Bản tin cải cách hành chính ngày 30/3/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về phòng chống tham nhũng

2. Nam Định: Cải cách đi vào thực chất

3. Khánh Hòa: Công bố 3 thủ tục hành chính về lĩnh vực hạ tầng giao thông

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Những thay đổi từ khi triển khai một cửa quốc gia đường hàng không

5. Bộ TN&MT Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030

6. Doanh nghiệp bối rối vì bị... đánh đố

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. TP.HCM: Thi hành kỷ luật đảng đối với tập thể và cá nhân vi phạm tại 3 đơn vị

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Đồng bộ hóa đơn điện tử với chứng từ điện tử

9. Điều không bình thường trong một văn bản hành chính

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về phòng chống tham nhũng

UBND TP Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 68/KH-UBND, triển khai tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2020 trên địa bàn TP.

Theo kế hoạch, trong quý II, TP sẽ tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến nội dung Luật PCTN và các văn bản quy định chi tiết thi hành. Tại các quận, huyện, thị xã, trong quý II, cũng sẽ tổ chức hội nghị tập huấn chuyên sâu Luật PCTN.

Bên cạnh đó, TP cũng giao các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị TP, UBND các quận, huyện, thị xã xây dựng chuyên trang về PCTN; tuyên truyền việc triển khai, thực hiện pháp luật và các quy định của pháp luật về PCTN trên cổng thông tin điện tử của đơn vị mình.

Cũng trong quý II, sẽ diễn ra các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn, nói chuyện chuyên đề với nội dung, chủ đề về PCTN và xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển; minh bạch, liêm chính và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ, kê khai tài sản, thu nhập, quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn, đạo đức liêm chính, xử lý người có hành vi tham nhũng...

Về nội dung, TP yêu cầu, trong năm 2020, các đơn vị phải lồng ghép tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN thông qua công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Các Sở: Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an TP, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, Hội Nhà báo Hà Nội thực hiện chỉ đạo của các bộ, ngành Trung ương về tổ chức thi giáo viên, giảng viên dạy giỏi nội dung pháp luật về PCTN gắn với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và đạo đức liêm chính cho các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức cuộc thi báo chí viết về đề tài PCTN và xây dựng đạo đức liêm chính.

Trong các tháng 9, 10 và 11, các sở, ban, ngành, đoàn thể, đơn vị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN trong tổ chức Ngày Pháp luật Việt Nam.

Thanh tra TP, Sở Tư pháp chủ trì biên soạn, phát hành tài liệu, tờ gấp, tuyên truyền pháp luật về PCTN và đạo đức liêm chính.

UBND TP cũng giao UBND huyện Thanh trì, UBND quận Hà Đông, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch, Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội thực hiện chỉ đạo điểm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN. (Thanhtra.com.vn 29/3, TTH) Về đầu trang

Nam Định: Cải cách đi vào thực chất

Những năm qua nỗ lực cải cách của các cấp chính quyền tỉnh Nam Định đã ngày càng đi vào thực chất, các Chỉ số PCI, Chỉ số Cải cách hành chính (Par Index)... được cải thiện rõ rệt.

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Đình Nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định xung quanh vấn đề này.

- Thưa ông, đâu là điểm nhấn trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI của Nam Định trong những năm trở lại đây?

Giai đoạn 2016 - 2020, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nam Định đạt trên 3 tỷ USD, đầu tư từ các nguồn vốn trong nước đạt trên 30.000 tỷ đồng.

Trong 03 năm qua, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị đánh giá phân tích Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, qua đó xác định cụ thể trách nhiệm của Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện và thành phố trong từng nội dung, nhiệm vụ cụ thể được phân công thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực canh tranh của tỉnh. Tỉnh Nam Định đã ban hành Kế hoạch số 82/KH-UBND ngày 23/8/2017; Kế hoạch số 91/KH-UBND ngày 25/9/2018 về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) của tỉnh Nam Định năm 2018 và những năm tiếp theo để phân công nhiệm vụ cho từng sở, ngành có liên quan để có những giải pháp hiệu quả trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Theo báo cáo chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2018 của tỉnh Nam Định đã có sự cải thiện tích cực khi đạt 87,9%, xếp hạng 15/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tăng 18,1% và 46 bậc so với năm 2017. Điều này cho thấy các cơ quan quản lí nhà nước trong tỉnh phục vụ người dân, tổ chức ngày càng tốt hơn làm cho người dân, tổ chức ngày càng hài lòng hơn.

