấp xã và nhà văn hóa thôn, tổ dân phố. Các khẩu hiệu như “3 phải, 3 không”, “4 xin, 4 luôn, 5 không”… được treo trang trọng, thể hiện quyết tâm xây dựng nền hành chính vì dân của cấp ủy, chính quyền. Đặc biệt là tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức có nhiều chuyển biến; tiếp đón niềm nở, hướng dẫn tận tình và trả kết quả nhanh chóng. (Baobacgiang.com.vn 03/9, Hoài Thu)Về đầu trang
Chuyển đổi số ở cực Nam Tổ quốc
Để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, ngành chức năng tỉnh Cà Mau đã đề ra những chiến lược phát triển cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Huỳnh Quốc Việt lưu ý để thực hiện chuyển đổi số thành công, cần phải bắt đầu từ người dân, lấy người dân làm trung tâm.
Trong đó, Cà Mau ưu tiên các giải pháp rút ngắn chi phí, thời gian thực hiện thủ tục hành chính, đẩy mạnh giao dịch trực tuyến... Địa phương này tập trung cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, đẩy mạnh tiến độ thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa các quy trình, thủ tục hành chính.
Ông Trần Quốc Chính, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cà Mau, cho biết địa phương quyết tâm hiện thực hóa chương trình chuyển đổi số với 3 trụ cột: xây dựng chính quyền số, nền kinh tế số và xã hội số. Cà Mau đã đạt được những kết quả tích cực về phát triển hạ tầng số, như: 100% xã, phường, thị trấn đã có cáp quang tới khu vực trung tâm; 100% trường học, bệnh viện có kết nối internet băng thông rộng; tỉ lệ dân số được phủ sóng di động đạt 100%.
"Tất cả các cơ quan nhà nước đã được trang bị hệ thống mạng cục bộ, kết nối internet tốc độ cao. Trung tâm dữ liệu chính và trung tâm dữ liệu dự phòng của tỉnh tiếp tục được đầu tư, bổ sung thiết bị để nâng cao năng lực hoạt động…" - ông Chính thông tin.
Cà Mau chú trọng phát triển hệ thống nền tảng số, triển khai nền tảng điện toán đám mây tại trung tâm dữ liệu tỉnh, sử dụng giải pháp công nghệ ảo hóa, nền tảng tích hợp để chia sẻ dữ liệu. Bước đầu, Cà Mau đã kết nối các ứng dụng với những cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin như: hộ tịch, tư pháp, bảo hiểm xã hội, đăng ký doanh nghiệp, cấp mã số cho đơn vị có quan hệ ngân sách, thanh toán quốc gia.
Về phát triển dữ liệu, Cà Mau có khoảng 142 phần mềm, hệ thống thông tin đang được sử dụng và khai thác tại các cơ quan, đơn vị nhà nước. Trong đó, trên 60 phần mềm, hệ thống thông tin do địa phương triển khai.
Về ứng dụng, dịch vụ phục vụ chính quyền và người dân, trên 650 cơ quan, đơn vị trên địa bàn Cà Mau đã triển khai hệ thống quản lý văn bản và điều hành (iOffice). Cà Mau đã triển khai chữ ký số chuyên dùng cho 1.316 cơ quan Đảng và nhà nước; cấp 11.000 tài khoản hộp thư điện tử cho các cơ quan, đơn vị. Đầu năm 2021, tỉnh đã đưa vào vận hành hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ…
Đặc biệt, tỉnh cực Nam Tổ quốc này còn triển khai ứng dụng CaMau-G làm đại diện cho các hệ thống phần mềm chính quyền điện tử của tỉnh. Từ đó, tập trung về một đầu mối để hướng tới phục vụ đa dạng người dùng, tăng trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp trên môi trường số.
CaMau-G hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và du khách phản ánh những vấn đề bất cập trên địa bàn tỉnh. Qua đó, giúp cơ quan nhà nước có thể tiếp cận, xử lý nhanh chóng những thông tin phản ánh; giúp phát huy hiệu quả công tác quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp…
Thời gian qua, các lĩnh vực văn hóa, du lịch, giao thông vận tải… ở Cà Mau cũng được ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý, điều hành. Nhờ vậy, cơ quan chức năng tạo được sự hài lòng và niềm tin của người dân do thực hiện công khai, minh bạch.
Theo Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cà Mau, UBND tỉnh đã có chủ trương đầu tư Trung tâm Giám sát - Điều hành thông minh với tổng kinh phí 28 tỉ đồng. Đây là hệ thống hiển thị thông tin tập trung, bộ phận cốt lõi trong triển khai Chính phủ số, chính quyền số. Dự án này đang trong giai đoạn hoàn thiện hồ sơ chuẩn bị đầu tư.
"Trung tâm Giám sát - Điều hành thông minh sẽ hiện thực hóa các chức năng như: giám sát, chỉ đạo điều hành chỉ tiêu kinh tế - xã hội; giám sát, điều hành an ninh trật tự và giao thông đô thị; giám sát hoạt động của chính quyền địa phương. Sở Thông tin và Truyền thông đang tập trung đầu tư xây dựng trung tâm, dự kiến đưa vào vận hành vào cuối năm 2022" - ông Trần Quốc Chính cho hay.
Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Huỳnh Quốc Việt lưu ý để thực hiện chuyển đổi số thành công, cần phải bắt đầu từ người dân và lấy người dân làm trung tâm. "Các địa phương phải phối hợp chặt chẽ và nhân rộng những cách làm hay trong công tác chuyển đổi số" - ông Việt nhấn mạnh. (Nld.com.vn 05/9, Vân Du – Tâm Quân)Về đầu trang
Vấn đề dữ liệu trong xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng
Đà Nẵng xây dựng thành phố thông minh dựa trên hạ tầng dữ liệu. Việc sử dụng dữ liệu một cách thông minh giúp chuyển đổi quản lý và phát triển kinh tế theo xu hướng kinh tế số, xã hội số, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đời sống nhân dân, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
Từ những năm 2000, TP. Đà Nẵng đã bắt đầu triển khai chính quyền điện tử. Quá trình triển khai được tiếp cận tổng thể theo khung kiến trúc, đồng bộ trên 4 trụ cột: chính sách, hạ tầng, ứng dụng và nhân lực, nhằm phục vụ hoạt động quản lý của bộ máy hành chính Thành phố và cung cấp dịch vụ hành chính công cho các tổ chức, công dân.
Xây dựng thành phố thông minh là bước tiếp theo của xây dựng Chính quyền điện tử đã được triển khai dựa trên hạ tầng, dữ liệu, dịch vụ, với nguyên tắc “một nền tảng, đa đối tác, đa ứng dụng, người dân làm trung tâm”, trong đó vai trò của dữ liệu là nền tảng chính.
Với quan điểm chủ đạo “thành phố thông minh là mô hình quản lý đô thị, trong đó công nghệ số được sử dụng như một nền tảng để giải quyết những thách thức trong quản lý đô thị hiện đại dựa trên dữ liệu và thông tin được thu thập, lưu trữ, xử lý”, từ năm 2014, UBND Thành phố đã phê duyệt “Đề án Xây dựng thành phố thông minh hơn”. Theo đó, Thành phố đã phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ thông tin hàng đầu (Viettel, VNPT, FPT, Microsoft, Intel,…) triển khai thí điểm các ứng dụng thông minh trong một số lĩnh vực chuyên ngành.
Năm 2018, UBND Thành phố đã ban hành Kiến trúc tổng thể thành phố thông minh tại Quyết định số 164/QĐ-UBND ngày 11/1/2018, bao gồm 6 trụ cột và 16 lĩnh vực ưu tiên; chính thức ban hành, triển khai Đề án Xây dựng thành phố thông minh tại TP. Đà Nẵng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 6439/QĐ-UBND ngày 29/12/2018 với 3 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn đến năm 2020: sẵn sàng hạ tầng, nền tảng và dữ liệu thông minh; giai đoạn đến năm 2025: thông minh hóa các ứng dụng; giai đoạn đến năm 2030: thông minh hóa ứng dụng cộng đồng; hoàn thành xây dựng đô thị thông minh, kết nối đồng bộ với các mạng lưới đô thị thông minh trong nước và khu vực ASEAN (Nghị quyết số 43-NQTW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045).
Việc triển khai Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020), TP. Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 17/6/2021 và Đề án Chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Đến nay, xây dựng thành phố thông minh tại TP. Đà Nẵng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận về hạ tầng viễn thông; mạng đô thị thành phố (mạng MAN); trung tâm dữ liệu thành phố, kết nối; triển khai hệ thống thông minh, gồm quản trị thông minh, giao thông thông minh, đời sống thôn minh, môi trường thông minh, kinh tế thông minh…
Cùng với những thuận lợi, việc triển khai thành phố thông minh và chuyển đổi số của Đà Nẵng cũng đối mặt không ít khó khăn.
Thành phố thông minh dựa trên dữ liệu là ý tưởng của các quốc gia phát triển; các giải pháp, sản phẩm này phù hợp với các nước có nền kinh tế cao, trong khi Việt Nam có quy mô kinh tế thấp, Đà Nẵng có thu nhập bình quân đầu người chưa cao, nên việc lựa chọn giải pháp, quy mô đầu tư, hạng mục đầu tư và đầu tư vào lúc nào là những vấn đề cần đánh giá, phản biện...
Dữ liệu phải bảo đảm tính liên thông, liên vùng trong việc triển khai thành phố thông minh, cần có sự kết nối giữa các sở, ngành, quận, huyện; sự chia sẻ dữ liệu của các bộ, ngành Trung ương; sự đồng bộ từ lãnh đạo cao cấp đến chuyên viên để hệ thống thống nhất về dữ liệu, không tắc về quy trình, hệ thống không bị "bỏ đói". Đây là vấn đề hết sức khó khăn khi xây dựng và vận hành hệ thống.
