Bản tin cải cách hành chính ngày 20/4/2023

Font size : A- A A+

TOÀN CẢNH CHỈ SỐ PAR INDEX 2022

1.        Bộ Nội vụ công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân năm 2022.

2.        Người dân quan tâm nhiều nhất đến vấn đề nào trong năm 2022?

3.        "Bí quyết" giúp Quảng Ninh liên tiếp dẫn đầu chỉ số cải cách hành chính.

4.        Chỉ số PAR INDEX 2022: Hà Nội cải thiện vượt bậc

5.        Niềm vui của Thanh Hóa đã nhân ba: Động lực và áp lực

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

6.        Long An: Gỡ khó cho doanh nghiệp về đất đai, thủ tục đầu tư

7.        Hải Dương quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

8.        Nha Trang, Khánh Hòa: Phấn đấu xây dựng chính quyền điện tử

9.        Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở Đắk Nông còn thấp

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

10.     Bộ Tư pháp lý giải nguyên nhân "xếp hàng" xin phiếu lý lịch tư pháp

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

11.     Thủ tướng ra công điện xử lý cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm

12.     TP.HCM có kế hoạch tinh giản biên chế công chức, viên chức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

13.     “Người ta đổ mọi chuyện cho pháp luật để lẩn tránh trách nhiệm”

14.     Xin lỗi và sửa lỗi

 

TOÀN CẢNH CHỈ SỐ PAR INDEX 2022

Bộ Nội vụ công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân năm 2022

Ngày 19/4, tại phiên họp thứ 4 Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Bộ Nội vụ đã công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2022 (SIPAS 2022), Chỉ số cải cách hành chính năm 2022 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2022). 

Kết quả Chỉ số CCHC năm 2022 các bộ, cơ quan ngang bộ có 3 nhóm. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đứng đầu nhóm chỉ số cải cách hành chính (CCHC) trên 90%. 

Chỉ số CCHC từ trên 80% đến dưới 90%, bao gồm 11 đơn vị, bao gồm: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch và Bộ Công thương. 

Chỉ số CCHC dưới 80% có 4 đơn vị là: Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Ngoại giao. 

Có 11/17 bộ có Chỉ số CCHC năm 2022 trên mức giá trị trung bình. 

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đạt Chỉ số CCHC năm 2022 cao nhất với kết quả là 91,77%, cao hơn 19,12% so với Bộ Ngoại giao, đơn vị có kết quả Chỉ số năm 2022 thấp nhất, với giá trị là 72,65%. 

Kết quả Chỉ số CCHC 2022 của các tỉnh, thành phố được phân theo 3 nhóm. Trong đó, Nhóm A, đạt kết quả Chỉ số từ 90% trở lên, gồm 2 tỉnh, thành phố. Nhóm B, đạt kết quả Chỉ số từ 80% đến dưới 90%, gồm 56 tỉnh, thành phố. Nhóm C, đạt kết quả Chỉ số từ 70% đến dưới 80%, gồm 5 tỉnh, thành phố. 

Quảng Ninh dẫn đầu bảng xếp hạng Chỉ số CCHC năm 2022 với kết quả đạt 90,10%. Đây là lần thứ 5 Quảng Ninh đạt ngôi vị quán quân bảng xếp hạng Chỉ số CCHC, tương đương với thành phố Đà Nẵng - địa phương từng có 5 năm liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng (từ 2012-2016). Đứng vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Chỉ số CCHC năm 2022 là thành phố Hải Phòng với kết quả đạt 90,09%. Đây cũng là lần thứ 10 liên tiếp Hải Phòng nằm trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu Chỉ số CCHC. 

Đứng cuối bảng xếp hạng Chỉ số CCHC năm 2022 là tỉnh Phú Yên, đạt 75,99%, thấp hơn 5,42% so với kết quả của tỉnh này trong năm 2021 và cũng thấp hơn 3,98% so với đơn vị đứng cuối bảng xếp hạng của năm 2021. 

Trong khi đó với chỉ số SIPAS, từ ý kiến phản hồi của 36.095 người dân từ các vùng miền trong cả nước, Bộ Nội vụ đã tổng hợp, phân tích dữ liệu khảo sát và xây dựng một bộ chỉ số gồm 37 chỉ số phản ánh nhận định, đánh giá của người dân; 45 chỉ số phản ánh mức độ hài lòng của người dân và 10 chỉ số phản ánh nhu cầu, mong đợi của người dân. 

Theo đó, người dân quan tâm đến 8 nhóm chính sách ở các mức độ rất khác nhau; nhiều nhất là chính sách khám, chữa bệnh, với mức độ rất quan tâm là 71,82%. Đáng chú ý, 12,28% người dân được khảo sát cho rằng vẫn có tình trạng công chức gây phiền hà. 

Trong 63 tỉnh, thành phố, tỉnh có chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là 87,59% và tỉnh có chỉ số thấp nhất là 72,54%. 5 tỉnh có mức độ hài lòng của người dân cao nhất là: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cà Mau, Bình Dương và Thanh Hóa; 5 tỉnh có mức độ hài lòng thấp nhất là Bình Thuận, Cao Bằng, Quảng Nam, Bắc Kạn và Lạng Sơn. (Daidoanket.vn 20/4, H.Vũ)Về đầu trang

Người dân quan tâm nhiều nhất đến vấn đề nào trong năm 2022?

Trong năm vừa qua, Bộ Nội vụ tổng hợp dữ liệu cho thấy, người dân quan tâm nhiều nhất đến chính sách khám, chữa bệnh, trong khi vấn đề thuộc nhóm chính sách về kinh tế nhận sự quan tâm ở mức thấp nhất. 

Tại phiên họp thứ 4 Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, tổ chức ngày 19/4, bên cạnh Chỉ số cải cách hành chính năm 2022 (PAR INDEX 2022), Bộ Nội vụ cũng công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước năm 2022 (SIPAS 2022). 

Với chỉ số SIPAS, từ ý kiến phản hồi của 36.095 người dân từ khắp các vùng, miền trong cả nước, Bộ Nội vụ đã tổng hợp, phân tích dữ liệu khảo sát và xây dựng một bộ chỉ số gồm 37 chỉ số phản ánh nhận định, đánh giá của người dân; 45 chỉ số phản ánh mức độ hài lòng của người dân và 10 chỉ số phản ánh nhu cầu, mong đợi của người dân. 

Theo đó, người dân quan tâm đến 8 nhóm chính sách ở các mức độ rất khác nhau. Người dân quan tâm nhiều nhất đến chính sách khám, chữa bệnh, với mức độ rất quan tâm là 71,82%, quan tâm một chút là 25,8% và không quan tâm là 2,34%. 

Người dân quan tâm đến chính sách phát triển kinh tế ở mức thấp nhất, với mức độ rất quan tâm chỉ là 57,07%, quan tâm một chút là 37,49% và không quan tâm là 5,44%. 