Các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn dữ liệu chưa được chuẩn hóa trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, giao thông, môi trường. Chính sách thiếu nhất quán trong việc ban hành các văn bản quản lý nhà nước của từng ngành chưa hỗ trợ cho việc áp dụng công nghệ, cơ chế Sandbox chưa được thừa nhận để hỗ trợ việc thí điểm, dẫn đến nguy cơ phá vỡ kiến trúc, làm chậm quá trình xây dựng dữ liệu để phát triển thành phố thông minh. Các sản phẩm công nghệ số xu hướng là tích hợp với đa chức năng, trong khi chức năng quản lý nhà nước được phân công bởi nhiều cơ quan, trở thành rào cản khi lựa chọn đơn vị quản lý các sản phẩm công nghệ số, nên chưa tạo thuận lợi cho công nghệ mới….
Một số vấn đề khác liên quan đến kinh phí, hạ tầng dữ liệu, công tác truyền thông chưa đồng bộ cũng tạo không ít khó khăn.
Nhìn chung, dữ liệu có vai trò quyết định, là linh hồn để thông minh hóa. Qua thí điểm cho thấy, vai trò của lãnh đạo, tầm nhìn và sự cam kết thông qua chính sách là yếu tố quyết định; sự liên kết và đồng thuận tạo sự phối hợp tốt của các sở, ban, ngành và người dân để tạo ra thói quen, sự tin tưởng, tiện lợi hơn khi sử dụng dịch vụ đô thị thông minh.
Việc bảo đảm nguồn lực cần xác định, bên cạnh nguồn lực về con người (xây dựng mối liên kết “3 nhà” giữa nhà nước, nhà trường và nhà tuyển dụng), thì nguồn lực về tài chính đóng vai trò quan trọng để việc triển khai các thành phần (hạ tầng, kết nối, thông minh), bảo đảm tính đồng bộ và tạo ra các cơ hội mới.
Xây dựng thành phố thông minh cần lắng nghe sự tương tác, phản hồi của các chủ thể. Đây là quá trình lâu dài nhằm xác định khung kiến trúc tổng thể, mô hình để định hướng. Lộ trình là để cam kết, thể hiện các bước đi cụ thể của Thành phố. Đa đối tác tạo nên sự đồng hành của cộng đồng, tránh được “dò đá qua sông”, “trăm hoa đua nở”, “bị bắt làm con tin”, giảm thiểu rủi ro trong triển khai. (Baodautu.vn 04/9, Tiến sĩ Nguyễn Quang Thanh - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TP. Đà Nẵng) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Giảm phiền hà cho công dân về thủ tục hành chính, giao dịch dân sự
Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an vừa có văn bản đề nghị các bộ, ngành, địa phương phối hợp thực hiện một số nội dung để việc triển khai các quy định của Luật Cư trú được thống nhất, đồng bộ.
Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi, giảm phiền hà cho công dân trong thực hiện các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân (đặc biệt khi, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú có giá trị đến hết ngày 31-12-2022).
Ngày 13-11-2020, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Cư trú, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2021. Điều 38 Luật Cư trú quy định: “Khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký, khai báo về cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã cấp, thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của luật này và không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú”.
Công dân trực tiếp đến cơ quan đăng ký cư trú trong cả nước - không phụ thuộc vào nơi cư trú của công dân - để đề nghị cấp giấy xác nhận thông tin về cư trú hoặc gửi yêu cầu xác nhận thông tin về cư trú qua dịch vụ công trực tuyến khi cần thiết (Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công Bộ Công an, Cổng Dịch vụ công quản lý cư trú). Cơ quan đăng ký cư trú sẽ cấp giấy xác nhận thông tin về cư trú cho công dân dưới hình thức văn bản hoặc văn bản điện tử theo yêu cầu của công dân.
Bộ Công an đã chỉ đạo thực hiện cấp Thông báo số định danh và thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho 100% người dân chưa được cấp căn cước công dân trên toàn quốc, để người dân sử dụng giải quyết các thủ tục hành chính, các giao dịch dân sự cần chứng minh nơi cư trú của công dân. (Sggp.org.vn 05/9)Về đầu trang
Chuyển đổi số trong lĩnh vực hộ tịch, tạo thuận lợi tối đa cho người dân
Với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, giờ đây, người dân có thể ngồi tại nhà thực hiện các thủ tục hộ tịch. Điều này không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, mà còn tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số.
Công tác hộ tịch luôn được Bộ, ngành Tư pháp chú trọng, thực hiện nền nếp, kịp thời giải quyết các nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, đạt được một số thành quả nhất định. Bộ đã ban hành Thông tư số 01/2022/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị định số 87/2020/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đăng ký hộ tịch trực tuyến.
Theo đó, bản điện tử giấy tờ hộ tịch có giá trị sử dụng như giấy tờ hộ tịch bản giấy trong các giao dịch, thủ tục hành chính thực hiện trực tuyến; có giá trị thay thế các giấy tờ hộ tịch bản giấy khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an xây dựng Quy trình cấp định danh cá nhân cho công dân đăng ký khai sinh tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng Quy trình đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn trực tuyến để thực hiện tích hợp trên Cổng dịch vụ công cấp tỉnh/Cổng dịch vụ công cấp quốc gia…
Theo thống kê 6 tháng đầu năm 2022, Phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung ghi nhận có hơn 26,7 triệu hồ sơ đăng ký khai sinh; hơn 3,9 triệu hồ sơ đăng ký khai tử; hơn 113 nghìn trường hợp nhận cha mẹ con; 14 nghìn trường hợp đăng ký giám hộ;12 nghìn trường hợp đăng ký nhận nuôi con nuôi và trên 28 nghìn trường hợp đăng ký cải chính, thay đổi, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc…
Theo báo cáo của các Sở Tư pháp, đến nay, các địa phương đều đã thành lập Tổ công tác triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg do lãnh đạo UBND tỉnh/thành phố làm Trưởng ban. Với vai trò là thành viên của Tổ công tác, Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành kế hoạch triển khai việc số hóa sổ hộ tịch, hỗ trợ các sở, ngành thực hiện rà soát các văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu tại Quyết định số 06/QĐ-TTg.
Về cơ bản, các địa phương đã chủ động thực hiện cung cấp dịch vụ công đối với 3 thủ tục hành chính thiết yếu trong lĩnh vực hộ tịch (đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký kết hôn). Bên cạnh đó, thông qua Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung, việc đăng ký khai sinh, cấp số định danh cá nhân tại các cơ quan đăng ký hộ tịch về cơ bản ổn định, đáp ứng yêu cầu của người dân. Các địa phương đều đã thực hiện liên thông đăng ký khai sinh - cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; liên thông đăng ký khai tử - trợ cấp mai táng phí…
Có thể thấy, cùng với sự “vào cuộc” của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp địa phương đã có sự chủ động trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định số 06/QĐ-TTg, công tác đôn đốc, chỉ đạo được thực hiện tương đối quyết liệt, xuyên suốt, cơ bản. Mặc dù vậy, quá trình triển khai cho thấy còn một số “điểm nghẽn” nhất định.
Phó Giám đốc Sở Tư pháp Đồng Nai Phan Quang Tuấn cho biết, những khó khăn, vướng mắc, chủ yếu tập trung vào hai yếu tố: con người và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Cụ thể, việc kiểm tra thông tin còn khó khăn do không có nhân lực và thời gian, nhất là đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã hiện đang quá tải trong giải quyết các nhóm đầu việc được giao. Trình độ công nghệ thông tin của các công chức Tư pháp - Hộ tịch tại địa phương chưa đồng đều, nên thao tác xử lý chậm. Công tác phối hợp của các cơ quan trong việc xác minh hồ sơ thủ tục hành chính còn chưa nhịp nhàng, gây ảnh hưởng đến thời gian giải quyết các thủ tục, nhất là thủ tục đăng ký khai sinh, lý lịch tư pháp. Bên cạnh đó, đường truyền mạng không ổn định, gây khó khăn cho đội ngũ công chức tư pháp trong việc kiểm tra, phê duyệt…
Đáng chú ý, tâm lý của người dân hiện vẫn chưa quen với dịch vụ trực tuyến. “Trực tuyến mà vẫn chậm và mất nhiều thời gian nên bà con vẫn chọn giải pháp trực tiếp. Điều đó đã làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện số hóa hộ tịch”, ông Tuấn chia sẻ.
Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác tư pháp, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định số 06/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp các địa phương trong thời gian tới cần tăng cường quán triệt, truyền thông về vai trò của dữ liệu hộ tịch và các dịch vụ công thiết yếu trong lĩnh vực hộ tịch; thường xuyên nắm bắt, cập nhật thông tin, kết quả triển khai ở địa phương, chia sẻ, xin ý kiến kịp thời các đơn vị thuộc Bộ khi có vướng mắc phát sinh.
Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường chất lượng công tác đăng ký, thống kê hộ tịch; thường xuyên, chủ động rà soát, đối chiếu để bảo đảm tính thống nhất, chính xác của dữ liệu; đồng thời, đẩy nhanh hoạt động số hóa sổ hộ tịch, bảo đảm tiến độ số hóa theo đúng thời hạn quy định tại Nghị định số 87/2020/NĐ-CP. Đặc biệt là khẩn trương bám sát việc triển khai thực hiện các công văn chỉ đạo của Bộ Tư pháp về việc thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg; ổn định, bảo đảm chất lượng, số lượng đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch để đáp ứng yêu cầu giải quyết công việc, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay. (Cand.com.vn 05/9, Phan Phương)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Bốc thăm ngẫu nhiên xác minh tài sản, thu nhập cần tránh để "sót" lãnh đạo
Theo đại biểu Quốc hội, cán bộ thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập được thực hiện hàng năm nhưng công tác xác minh không được thực hiện thường xuyên.
Theo quy định tại Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ, hình thức xác minh tài sản và thu nhập của cán bộ sẽ được cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh thông qua bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm máy tính.
Trước việc Hà Nội thực hiện việc xác minh bốc thăm để xác minh tài sản của 10% cán bộ/đơn vị, có nhiều ý kiến băn khoăn về sự "may, rủi".
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa - Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta đang rất quyết liệt, nhằm phòng ngừa răn đe để cho viên chức, cán bộ từ trung ương đến cơ sở không vi phạm pháp luật.
Hoạt động góp phần vào công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực không thể không nói đến việc kê khai và xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ. Tuy nhiên, nhiều địa phương không thực hiện nghiêm việc kiểm tra, xác minh.