Người dân rất sẵn lòng tham gia ý kiến góp ý đối với chính sách. Trong số 36.095 người dân tham gia khảo sát trong cả nước, 40,93% sẵn sàng tham gia ý kiến góp ý chính sách nếu được biết thông tin; 29,62% sẵn sàng tham gia nếu được tạo điều kiện thuận tiện; 24% khẳng định chắc chắn sẽ tham gia vì bản thân họ mong muốn. 

Không ít người dân cho rằng vẫn còn tình trạng tiêu cực của công chức trong giải quyết công việc cho người dân, mặc dù với các mức tiêu cực khác nhau. 12,28% người dân được khảo sát cho rằng vẫn có tình trạng một số ít công chức gây phiền hà sách nhiễu và 1,33% cho rằng có tình trạng nhiều công chức gây phiền hà sách nhiễu. 

10,05% người dân được khảo sát cho rằng có tình trạng một số người dân phải chi tiền ngoài quy định cho công chức để công việc được giải quyết và 1,77% cho rằng có tình trạng nhiều người dân phải trả tiền này. (Mekongasean.vn 19/4, Phương Thảo)Về đầu trang

"Bí quyết" giúp Quảng Ninh liên tiếp dẫn đầu chỉ số cải cách hành chính

Giữ vững đà đổi mới, sáng tạo, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu khó khăn, thử thách, vì lợi ích nhân dân..., tỉnh Quảng Ninh đã vươn lên trở thành cực tăng trưởng kinh tế toàn diện khu vực phía bắc với nhiều dấu ấn nổi bật. 

Những năm qua tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm, chỉ đạo triển khai hiệu quả, đồng bộ, tích cực các nội dung của cải cách hành chính (CCHC), trong đó luôn đề cao vấn đề nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tỉnh thường xuyên chỉ đạo việc tổ chức, đối thoại, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của người dân, doanh nghiệp để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đời sống của nhân dân, giúp các cấp chính quyền có giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ người dân. 

Đến năm 2023, tỉnh đã có 10 năm thực hiện đánh giá chỉ số CCHC và 6 năm đánh gia chỉ số đo lường sự hài lòng. Điều mà cả hệ thống chính quyền Quảng Ninh làm được đó là "dám nhìn thẳng sự thật", tập trung CCHC toàn diện với quyết tâm thực hiện thành công nhiều mô hình, cách làm mới. 

Với quan điểm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ người dân, kết quả chỉ số CCHC năm 2022, tỉnh Quảng Ninh vinh dự đón nhận những thành tựu nổi bật khi lần thứ 2 (2020 và 2022) chinh phục vị trí dẫn đầu cả nước cả 4 chỉ số CCHC (PCI, PAPI, PAR Index và SIPAS). 

Trong đó, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 6 năm liên tiếp (2017-2022) giữ ngôi vị Quán quân; Chỉ số CCHC (PAR Index) 5 năm dẫn đầu; Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS) 4 năm dẫn đầu bảng xếp hạng và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) 2 năm dẫn đầu vị trí xếp hạng. 

Kết quả này tiếp tục khẳng định niềm tin, sự đánh giá hài lòng ngày càng cao của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư về những nỗ lực, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh Quảng Ninh; phản ánh thực chất, khách quan các giải pháp đồng bộ mà tỉnh đã triển khai trong thời gian qua. 

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký nhấn mạnh nhân tố con người, vai trò người đứng đầu, người dẫn dắt; sự vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra; năng lực quản trị phát triển bền vững địa phương thích ứng với sự thay đổi... chính là những yếu tố quyết định thành công. 

Ông Nguyễn Xuân Ký cũng khẳng định Quảng Ninh là địa phương duy nhất trong cả nước đưa mục tiêu giữ vị trí nhóm đầu 4 chỉ số CCHC vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và ban hành riêng Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về vấn đề này. 

Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên trong Vùng Đồng bằng sông Hồng được phê duyệt Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Năm 2023 là năm có tính bản lề thực hiện các mục tiêu mà tỉnh đặt ra và có ý nghĩa đặc biệt kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh (30/10/1963 - 30/10/2023). Trước thời cơ, thuận lợi mới, đan xen với nhiều khó khăn, thách thức, tỉnh Quảng Ninh xác định tiếp tục nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và chất lượng đời sống nhân dân. 

Mục tiêu đến năm 2025, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của khu vực phía bắc, đầu mối giao thông quan trọng của cả nước. GRDP bình quân đầu người đạt hơn 10.000 USD. 

Đến năm 2030, xây dựng, phát triển Quảng Ninh là tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại; là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện; trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; duy trì tốc độ tăng trưởng của cả giai đoạn 2025 - 2030 khoảng 10%, GRDP bình quân đầu người hơn 15.000 USD. 

Đến năm 2045, là tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, một trong những đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế; người dân có mức thu nhập tương đương các nước phát triển. 

Theo Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký, để đạt được những mục tiêu trên, điều quan trọng là phải đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ tư duy phát triển; nâng cao chất lượng cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tiếp tục giữ vững vị trí nhóm đầu về các chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS và PAPI; xây dựng, phát triển Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân. (Chinhphu.vn 20/4, Hồng Nguyên) Về đầu trang

Chỉ số PAR INDEX 2022: Hà Nội cải thiện vượt bậc

Theo thông tin nhanh của Sở Nội vụ Hà Nội chiều 19/4, trong 5 TP trực thuộc Trung ương, Chỉ số Cải cách hành chính năm 2022 của Hà Nội chỉ đứng sau Hải Phòng; trong 11 tỉnh, TP vùng đồng bằng Sông Hồng thì Hà Nội cũng xếp thứ 3, chỉ sau Quảng Ninh và Hải Phòng. 

Theo Phó Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Mai Xuân Trường, Chỉ số CCHC của TP Hà Nội được xác định để đánh giá kết quả CCHC hằng năm của TP, chia theo 8 lĩnh vực đánh giá, 37 tiêu chí và 88 tiêu chí thành phần. Thang điểm đánh giá là 100, trong đó điểm của Hội đồng thẩm định đánh giá là 68 điểm, điểm đánh giá qua điều tra xã hội học (ĐTXHH) là 32 điểm (trong đó, điểm đánh giá qua Chỉ số hài lòng là 10 điểm). 

Về kết quả chỉ số tổng hợp năm 2022, TP Hà Nội đứng thứ 3 trên cả nước về Chỉ số CCHC, với 89,58 điểm. So sánh trong 5 TP trực thuộc Trung ương trong 3 năm gần đây, Hà Nội đã có cố gắng vượt bậc, vươn từ vị trí thứ 8 năm 2020 (86,07 điểm), thứ 10 năm 2021 (88,54 điểm) lên vị trí thứ 3 năm 2022 (tăng 1,04% điểm số và 7 bậc so với năm trước). 