"Hàng năm cán bộ thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập đều phải thực hiện. Tuy nhiên, việc xác minh chỉ diễn ra khi có vụ việc tố cáo hoặc phát hiện hành vi tham nhũng của cán bộ. Đây là một lỗ hổng rất lớn, ảnh hưởng đến công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, vì vậy cơ quan chức năng phải thực hiện xác minh thường xuyên hơn", ông Hòa nhấn mạnh.
Về việc Hà Nội tổ chức bốc thăm để xác minh tài sản của cán bộ, Đại biểu Phạm Văn Hòa đồng tình với hình thức tổ chức của Thủ đô.
Với việc xác minh 10% số lượng cán bộ thuộc diện xác minh, ông Hòa nhận định, trong thực tế có nhiều người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, trong khi đó đội ngũ cán bộ xác minh mỏng nên không thể xác minh hết được. Bởi vậy, nếu thực hiện việc xác minh đều đặn hàng năm với 10% cán bộ trong một đơn vị, thì vài năm sẽ xác minh được tất cả tài sản của tất cả cán bộ thuộc diện kê khai.
Tuy nhiên, nếu cần thiết cơ quan thanh tra có thẩm quyền đi xác minh với những đối tượng khác nữa, không nhất thiết phải thực hiện thanh tra 10% số lượng của một đơn vị.
“Cơ quan thanh tra được pháp luật cho phép quản lý việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, nên nếu thấy dấu hiệu sai phạm, kê khai gian dối, cơ quan chức năng cũng cần vào cuộc”, ông Hòa cho hay.
Theo Đại biểu Hòa, việc xác minh cần được thực hiện với các cán bộ phụ trách những lĩnh vực “nhạy cảm” dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn, để sau đó chúng ta có những đánh giá, tổng kết giúp cho đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.
Về quan điểm nên công khai kê khai tài sản của cán bộ tại địa phương họ sinh sống, ông Hòa cho rằng, việc kê khai tài sản hằng năm đều là công khai, nên ai muốn tìm hiểu thông tin kê khai của cán bộ có quyền yêu cầu xem.
“Người dân cũng khó để biết hết thông tin về tài sản của cán bộ. Với việc kê khai không trung thực, thiếu sót, cần phải có Nghị định cụ thể để xử lý tài sản kê khai còn thiếu”, ông Hòa đề nghị.
Việc tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên một số cán bộ, công chức để tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của Hà Nội là phù hợp với quy định pháp luật. Hà Nội cũng đã xây dựng cơ chế, chính sách để đảm bảo những người được lựa chọn đại diện và phản ánh đúng bộ máy hành chính của Thủ đô.
Chẳng hạn như số người được chọn là 10%, trong đó có ít nhất 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Điều này thể hiện sự nỗ lực phòng chống tham nhũng của các cấp lãnh đạo Hà Nội.
Tuy nhiên, cơ chế lựa chọn cần được tiến hành công khai, minh bạch, có sự giám sát của công dân.
"Số lượng người được xác minh là 10%, trong đó có ít nhất 1 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Con số này cần được đánh giá một cách cẩn trọng, tránh tình trạng số lượng cán bộ, công chức ở vị trí lãnh đạo quá ít, không thể hiện đúng cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính. (Giaoduc.net.vn 03/9, Mạnh Đoàn)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Tìm lại động lực cải cách cho đội ngũ thực thi
Theo Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung (Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM): Môi trường kinh doanh Việt Nam đang trông vào sự trở lại năng động của lãnh đạo và chính quyền địa phương, các bộ, ngành, để thúc đẩy sự sáng tạo của giới kinh doanh.
Đã có bao giờ chúng ta hỏi, tại sao các doanh nghiệp, người dân và thậm chí, cả công chức thực thi cứ phải chờ thông tư hướng dẫn rồi mới thực hiện các quy định của pháp luật không?
Với tôi, theo dõi, phân tích, đánh giá những chuyển động của môi trường kinh doanh đã trở thành thói quen thường ngày trong hơn 30 năm qua, kể từ khi nhận nhiệm vụ tham gia thiết kế các văn bản luật đầu tiên liên quan đến doanh nghiệp.
Nhưng, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng khi nhận được sự căn vặn từ nhiều doanh nghiệp rằng, phải chăng, có những cái bẫy trong quy định, khiến nhiều dự án có thể đang từ khả thi trở thành kém hiệu quả, thậm chí khiến quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp có thể bị giảm, bị thu hẹp lại so với tinh thần của luật.
Một số doanh nghiệp hỏi tôi đã đọc Nghị định 49/2021/NĐ-CP bổ sung, sửa đổi Nghị định 100/2015/NĐ-CP quy định hướng dẫn phát triển nhà ở xã hội chưa, có phải là cố tình làm khó doanh nghiệp không?
Theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP, chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có quy mô sử dụng đất dưới 10 ha, thì chủ đầu tư dự án được lựa chọn hình thức hoặc dành quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội; hoặc chuyển giao quỹ nhà ở tương đương với giá trị quỹ đất 20% tính theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước tại thời điểm chuyển giao để sử dụng làm nhà ở xã hội; hoặc nộp bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20% theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nhằm bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn.
Nhưng khi Nghị định 49/2021/NĐ-CP được ban hành, thì chỉ có dự án có quy mô nhỏ hơn 2 ha (thay vì trước đây dưới 10 ha) mới được phép nộp bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20% theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nhằm bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn.
Hệ quả là, ngoài việc thu hẹp chọn lựa áp dụng hình thức thực hiện nghĩa vụ dành 20% diện tích đất để xây dựng nhà ở xã hội, thu hẹp cơ hội đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị, thì các dự án có sử dụng đất từ 2 ha đến dưới 10 ha, đang trong quá trình chuẩn bị sẽ phải điều chỉnh lại toàn bộ phương án kinh doanh và trở lại làm thủ tục từ đầu như một dự án mới.
Các doanh nghiệp hỏi tôi, 2 ha hay 10 ha ở các quy định trên là tính toán thế nào? Sau này, rất có thể, một con số khác được sử dụng để lựa chọn cách thức thực hiện nghĩa vụ phát triển nhà ở xã hội và doanh nghiệp làm sao để dự liệu được? Tôi không trả lời được.
Việc doanh nghiệp, người dân đợi bằng được các thông tư hướng dẫn của các bộ ban hành mới bắt tay vào thực thi luật không phải là vấn đề mới. Nguyên nhân cũng được chỉ ra nhiều lần. Đó là cách doanh nghiệp, người dân ứng xử để giảm thiểu rủi ro trong tuân thủ pháp luật khi tình trạng chồng chéo, trùng lặp, hay thay đổi… về nội dung cũng như số lượng quy định diễn ra quá nhiều.
Song, chính vì ít được bàn luận, trao đổi trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách, nên thực trạng và tác động bất lợi của nó đối với môi trường kinh doanh nói chung và hoạt động đầu tư, kinh doanh nói riêng chưa có nhận thức đầy đủ.
Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm các loại văn bản là luật và nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư của các bộ, trong đó có thông tư liên bộ.
Như vậy, người dân và doanh nghiệp trong hoạt động hàng ngày phải tuân thủ không chỉ luật, mà cả nghị định và thông tư hướng dẫn có liên quan. Ví dụ, Luật Xây dựng có 11 nghị định và 44 thông tư hướng dẫn thi hành; Luật Giao thông đường bộ có 16 nghị định và 18 thông tư hướng dẫn thi hành; Luật Đất đai 2013 có 13 nghị định và 12 thông tư (còn hiệu lực) hướng dẫn thi hành; Luật Thuế thu nhập cá nhân có 2 nghị định và 13 quyết định, thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành... Cá biệt, có đến hơn 70 thông tư hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong cơ cấu hệ thống pháp luật nói trên, thì luật chỉ có hiệu lực đầy đủ khi ban hành đầy đủ tất cả nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Nhưng, thực tế phổ biến là nghị định hướng dẫn thi hành thường được ban hành sau vài tháng, thậm chí hàng năm; thông tư hướng dẫn thi hành nghị định còn chậm hơn nữa.
Đối với trường hợp luật bổ sung, sửa đổi, khi nghị định, thông tư mới chưa được ban hành, thì các nghị định, thông tư hướng dẫn luật (đã bị thay thế) vẫn có hiệu lực thi hành. Có trường hợp, luật, pháp lệnh đã hết hiệu lực thi hành, nhưng nhiều năm sau, các văn bản hướng dẫn luật đó vẫn được thi hành, cơ quan nhà nưóc có thẩm quyền vẫn không tuyên hết hiệu lực đối với văn bản đó, như trường hợp Pháp lệnh Bưu chính đã được thay thế bởi Luật Bưu chính…
Đặc biệt, có sự tuỳ nghi và thiếu nhất quán trong hướng dẫn luật, pháp lệnh, nghị định; sửa đổi lần sau thường thắt lại, làm giảm, thu hẹp, thậm chí làm mất cơ hội đầu tư, kinh doanh.
Hiện trạng này không chỉ cho thấy độ trễ của chính sách, pháp luật hiện nay khá dài, làm giảm đáng kể hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật, mà đáng nói hơn, chúng là nguyên nhân làm tăng thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, tạo ra rủi ro pháp lý cho cả người thực thi và tuân thủ pháp luật.
Càng nhiều văn bản, nhất là thông tư, hướng dẫn, thì càng xa “thần linh” pháp quyền. Pháp luật được thực thi bởi hành chính dẫn dắt hơn là bởi ý chí của người dân và các chủ thể pháp lý khác. Nguy cơ vô tình không tuân thủ đúng luật pháp là khá lớn, ngay cả đối với những người có ý thức đầy đủ về tuân thủ pháp luật. (Baodautu.vn 05/9)Về đầu trang
THẾ GIỚI
Lợi ích từ chuyển đổi số trong ngành y tế ở Ấn Độ
Việc khai thác tiềm năng của ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe kỹ thuật số ở Ấn Độ đòi hỏi tích hợp tốt hơn các dịch vụ kỹ thuật số và công nghệ nhưng mục tiêu giảm gánh nặng tài chính và bao phủ sức khỏe toàn dân là hoàn toàn khả thi.