Trong 5 TP trực thuộc Trung ương, Chỉ số CCHC năm 2022 của Hà Nội chỉ đứng sau Hải Phòng (Hải Phòng xếp thứ 2, Hà Nội xếp thứ 3); tiếp đó là Đà Nẵng (xếp thứ 5); TP Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh lần lượt xếp thứ 26 và thứ 36. So sánh với 11 tỉnh, TP thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng, Hà Nội cũng xếp thứ 3 về Chỉ số CCHC năm 2022, chỉ sau Quảng Ninh và Hải Phòng. 

Đáng chú ý, trong các chỉ số thành phần thuộc Chỉ số CCHC năm 2022, TP Hà Nội có 5/8 nội dung tăng điểm so với năm trước, gồm: Cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách công vụ công chức, cải cách tài chính công, tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và phát triển kinh tế - xã hội của TP. 

Song song với kết quả tăng vượt bậc về Chỉ số CCHC, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước - SIPAS 2022 của TP Hà Nội cũng có những cố gắng đáng ghi nhận. 

Theo lãnh đạo Sở Nội vụ, dù kết quả Chỉ số Hài lòng của Hà Nội năm 2022 giảm so với năm 2021 song vẫn cao hơn so với Chỉ số Hài lòng chung của cả nước (SIPAS chung cả nước là 80,08%). Nguyên nhân được nhận định do năm 2022, Bộ Nội vụ có thay đổi lớn về nội dung, phương pháp đo lường sự hài lòng dẫn đến kết quả Chỉ số SIPAS có khác so với những năm trước đây. Đối tượng khảo sát thu thập thông tin đo lường sự hài lòng năm 2022 là người dân (đủ 18 tuổi trở lên), chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để đảm bảo tính đại diện, khách quan; Chỉ số Hài lòng được tính là điểm trung bình phần trăm của tất cả các mức điểm phản ánh các mức độ hài lòng của người dân được khảo sát (trước đây, đối tượng lựa chọn trả lời phiếu là những cá nhân, tổ chức đã tham gia giải quyết TTHC).   

Đặc biệt, về các tiêu chí, nội dung hài lòng, Hà Nội năm 2022 có 6/11 tiêu chí của Chỉ số Hài lòng đều đạt trên 80%, theo thứ tự từ cao đến thấp: Tiêu chí “mức độ hài lòng đối với trách nhiệm giải trình của chính quyền” đạt 82,09%; tiêu chí “mức độ hài lòng đối với tiếp cận dịch vụ trong cả nước” đạt 81,84%; tiêu chí “mức độ hài lòng đối với công chức trong cả nước” đạt 81,77%; tiêu chí “mức độ hài lòng đối với TTHC trong cả nước” đạt 81,65%; tiêu chí “mức độ hài lòng đối với kết quả dịch vụ trong cả nước” đạt 81,44%; tiêu chí “mức độ hài lòng đối với việc cung ứng DVHCC nói chung trong cả nước” đạt 81,26%. (Kinhtedothi.vn 19/4, Linh Nguyễn)Về đầu trang

Niềm vui của Thanh Hóa đã nhân ba: Động lực và áp lực

Chỉ trong một tuần, niềm vui của Thanh Hóa đã nhân ba. Ngày 12-4, các cơ quan chức năng đã công bố Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2022, theo đó tỉnh Thanh Hóa giữ vững vị trí thứ 3 cả nước. Một tuần sau, tin vui lại về với Thanh Hóa khi xếp thứ 5 về Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), tăng 19 bậc và xếp thứ 10/63 tỉnh, thành phố cả nước về Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), tăng 4 bậc so với năm 2021. Kết quả được công bố bởi Bộ Nội vụ tại phiên họp thứ 4 Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ diễn ra ngày 19-4. 

Hành trình chinh phục tốp dẫn đầu PAPI của Thanh Hóa trong 2 năm qua và bước nhảy vọt về SIPAS, PAR INDEX năm 2022 đã trở thành điểm nhấn, thể hiện quyết tâm của tỉnh về tính minh bạch, hấp dẫn. Đó có thể xem là chặng đường nỗ lực, trong đó quyết tâm chính trị luôn là động lực quan trọng thúc đẩy. 

Tại nhiều hội nghị tổ chức trong những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa đều đặt ra mục tiêu vươn thứ hạng các chỉ số PCI, PAPI, SIPAS, PAR INDEX; đồng thời đề ra giải pháp thực hiện, xem đó như cam kết đồng hành của tỉnh với doanh nghiệp và người dân, vì sự phát triển phồn vinh, thịnh vượng của doanh nghiệp và của tỉnh. Mới nhất, tại Nghị quyết số 12-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023, một trong những giải pháp được đề ra nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra và giao nhiệm vụ cho Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao thứ hạng các chỉ số phản ánh môi trường đầu tư, cải cách hành chính như PCI, PAPI, PAR INDEX.  

Những kết quả mà tỉnh Thanh Hóa đạt được sau khi các cơ quan chức năng ở Trung ương công bố kết quả, là niềm vui, động lực, nhưng cũng là áp lực, thử thách trong chặng đường sắp tới, bởi không chỉ phải giữ vững thứ hạng, mà còn phải vượt lên chinh phục những thứ hạng cao hơn. Nhất là phải cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh để nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI - là chỉ số mà tỉnh Thanh Hóa có sự tăng, giảm không ổn định trong những năm gần đây. 

Xét cho cùng, PCI của tỉnh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có những vấn đề mang tính khách quan, bị tác động bởi nhiều ngoại cảnh, mà chúng ta khó có thể ý chí điều chỉnh. Nhưng trên hết, khẳng định được tầm nhìn, cách làm và hiệu quả, giữ vững thứ hạng về PAPI, SIPAS, PAR INDEX, chúng ta sẽ có cơ sở để sớm phục hồi trở lại các chỉ số PCI, vươn tới và vượt lên các thứ hạng mà tỉnh đã đạt được trong những năm trước đó. (Baothanhhoa.vn 20/4, Tuệ Minh) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Long An: Gỡ khó cho doanh nghiệp về đất đai, thủ tục đầu tư

Sáng 19-4, UBND tỉnh Long An có buổi đối thoại với Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) tỉnh, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh, các DN đang hoạt động trên địa bàn các huyện Bến Lức, Thủ Thừa. 

Tại buổi đối thoại, Hiệp hội DN tỉnh Long An kiến nghị UBND tỉnh sớm chỉ đạo các sở, ngành liên quan có giải pháp đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất để nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định như rút ngắn thời gian thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn đơn vị thẩm định giá; quy định thời gian thông qua hội đồng thẩm định giá khi đơn vị tư vấn có chứng thư, thời gian trình, thẩm định, phê duyệt nghĩa vụ tài chính. 

Trong khi đó, các DN thì nêu thẳng nhiều vấn đề đang gặp khó. Cụ thể, ông Dương Long Thành, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thắng Lợi, nêu hiện DN này đang gặp khó trong thẩm định giá đất để xác định nghĩa vụ tài chính của dự án khu dân cư Trung tâm Thắng Lợi Gò Đen (huyện Bến Lức). Việc này bị kéo dài, không chỉ gây tổn thất tài chính cho nhà đầu tư mà còn làm chậm trễ, thất thoát trong việc thu ngân sách cho Nhà nước. 