Ấn Độ là quốc gia đông dân đứng thứ 2 trên thế giới, vì thế khó đảm bảo bao phủ sức khỏe toàn dân. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng, tiêu chuẩn ở mỗi quốc gia về tỷ lệ bác sĩ-bệnh nhân là 1:1000. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, tỷ lệ này là khoảng 0,7:1000. Hơn nữa, họ có hơn 60.000 ngôi làng, nơi 70% dân số nông thôn của Ấn Độ cư trú và số bác sĩ ở đó chỉ bằng ¼ số bác sĩ hiện có ở các khu vực thành thị.
Trong thời gian bắt đầu đại dịch Covid-19, số ca bệnh áp đảo khiến các cơ sở hạ tầng chăm sóc sức khỏe quá tải. Nhưng cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu này đã chứng tỏ là một chất xúc tác trong việc thúc đẩy hành trình chuyển đổi kỹ thuật số của ngành y tế - một trong những lĩnh vực lớn nhất của Ấn Độ, theo cả quan điểm doanh thu và việc làm. Ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe ở Ấn Độ đã trải qua một sự chuyển đổi lớn với việc áp dụng và triển khai các công nghệ đột phá như y học từ xa, trí tuệ nhân tạo (AI), chăm sóc ảo cho bệnh nhân và nền tảng điện toán đám mây.
Đáng chú ý, đại dịch Covid-19 nêu bật tầm quan trọng của dữ liệu thời gian thực và sự cần thiết của một hệ thống chăm sóc sức khỏe được trang bị các khả năng kỹ thuật để cung cấp dữ liệu mà không bị chậm trễ. Với quá trình chuyển đổi kỹ thuật số, ngành chăm sóc sức khỏe Ấn Độ có thể gặt hái được những lợi ích nổi bật như sau: Giao tiếp hiệu quả nên sẽ tiết kiệm thời gian đáng kể; dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cải thiện bằng cách sử dụng công nghệ tiên tiến. Ví dụ, AI có thể cải thiện đáng kể hiệu quả của các quy trình hành chính trong các tổ chức y tế và dược phẩm hay sắp xếp hợp lý hóa quy trình làm việc trong các thực hành và chẩn đoán lâm sàng khác nhau.
Ngoài ra, sự phổ biến ngày càng tăng của đồng hồ thông minh hoặc dây đeo thể dục cho phép các cá nhân đóng một vai trò lớn hơn và liên tục trong việc quản lý sức khỏe của chính họ. Do các bệnh về lối sống, chẳng hạn như huyết áp cao và tiểu đường thường do thiếu tập thể dục hoặc thói quen ăn uống không đúng cách, thiết bị đeo được có thể giúp tăng cường sức khỏe cá nhân.
Nhìn chung, công nghệ kỹ thuật số có thể giúp giải quyết hầu hết các thách thức cơ bản ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe ở Ấn Độ, bao gồm sự thiếu nhận thức về sức khỏe, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thiếu hụt về số lượng các chuyên gia được đào tạo.
Giờ đây, khi thế giới và cộng đồng chăm sóc sức khỏe đang trở lại trạng thái “bình thường mới”, các công ty công nghệ đang tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới có thể giải quyết nhu cầu chăm sóc sức khỏe tức thì cho những nhóm dân số lớn vốn có nguồn tài chính hạn hẹp nhưng buộc phải trang trải các chi phí sức khỏe không mong muốn. Tại Ấn Độ, nơi gần 70% dân số sống biệt lập ở các vùng nông thôn xa các trung tâm chăm sóc sức khỏe, cho vay kỹ thuật số cùng với chăm sóc y tế từ xa có thể cho phép họ tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt.
Y học từ xa là công nghệ kết nối người dân không phân biệt vùng miền, tuổi tác… với hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe của Ấn Độ. Tư vấn từ xa sử dụng các công cụ phân tích và giám sát thông minh là loại hình chăm sóc dự phòng giúp bệnh nhân nghỉ ngơi tại nhà lâu hơn và giúp bác sĩ điều chỉnh điều trị tùy theo điều kiện của bệnh nhân. Điều này làm giảm gánh nặng tài chính về chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, đồng thời giúp họ tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng.
Việc sử dụng công nghệ khám bệnh từ xa cũng giúp bệnh nhân tham gia nhiều hơn vào kế hoạch điều trị và cảm thấy thoải mái hơn khi có cảm giác chủ động điều trị bệnh. Ngày nay, mọi người chủ yếu dựa vào bệnh viện vì các tình trạng bệnh nặng. Việc sử dụng tư vấn từ xa có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định xem bệnh nhân có cần nhập viện hay có thể điều trị tại nhà với sự hỗ trợ của chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Y học từ xa do đó giải quyết được vấn đề tiếp cận các cơ sở y tế ở các vùng sâu vùng xa, đồng thời cho phép các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tối đa hóa năng suất của họ, đặc biệt là khi thiếu các chuyên gia y tế được đào tạo. (Anninhthudo.vn 05/9, Yến Chi)Về đầu trang
Nam Phi: Cảnh báo nạn tham nhũng, lạm dụng quyền lực trong ngành Giáo dục
Một báo cáo của Cơ quan Giám sát tham nhũng (Corruption Watch) đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng tham nhũng, chiếm dụng nguồn lực, quản lý yếu kém và lạm dụng quyền lực tại các trường học và các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo (SETA) ở Nam Phi.