Đại diện Công ty CP Đầu tư xây dựng hạ tầng Hòa Bình (huyện Thủ Thừa) thì nêu dự án Khu công nghiệp Hòa Bình đến nay còn chín hộ dân chưa nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB), chưa giao đất sạch cho nhà đầu tư. Điều này ảnh hưởng đến triển khai hoàn chỉnh dự án khu công nghiệp. 

Tại nhiều dự án, nhà đầu tư đã đấu giá đất thành và hồ sơ nêu rõ là đất đã hoàn thành GPMB (đất sạch). Thế nhưng khi nhà đầu tư cắm mốc ranh thì gặp cản trở của các hộ dân với lý do chưa được các cơ quan nhà nước giải quyết thỏa đáng về bồi thường và hỗ trợ tái định cư. Thậm chí có trường hợp người dân xây dựng các công trình kiên cố trên phần đất mà DN đã trúng đấu giá. Điều này gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, gây thiệt hại rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. 

Cũng tại buổi đối thoại, một số DN đề xuất tỉnh, huyện và các ngành có liên quan hỗ trợ DN đẩy nhanh tiến độ GPMB; giãn tiến độ đầu tư từ 12 tháng lên 24 tháng đối với một số dự án nhằm có thời gian thực hiện các thủ tục cần thiết để triển khai dự án; các vấn đề nhà ở xã hội, nhà ở công nhân... 

Dự buổi đối thoại, sau phần ghi nhận các ý kiến, đề xuất của các DN, ông Nguyễn Minh Lâm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An, giao Sở KH&ĐT chủ trì, phối hợp với các ngành, đơn vị liên quan tiếp tục rà soát đối với đề xuất, kiến nghị giải quyết khó khăn, vướng mắc của các DN để giải quyết dứt điểm. 

Ông Lâm cũng yêu cầu các sở, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN đầu tư, sản xuất, kinh doanh; xử lý nghiêm các trường hợp gây nhũng nhiễu, khó khăn, không thực hiện nghiêm theo chủ trương của Chính phủ, của tỉnh về hỗ trợ, phát triển DN. 

Theo ông Lâm, tỉnh rất mong trong thời gian tới DN chia sẻ với những khó khăn của tỉnh, tiếp tục đồng hành với tỉnh trong thực hiện kế hoạch, phương án phục hồi kinh tế bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và lâu dài. (Plo.vn 20/4, Huỳnh Du)Về đầu trang

Hải Dương quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Triệu Thế Hùng yêu cầu các cấp, các ngành phải quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp, tích cực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Đây là ý kiến chỉ đạo của đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Triệu Thế Hùng tại phiên họp thường kỳ tháng 4 (lần 3) của UBND tỉnh chiều 19.4. 

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Triệu Thế Hùng yêu cầu các cấp, ngành đánh giá khách quan, thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong thực hiện các mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục, quyết tâm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các sở, ngành, địa phương phải thay đổi phương pháp làm việc, lắng nghe ý kiến từ doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Đồng thời đồng hành cùng các nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đầu tư. Các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện công khai, minh bạch trình tự thực hiện các thủ tục theo nhiệm vụ được giao nhằm giảm thiểu chi phí không chính thức cho doanh nghiệp. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao chất lượng quản trị điều hành, chất lượng phục vụ của chính quyền các cấp.  

Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của đại biểu tại phiên họp, tham mưu cho UBND tỉnh kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Trong đó nhấn mạnh vào cam kết của người đứng đầu cấp chính quyền, thủ trưởng sở, ngành trong cải thiện môi trường đầu tư. Nội dung kế hoạch phải bám sát Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 19.8.2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch hành động số 300/KH-UBND ngày 28.1.2022 của UBND tỉnh để thực hiện Nghị quyết 08. 

Năm 2022, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hải Dương đạt 65,22 điểm, giảm 2,43 điểm so với năm 2021. Xếp hạng PCI của tỉnh đứng thứ 32 cả nước, thứ 9 trong vùng đồng bằng sông Hồng. Trong 10 chỉ số thành phần, có 1 chỉ số tăng điểm là gia nhập thị trường, 9 chỉ số còn lại giảm điểm. 

Theo đánh giá của Sở Kế hoạch và Đầu tư, kết quả PCI phản ánh một số kết quả tích cực về môi trường đầu tư của tỉnh. Đó là công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính tiếp tục có chuyển biến, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Một số thông tin, tài liệu được cơ quan nhà nước minh bạch, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tiếp cận. Các cấp chính quyền, sở, ngành có nhiều nỗ lực trong thực thi các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh cơ bản ổn định. Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh đứng trước một số khó khăn, thách thức.  

Đó là, hầu hết các chỉ số thành phần đều giảm điểm, đặc biệt các chỉ số chiếm trọng số lớn như đào tạo lao động, cạnh tranh bình đẳng, chi phí không chính thức… giảm điểm sâu so với mức giảm chung của cả nước. Chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp chưa cao, tiếp cận đất đai vẫn là điểm nghẽn lớn. Việc tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của cơ quan nhà nước còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Một số khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp còn chậm được xử lý, tháo gỡ. Công tác tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh còn chậm, bị động, chưa quyết liệt… 

Tại phiên họp, UBND tỉnh cũng xem xét nội dung liên quan đến việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản trong quá trình nạo vét lòng hồ An Bài (Chí Linh); đề xuất, điều chỉnh dự án đầu tư công sau khi xin ý kiến các thành viên UBND tỉnh; kết quả thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng, quản lý và kinh doanh chợ Phú Yên (TP Hải Dương)… (Baohaiduong.vn 19/4, NM)Về đầu trang

Nha Trang, Khánh Hòa: Phấn đấu xây dựng chính quyền điện tử

TP. Nha Trang đang thực hiện nhiều giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm cải cách hành chính và xây dựng chính quyền điện tử. 

Từ năm 2022, tại Thành ủy Nha Trang, bộ phận tổ chức hội nghị đã cập nhật thông tin đại biểu tới dự thông qua hệ thống điểm danh bằng nhận diện khuôn mặt Camera AI Hanet. Từ giữa tháng 4, hệ thống này còn được sử dụng để kiểm tra việc chấp hành giờ giấc làm việc hàng ngày của cán bộ, công chức Thành ủy. Hầu hết tài liệu phục vụ hội nghị của thành phố cũng đã chuyển sang bản điện tử.  

Năm 2022, phần mềm E-Office được triển khai tới gần 180 cơ quan, đơn vị. Tỷ lệ văn bản điện tử có chữ ký số lãnh đạo đạt hơn 95%. Thành phố cũng tích cực tuyên truyền người dân cài đặt, sử dụng ứng dụng định danh điện tử VNeID, App báo cháy 114; mở rộng hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện TTHC trực tuyến tại bộ phận một cửa. Toàn bộ trường tiểu học, THCS thanh toán học phí không dùng tiền mặt; 100% trường THCS áp dụng sổ gọi tên ghi điểm điện tử, học bạ điện tử và đang tiếp tục triển khai đến cấp tiểu học…  

Trong quý I, tỷ lệ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến của UBND thành phố đạt 62,99%, của UBND cấp xã 44,13%, đều cao hơn chỉ tiêu UBND tỉnh giao. Có 7/27 xã, phường có tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt hơn 15%... 

Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số thành phố đầu tháng 4, ông Võ Công Hiếu - Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin (đơn vị thường trực Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số thành phố) cho biết, Đề án Xây dựng thí điểm mô hình đô thị thông minh tại TP. Nha Trang và dự thảo kế hoạch xây dựng, vận hành trang zalo Official Account của thành phố đang được hoàn chỉnh.  

Thành phố cũng sẽ phát triển mô hình thư viện số; xây dựng hệ thống phòng họp không giấy tờ; xây dựng hệ thống thông tin quản lý của các ngành: Văn hóa - thông tin; nội vụ; tài chính kế hoạch; y tế; giáo dục và đào tạo; quản lý đô thị, tài nguyên và môi trường; đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông… 

Thời gian tới, thành phố sẽ ưu tiên xây dựng trung tâm điều hành đô thị thông minh TP. Nha Trang và 6 nền tảng hạ tầng phục vụ đô thị thông minh; phát triển 16 hệ thống thông tin chuyên ngành và tiện ích, dịch vụ đô thị thông minh; 3 nền tảng dùng chung; đào tạo đội ngũ cán bộ, vận hành; tuyên truyền về đô thị thông minh; tiếp tục số hóa, ký số hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; đẩy mạnh thanh toán trực tuyến trên nhiều lĩnh vực…  

Qua đó, phấn đấu 80% cơ sở dữ liệu dùng chung được chia sẻ, kết nối và sử dụng hiệu quả; 100% hồ sơ thủ tục hành chính, hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ bí mật nhà nước); kinh tế số chiếm tối thiểu 9% GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) của thành phố; tỷ lệ doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt hơn 99,6%; hơn 85% người dân trưởng thành sử dụng điện thoại thông minh, Internet; hơn 40% dân số sử dụng các ứng dụng, dịch vụ số để tương tác với chính quyền... (Baokhanhhoa.vn 19/4, Tiểu Mai)Về đầu trang

Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở Đắk Nông còn thấp

Thời gian qua, trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) các cấp, ngành tại tỉnh Đắk Nông đã không ngừng đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, tỷ lệ hồ sơ phát sinh qua dịch vụ công trực tuyến rất  thấp. Thậm chí, nhiều lĩnh vực không phát sinh hồ sơ. 

Hiện Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh tiếp nhận và giải quyết 1.913 TTHC, trong đó, có 818 TTHC ứng dụng dịch vụ công 1 phần; 403 thủ tục ứng dụng dịch vụ công trực tuyến; 694 thủ tục ứng dụng dịch vụ công toàn trình. 

Chính quyền địa phương phối hợp với các đơn vị cung ứng dịch vụ xây dựng hệ thống bảo mật thông tin, bảo đảm hạ tầng công nghệ, đường truyền kết nối dữ liệu Quốc gia dân cư phục vụ giải quyết TTHC nhằm số hóa quy trình, số hóa hồ sơ, số hóa kết quả giải quyết TTHC. 

Sử dụng dịch vụ công trực tuyến giải quyết TTHC giảm thời gian, chi phí đi lại cho người dân, rút ngắn thời gian giao dịch hành chính tạo thuận lợi cá nhân, tổ chức. 

Tuy nhiên, qua thực tế, tỷ lệ hồ sơ phát sinh thấp, thậm chí có lĩnh vực còn không phát sinh hồ sơ. Đơn cử, lĩnh vực tư pháp có thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp. 

Tính riêng trong 3 tháng đầu năm nay, thủ tục này phát sinh 1.710 hồ sơ. Trong đó, có 1.563 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp, chỉ có 147 hồ sơ trực tuyến. 

Cũng trong thời điểm này, đối với TTHC đổi giấy phép lái xe Trung tâm hành chính công tiếp nhận và giải quyết TTHC hơn 1.700 trường hợp. Đáng chú ý là 100% hồ sơ đều được tiếp nhận trực tiếp. 

Theo Sở GTVT, trung bình mỗi năm, tỉnh Đắk Nông có khoảng hơn 10.000 giấy phép lái xe được cấp đổi. Nếu như tất cả đều có thể tự thực hiện trên máy tính, điện thoại thì sẽ tiết kiệm được một lượng thời gian rất lớn cho xã hội, giảm tải đáng kể khối lượng công việc cho cán bộ phụ trách. 

Vì vậy, mỗi người cần thay đổi hình thức đăng ký giải quyết TTHC. Việc đổi giấy phép lái xe trực tuyến là một trong 25 thủ tục hành chính thiết yếu ưu tiên tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia về dân cư giải quyết TTHC, hướng đến xây dựng Chính phủ điện tử.

Thời gian qua, các cấp, ngành và chính quyền địa phương trong tỉnh có nhiều nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. 

Trong khi chính quyền rất nỗ lực tuyên truyền, hỗ trợ thì người dân vẫn chậm thay đổi thói quen giao dịch hành chính bằng môi trường số. 

Do đó, người dân cần chủ động tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến để góp phần hoàn thành mục tiêu đẩy mạnh cải cách TTHC, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương ngày càng phát triển. (Baodaknong.vn 20/4, Hoàng Thanh)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Tư pháp lý giải nguyên nhân "xếp hàng" xin phiếu lý lịch tư pháp

Tại cuộc họp báo quý 1/2023 của Bộ Tư pháp ngày 19/4, ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp thông tin về vấn đề quá tải tại các điểm cấp giấy xác minh lý lịch tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua... 

Trước tình hình dư luận phản ánh trên, ngày 21/3 Tổ công tác của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã trực tiếp làm việc với Sở Tư pháp TP.Hà Nội, đồng thời đã cử cán bộ Trung tâm “đóng vai” người dân để tìm hiểu vấn đề quá tải tại các điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp. 

Ông Hùng nhận định rằng nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do cách sắp xếp, tổ chức thực hiện công việc. "Có những nơi hồ sơ xác minh rất lớn, thậm chí hơn cả TP. Hà Nội như TP. Hồ Chí Minh hay Nghệ An, nhưng không xảy ra tình trạng quả tải", ông Hùng dẫn chứng. 

Bên cạnh nguyên nhân chủ quan, còn có nguyên nhân khách quan là do nhu cầu về lao động, việc làm của người dân là rất lớn sau đại dịch Covid-19 được kiểm soát. 