Corruption Watch đã tập hợp, phân tích dữ liệu từ hơn 3.600 khiếu nại của học sinh, sinh viên, phụ huynh và người giám hộ trong 1 thập kỷ (từ năm 2012 đến năm 2021). Qua đó cho thấy, việc chạy theo các thủ tục và hối lộ là đặc điểm nổi bật trong lĩnh vực giáo dục của Nam Phi.
Cơ quan Giám sát tham nhũng nói rằng, nhiều báo cáo tập trung vào việc các hiệu trưởng lạm dụng quyền lực. Điều này bao gồm sự can thiệp vào việc trao hợp đồng cho các suất ăn.
Ngoài ra, nhiều nội dung khác bị "gắn cờ", như hứa hẹn các vị trí việc làm trong ngành Giáo dục, hay các sinh viên bị "gạ" đổi tình lấy điểm...
Nhà nghiên cứu Melusi Ncala - người viết báo cáo - cho biết, các hình thức tham nhũng phổ biến nhất bao gồm: Lạm dụng nguồn lực (43%), tham nhũng vặt (17,1%), lạm quyền (14,2%), bất thường trong mua sắm (12,3%) và bất thường trong việc làm (12,1%).
Trong 9 tỉnh của Nam Phi, Gauteng là điểm nóng về tham nhũng trong giáo dục với số lượng báo cáo chiếm 32%. Địa phương đứng ở vị trí tiếp theo là KwaZulu-Natal và Eastern Cape.
Theo ông Melusi Ncala, một số tố giác đã được điều tra trong nhiều năm, đặc biệt là liên quan đến trường học. Vào năm 2015, Corruption Watch đã xuất bản một báo cáo có tiêu đề "Sự thất bại của các hiệu trưởng", trong đó nói về một số cuộc điều tra đã được tiến hành. Các nhà chức trách vào thời điểm ấy cho biết, sẽ chắc chắn theo dõi những vấn đề được đặt ra và buộc những người có liên quan phải chịu trách nhiệm.
Về tham nhũng trong các chương trình suất ăn, theo ông Ncala, đây là vấn đề rất đáng quan tâm. Chương trình Dinh dưỡng Trường học Quốc gia ở Nam Phi là một sáng kiến mà cố Tổng thống Nelson Mandela đã khởi động trong bối cảnh tình trạng bất bình đẳng và nghèo đói tột độ trong nước khiến một số trẻ em phải đến trường với cái bụng rỗng.
Trong khi các quan chức thường than thở rằng không có đủ nguồn lực để thực hiện chương trình suất ăn học đường, thì trên thực tế, những tài nguyên này lại bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích hoặc bị đánh cắp.
Các tố giác cho thấy, hiệu trưởng, giáo viên, ban giám hiệu, thậm chí cả các thành viên cơ quan quản lý trường học đã "ăn" thực phẩm dành cho trẻ em.
Tham nhũng tình dục cũng xuất hiện "nhan nhản". Đây là một khái niệm đang được phát triển về mặt học thuật. Nó được nói đến nhiều, đặc biệt là bởi Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) - tổ chức mà Corruption Watch là thành viên.
Điều đã xảy ra tại Nam Phi là những người có chức, có quyền trong môi trường giáo dục gạ gẫm tình dục học sinh để đổi lấy việc "giúp" họ đạt điểm cao hơn. Theo những cách khác, tham nhũng tình dục xảy ra khi ai đó nộp đơn xin việc hoặc tìm kiếm sự thăng tiến tại nơi làm việc.
Cũng theo Corruption Watch, biển thủ nguồn lực là một phạm trù tham nhũng, trong đó chủ yếu xem xét các vấn đề về trộm cắp, xà xẻo quỹ, sử dụng sai nguồn lực và lạm dụng các nguồn lực đó. Có thể là những thứ nhỏ, như giáo viên lạm dụng xe cộ, biển thủ văn phòng phẩm và sách để sử dụng cho riêng mình; cho tới những vấn đề tham nhũng lớn hơn, như lãnh đạo các nhà trường xà xẻo hàng triệu tiền quỹ...
"Chúng tôi cũng đang xem xét các vấn đề về quản lý ngân quỹ yếu kém cũng như chi tiêu lãng phí và không hiệu quả", ông Ncala cho biết.
Bên cạnh đó là những bất thường trong mua sắm công. Tại đây, có những tác động trong lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ, và các quan chức giáo dục sẽ thu về những khoản lại quả, những khoản hối lộ làm đầy túi cá nhân. (Thanhtra.com.vn 04/9, Hà Anh)Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/8/2022 (31/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/8/2022 (30/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 29/8/2022 (29/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/8/2022 (23/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/8/2022 (19/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/8/2022 (19/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/8/2022 (19/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/8/2022 (17/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/8/2022 (16/08/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/8/2022 (12/08/2022)