Đại diện Bộ Tư pháp cũng đã đề nghị Sở Tư pháp TP.Hà Nội cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để chấm dứt tình trạng nêu trên, đồng thời, coi đây là nhiệm vụ chính trị được ưu tiên trong giai đoạn này của Sở Tư pháp, chứ không chỉ là của Phòng Lý lịch tư pháp. 

Theo đó phải đồng bộ việc nhận hồ sơ theo 3 phương thức trực tiếp, trực tuyến và qua bưu điện. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn TP. Hà Nội đã không còn tình trạng quá tải, ùn ứ tại các điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp như dư luận phản ánh vừa qua.

Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Chánh văn phòng Bộ Tư pháp, đánh giá công tác cải cách hành chính của Bộ Tư pháp trong quý 1/2023 tiếp tục được quan tâm triển khai toàn diện, bài bản. 

Bộ đã kết nối thành công 8 dịch vụ công thuộc lĩnh vực hộ tịch và đăng ký biện pháp bảo đảm lên Cổng dịch vụ công quốc gia, nâng tổng số dịch vụ công của Bộ kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia lên 58 dịch vụ công. 

Đặc biệt, theo kết quả công bố xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương PAR INDEX 2022 được Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ công bố tại phiên họp vào sáng nay, Bộ Tư pháp được xếp vào nhóm một trong hai cơ quan có điểm số trên 90 điểm. 

Việc triển khai thực hiện Đề án 06 (Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030) đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. 

Theo đó, bắt đầu từ sáng ngày 17/4/2023, Bộ Tư pháp đã triển khai việc thí điểm cấp bản điện tử Giấy khai sinh, Trích lục khai tử trên địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam. 

Trong ngày đầu tiên vận hành thí điểm, đã có 101 trẻ em được cấp bản điện tử Giấy khai sinh; 17 trường hợp được cấp Trích lục khai tử trên địa bàn 02 tỉnh, thành phố. Ngoài ra, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đạt nhiều kết quả cụ thể.  

Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định đối với 7 đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và 22 dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong đó có một số dự án, dự thảo quan trọng như: dự án Luật Căn cước công dân; dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Dự án Luật Lưu trữ (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của UBTVQH về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023-2030… (Vneconomy.vn 19/4, Như Nguyệt)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Thủ tướng ra công điện xử lý cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Công điện 280 ngày 19-4-2023 về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương. 

Công điện nêu rõ, trong thời gian gần đây, thực tế ở một số bộ, cơ quan, địa phương và một bộ phận cán bộ, công chức đã xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy công việc, có tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám tham mưu, đề xuất xử lý công việc, không quyết định công việc thuộc thẩm quyền. 

Thậm chí có trường hợp đẩy việc lên cơ quan cấp trên hoặc sang các bộ, cơ quan khác, thiếu sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả giữa các bộ, cơ quan, địa phương… 

Việc này dẫn đến quá trình xử lý công việc bị kéo dài, gây cản trở và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Cá biệt có nơi rất trì trệ, làm suy giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. 

Người đứng đầu Chính phủ đã nêu ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan của tình trạng này, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. 

Để chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, tăng cường trách nhiệm đẩy mạnh tinh thần dám nói, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích của đất nước của Nhân dân tại các bộ, cơ quan, địa phương, cán bộ, công chức; khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong giải quyết công việc; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đã đưa ra hàng loạt yêu cầu. 

Đối với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng quán triệt không chuyển công việc thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan mình sang bộ, cơ quan khác; không giải quyết các công việc được xác định thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan khác. Đồng thời trả lại văn bản cho cơ quan, đơn vị, địa phương xin ý kiến nếu không đúng thẩm quyền hoặc thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị xin ý kiến. 

Nhấn mạnh công tác phối hợp, Thủ tướng yêu cầu không lấy ý kiến phối hợp của cơ quan không liên quan hoặc không cần thiết, làm ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc. Các Bộ, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời đúng thời hạn, chính kiến rõ ràng, không trả lời chung chung, thiếu trách nhiệm hoặc né tránh trách nhiệm.

 “Trường hợp quá thời hạn quy định mà bộ, cơ quan được lấy ý kiến không trả lời hoặc chậm trả lời thì được xác định là đồng ý với ý kiến” – Thủ tướng nhấn mạnh và nêu rõ các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chính phủ, Thủ tướng. 

Đối với lãnh đạo các địa phương, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc nhở không trình, báo cáo công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình lên Chính phủ, Thủ tướng và các bộ, cơ quan Trung ương. “Không lạm dụng việc lấy ý kiến các cơ quan Trung ương để né tránh trách nhiệm” – Thủ tướng nhấn mạnh.

Cùng với đó, Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ trưởng, trưởng ngành, chủ tịch UBND các địa phương tập trung rà soát, bổ sung ngay quy trình phân công và tổ chức công việc tại cơ quan, đơn vị, cắt giảm, đơn giản hóa những quy trình, thủ tục không cần thiết. 

Đặc biệt cần cụ thể, cá thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong từng khâu, tuyệt đối không để xảy ra việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. 

Trong công tác kiểm tra hoạt động công vụ, nhất là kiểm tra đột xuất, Thủ tướng chỉ đạo kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc. 

“Trường hợp đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân. Xử lý nghiêm minh những hành vi gây phiền hà, nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực” – Thủ tướng nêu rõ và lưu ý có biểu dương, khen thưởng kịp thời những cán bộ, công chức dám nói, dám nghĩ, dám làm, chủ động, sáng tạo vì lợi ích chung. 

Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Bộ Nội vụ khẩn trương cụ thể quy trình, cá thể hóa trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong thực thi công vụ bảo đảm không để né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Việc này báo cáo đề xuất Thủ tướng trong tháng 5-2023. 

Ông cũng lưu ý Bộ Nội vụ khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, báo cáo Chính phủ trong tháng 6-2023. 

Người đứng đầu Chính phủ một lần nữa nhấn mạnh các bộ, ngành, địa phương phải kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất, không dám chịu trách nhiệm trong cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức. Từ đó rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành. (Plo.vn 20/4, N.Thảo)Về đầu trang

TP.HCM có kế hoạch tinh giản biên chế công chức, viên chức

UBND TP.HCM vừa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện tinh giản biên chế công chức hành chính và giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2023 - 2026 trên địa bàn. 

Kế hoạch nêu rõ, TP phấn đấu giai đoạn 2023 - 2026 giảm ít nhất 5% biên chế công chức hành chính và giảm ít nhất 10% biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

UBND TP đề nghị thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, chủ tịch UBND TP Thủ Đức và các quận, huyện tăng cường quản lý biên chế chặt chẽ và hiệu quả. Tiếp tục triển khai thực hiện tinh giản có trọng tâm, trọng điểm, không cào bằng và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, gắn tinh giản với đổi mới tổ chức bộ máy, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút người có tài, có đức vào làm việc trong bộ máy. 

Xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế giai đoạn 2023-2026 trình UBND TP phê duyệt, trong đó, nêu rõ kế hoạch theo từng năm. 

Tiếp tục thực hiện việc rà soát, kiện toàn sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đảm bảo hoạt động có hiệu quả, rà soát, đề xuất phương án sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc hoạt động không hiệu quả, không đảm bảo tiêu chí, điều kiện thành lập... theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP. 

Bên cạnh đó, không thành lập mới các cơ quan, tổ chức hành chính không có trong quy định hoặc chưa cần thiết. Trường hợp phải thành lập mới thì các cơ quan, đơn vị tự cân đối biên chế công chức để bố trí, các đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thành lập mới khi thật sự cần thiết. 

Thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc, quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị. 

Kết quả thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm của tập thể, cá nhân người đứng đầu cơ quan, đơn vị, UBND TP Thủ Đức và các quận, huyện. 

Về việc xây dựng vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, UBND TP đề nghị lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát, hoàn thiện việc xây dựng, phê duyệt hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án vị trí việc làm theo quy định nhằm chuẩn hóa, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của từng cơ quan, đơn vị theo vị trí việc làm. 

Đồng thời, rà soát trình độ đào tạo, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý để ban hành kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị, địa phương. 

Về thực hiện chính sách tinh giản biên chế, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát các đối tượng, lập danh sách và dự toán kinh phí thực hiện tinh giản biên chế cho từng đối tượng để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 

Định kỳ 2 lần/năm (kỳ 1 trước ngày 1/6 hằng năm, kỳ 2 trước ngày 15/12 hằng năm), tổng hợp kết quả thực hiện tinh giản biên chế, bao gồm danh sách đối tượng tinh giản biên chế và kinh phí thực hiện tinh giản biên chế gửi Sở Nội vụ tổng hợp trình UBND TP gửi Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính kiểm tra theo quy định.  

Định kỳ vào ngày 15/1 hằng năm, tổng hợp kết quả đánh giá tình hình thực hiện tinh giản biên chế của cơ quan, đơn vị, địa phương gửi Sở Nội vụ tổng hợp trình UBND TP gửi Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính tổng hợp để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Plo.vn 19/4, Thanh Tuyền)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

“Người ta đổ mọi chuyện cho pháp luật để lẩn tránh trách nhiệm”

Ngày 19-4, Viện Khoa học pháp lý, Vụ Pháp luật dân sự- kinh tế và Báo Pháp luật Việt Nam (Bộ Tư pháp) phối hợp tổ chức Tọa đàm “Đưa Nghị quyết 27 vào cuộc sống – Xây dựng hành lang pháp lý đáp ứng yêu cầu mới cho doanh nghiệp”. 

Tại tọa đàm, ông Nguyễn Hồng Lam, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hồng Lam, cho rằng doanh nghiệp là đối tượng “chịu nạn” nhiều nhất khi pháp luật chưa “nét”, chưa “chuẩn”. Ông Lam chia sẻ trước đây để xây dựng nhà máy, ông đã khảo sát 5 tỉnh xung quanh Hà Nội. “Rất may, Vĩnh Phúc “trải thảm đỏ” nên chúng tôi cũng vào được”- ông Lam cho biết. Dù vậy, doanh nghiệp của ông cũng phải qua 16 cửa với 32 con dấu. 

Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hồng Lam cũng than việc cán bộ ở nhiều nơi rất giỏi dùng ‘uyển ngữ”. “Chính phủ yêu cầu mỗi năm chỉ được thanh, kiểm tra doanh nghiệp một lần, nhưng các cơ quan sẽ sử dụng những từ rất hay là ‘xuống giúp đỡ, hỗ trợ doanh nghiệp’, nhưng thực chất vẫn là thanh tra, kiểm tra”- ông Lam nói. 

Cho rằng thực tế thực thi pháp luật ở nhiều địa phương cũng chưa thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, ông Lam mong mỏi: “Làm sao để quan chức, cán bộ tuân thủ đầu tiên, doanh nghiệp chúng tôi cũng sẽ tuân thủ”. 

Ngoài ra, vị doanh nhân này phản ánh có nhiều quy định còn chồng chéo, điều chỉnh trong thời gian ngắn, doanh nghiệp không được phổ biến kịp thời nên việc tuân thủ, đáp ứng yêu cầu còn khó khăn. 

“Các luật đừng chồng chéo nhau. Khi ban hành cần đánh giá luật ấy có tạo điều kiện cho cán bộ tham nhũng không, có khiến doanh nghiệp bị thất thoát, thậm chí có khiến doanh nghiệp bị phá sản không?”- ông Lam đề nghị. 

Bà Nguyễn Thị Minh Thanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nữ Doanh nhân Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cũng chia sẻ nhiều khó khăn bà gặp phải trong quá trình kinh doanh. Thậm chí, có dự án công ty của bà mất nhiều năm để làm thủ tục, tới lúc gần xong do quy định thay đổi nên phải làm lại từ đầu. “Tôi làm kinh doanh, lẽ ra mong muốn con kế nhiệm mẹ nhưng sau lại muốn con làm công chức vì thấy nghề của mẹ vất vả quá”- bà Thanh nói. 

“Người ta đổ mọi chuyện cho pháp luật để lẩn tránh trách nhiệm. Tôi có thể cam đoan rằng nhiều văn bản luật của chúng ta tiếp cận gần như sát, có những vấn đề hoàn toàn giống với quốc tế, chỉ có điều chúng ta không thực hiện thôi”- GS.TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Pháp luật và Kinh tế ASEAN nói. 

Là người làm công tác nghiên cứu, đồng thời làm báo, làm luật sư, làm trọng tài viên VIAC từ 1993 đến nay, GS Lê Hồng Hạnh khẳng định những gì doanh nghiệp gặp, ông đều nắm tương đối chuẩn xác. “Muốn “gỡ” cho doanh nghiệp không phải vấn đề pháp luật mà là vấn đề con người”- vẫn lời ông Hạnh. 

GS Lê Hồng Hạnh kể ông từng tư vấn cho một dự án điện gió gửi cho một địa phương. “Một dự án hàng mấy trăm nghìn tỉ đồng hoàn toàn rất có lợi cho địa phương đó, vì dự kiến nộp cho ngân sách rất nhiều. Sau khi lấy ý kiến các bộ, ngành, Thường vụ Tỉnh uỷ đồng ý, nhiều lãnh đạo tỉnh đồng ý, riêng Chủ tịch là không... Có phải sai luật đâu mà vấn đề ở khâu thực hiện”- GS Lê Hồng Hạnh một lần nữa nhấn mạnh. 

Theo ông, vấn đề phải làm cho bằng được là thực thi pháp luật. Thực thi pháp luật cần đặt vào đó những con người biết pháp luật, hiểu pháp luật, đồng cảm với doanh nghiệp, đồng cảm với người dân. 

GS Lê Hồng Hạnh thừa nhận thực tế vướng mắc rất nhiều không phải do quy định mà do người thực thi pháp luật muốn hiểu sai, áp dụng sai vì mục đích cá nhân. “Vấn đề tôi nói là vấn đề con người, phải kiện toàn được công tác cán bộ...”- GS Lê Hồng Hạnh đánh giá pháp luật hiện nay khá ổn, dù có những mâu thuẫn, chồng chéo nào đó nhưng nếu có cán bộ ‘tâm’ thì hoàn toàn “gỡ” được. 

Trong khi đó, luật sư Trần Hữu Huỳnh, nguyên Trưởng Ban Pháp chế VCCI, nguyên Chủ tịch Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) lại cho rằng trong xây dựng pháp luật cũng cần thiết phải “năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”. 

“Các quy định nằm trong phòng lạnh, không gắn với thực tế thì làm khổ doanh nghiệp rất nhiều”- ông Huỳnh cho rằng khi xây dựng pháp luật liên quan đến kinh doanh, nếu không kết nối với 300 hiệp hội doanh nghiệp, với mấy chục nghìn luật sư… thì “suốt ngày chúng ta sẽ bị luẩn quẩn trong vòng mâu thuẫn chồng chéo, không khả thi, không hợp lý, không hiệu quả”. 

Vị luật sư này cũng nhận xét quá trình xây dựng pháp luật có nhiều bước tiến nhưng quá trình thi hành pháp luật có nhiều vấn đề. “Thật đau xót khi cán bộ công chức nói chúng tôi thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước Hội đồng xét xử”- luật sư Huỳnh nói thêm. 

PGS.TS Đinh Dũng Sỹ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ cũng thừa nhận công tác xây dựng chính sách, pháp luật hiện nay vẫn ‘theo kiểu phòng lạnh, không đi vào thực tế’.

“Muốn đưa luật vào cuộc sống thì trước hết phải đưa cuộc sống vào pháp luật, phải nghe ý kiến của doanh nghiệp trước để biết họ cần gì chứ không phải chúng ta muốn gì”- ông Đinh Dũng Sỹ nêu quan điểm. 

Đồng tình với các quan điểm chia sẻ trước đó, ông Sỹ đề nghị cần quan tâm đến khâu tổ chức thực thi, cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là chấn chỉnh đội ngũ cán bộ, công chức trong các mối quan hệ với doanh nghiệp. Theo ông, tất cả những vấn đề tham ô, tham nhũng đều ở cách xử lý, cách thức làm việc, phong cách, đạo đức công vụ… của người công chức đối với doanh nghiệp. 

“Nhưng các doanh nghiệp cũng phải chuẩn mực đi, không có chuyện vi phạm pháp luật một chiều trong mối quan hệ này. Chúng ta (doanh nghiệp) làm việc tuân theo pháp luật thì những tiêu cực đó của đội ngũ cán bộ, công chức không có đất để tồn tại”- ông Đinh Dũng Sỹ nhấn mạnh. (Plo.vn 20/4, Đức Minh)Về đầu trang

Xin lỗi và sửa lỗi

Tại một hội nghị mới đây, đồng chí Lại Thái Phong, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Cục Đăng kiểm Việt Nam thay mặt những người làm công tác đăng kiểm trình bày tâm thư xin nhận lỗi trước Đảng, trước dân về những sai phạm của ngành thời gian qua và cho biết, ngành đăng kiểm đã và đang nghiêm túc sửa lỗi. 

Câu chuyện về bức tâm thư xin lỗi nêu trên như một lát cắt về lòng tự trọng, danh dự, trách nhiệm, thái độ thẳng thắn về những sai phạm trong quá trình thực thi công vụ. Đây thực sự là bài học đau lòng trong việc buông lỏng quản lý, lãnh đạo, gây hậu quả nghiêm trọng. Song vấn đề dư luận quan tâm hơn cả, đó là tới đây, ngành đăng kiểm sẽ sửa lỗi, lấy công chuộc tội như thế nào. Bởi lẽ, quan trọng hơn cả lời xin lỗi là thái độ, trách nhiệm và hiệu quả sửa lỗi.

Trong giao tiếp xã hội, đặc biệt trong hoạt động công quyền, lời xin lỗi rất đáng quý và cần thiết. Người cán bộ, đảng viên làm sai mà biết nhận ra cái sai của mình rồi chủ động xin lỗi và tìm giải pháp khắc phục, sửa sai sẽ giúp lấy lại niềm tin của tổ chức và nhân dân. Có một minh chứng ở tỉnh Hà Tĩnh: Để sửa lỗi phần việc lãnh đạo thời kỳ trước gây thiệt thòi về đất đai cho gần 20 hộ dân, đồng chí Dương Kim Huy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà đã trực tiếp đến từng hộ dân để xin lỗi, đề xuất phương án và thuyết phục. Nhờ cách làm thấu tình đạt lý, các hộ dân tin tưởng làm theo, chấm dứt khiếu kiện và đặt niềm tin ở thế hệ lãnh đạo mới. 

Song thật đáng buồn, thời gian qua, có không ít cán bộ, đảng viên vi phạm, khi bị phát hiện thì bao biện, lấp liếm khuyết điểm, không dám nhận lỗi về mình, thậm chí đổ lỗi cho cấp dưới. Lại có cán bộ, đảng viên nhận lỗi và xin lỗi cho xong rồi để đấy mà không quan tâm khắc phục, hoặc giải quyết kiểu nửa vời. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa”. Tại Hội nghị lần thứ mười (mở rộng), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (năm 1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm và xin lỗi dân về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trung ương Đảng đã đưa ra các yêu cầu chấn chỉnh, sửa sai, khôi phục danh dự, xét lại án sai, bù đắp cho những người bị oan, nhờ đó khắc phục được sai lầm, khuyết điểm. 

Hiện nay, nhiều bộ, ngành, địa phương có quy định làm sai thì phải xin lỗi người dân. Nhưng vì sao các sai phạm vẫn cứ diễn ra? Lời xin lỗi trước chưa giải quyết xong, lại tiếp tục xin lỗi việc làm sai khác. Thậm chí đứng trước vành móng ngựa vẫn nói "lời xin lỗi sau cùng". Có ý kiến nói vui là “dân đâu có nhiều lỗi để mà xin”. Thành thử các quy định vẫn mang nặng tính hình thức, thiếu hiệu quả. 

Để lời xin lỗi trước Đảng, trước dân thật sự đúng nghĩa, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc việc xin lỗi và sửa lỗi. Nghĩa là không phải cứ nhận lỗi và xin lỗi rồi là xong, mà phải có giải pháp, hướng khắc phục, giải quyết lỗi ấy. Các cơ quan công quyền phải có chế tài, quy định rõ ràng: Xin lỗi như thế nào, bằng cách nào, thái độ, hành vi ra sao; đánh giá mức độ sửa lỗi như thế nào; đồng thời phải tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi sự thay đổi của cá nhân làm sai. Có như vậy, lời xin lỗi của cán bộ, đảng viên mới thực chất, thực tâm. (Qdnd.vn 20/4, Phạm Kiên)Về đầu trang./.

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.989.089 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này