Thu hút đầu tư FDI vào địa bàn tỉnh đã có bước phát triển. Tổng vốn FDI cấp mới và điều chỉnh tăng vốn trong giai đoạn 2016 - 2019 đạt 97,1% mục tiêu thu hút FDI giai đoạn 2016-2020 đề ra tại Nghị quyết số 05-NQ/TU. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh năm 2016 đạt 58,54 điểm, xếp hạng 30/63 tỉnh, thành phố. PCI năm 2017 của tỉnh đạt 61,43 điểm, xếp hạng 41/63 tỉnh, thành phố; PCI năm 2018 của tỉnh đạt 63,01 điểm, xếp hạng 35/63 tỉnh, thành phố, đã nằm trong nhóm khá của cả nước.

- Theo ông hiện nay những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Nam Định là gì?

Công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch trên địa bàn tỉnh còn một số hạn chế, chưa đảm bảo, thiếu tính đồng bộ giữa các quy hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch chậm. Một số quy hoạch ngành, lĩnh vực không đáp ứng được yêu cầu thực tế nhưng chưa được điều chỉnh, bổ sung đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xúc tiến và thu hút đầu tư.

Thu hút đầu tư còn gặp nhiều khó khăn do các quy định pháp luật đến đất đai, đầu tư. Đặc biệt, các dự án FDI thực hiện ngoài khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đều bị vướng mắc khi thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất do pháp luật đất đai không cho phép nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng đất của hộ gia đình cá nhân.

Việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN, CCN chưa đáp ứng kịp thời tiến độ thu hút đầu tư, thiếu quỹ đất sạch đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư. Năng lực của một số chủ đầu tư các KCN, CCN còn hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình đầu tư hoàn thiện hạ tầng, quản lý phát triển cũng như thu hút các dự án sản xuất kinh doanh vào các KCN, CCN...

Nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao sau khi tốt nghiệp đại học và sau đại học thường ở lại công tác tại các thành phố lớn nên chưa đáp ứng yêu cầu về lao động của các nhà đầu tư. Tình trạng thiếu lao động nhất là trong các doanh nghiệp dệt may, da giày dẫn tới cạnh tranh lao động không lành mạnh.

- Xin ông cho biết, việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đã tác động như thế nào đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh?

Năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 8,86%, cao nhất từ đầu nhiệm kỳ, xuất khẩu hàng hóa đạt trên 2 tỷ USD. 18/18 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều đạt và vượt kế hoạch… Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 19.750 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2018. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,3% so với năm 2018. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,5% so với năm 2018. Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Nam Định đạt trên 2.005 triệu USD, tăng 24,5% so với năm 2018.

Tỉnh đã đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án đầu tư hạ tầng KCN Dệt may Rạng Đông, CCN Thịnh Lâm (huyện Giao Thủy), CCN Yên Dương (huyện Ý Yên)...

Qua đó đã tạo điều kiện thu hút đầu tư đạt kết quả khá, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới và điều chỉnh tăng vốn cho 92 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 6.908,4 tỷ đồng và 12 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 233,57 triệu USD.

Đặc biệt, ngày 18/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận tỉnh Nam Định hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Nam Định là một trong 2 tỉnh đầu tiên của cả nước về đích xây dựng nông thôn mới được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba và 10/10 huyện, thành phố được tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

- Xin cảm ơn ông! (Enternews.vn 29/3, Đỗ Hùng) Về đầu trang

Khánh Hòa: Công bố 3 thủ tục hành chính về lĩnh vực hạ tầng giao thông

UBND tỉnh vừa có quyết định về việc công bố thủ tục hành chính (TTHC) lĩnh vực hạ tầng giao thông thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, có 3 TTHC mới liên quan đến lĩnh vực hạ tầng giao thông được công bố, gồm: 1. Cấp giấy phép sử dụng tạm thời một phần hè phố, lòng đường để trông, giữ xe có thu phí. 2. Cấp giấy phép sử dụng tạm thời một phần hè phố không vào mục đích giao thông để thực hiện: tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; điểm trông, giữ xe phục vụ hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội; điểm trung chuyển vật liệu, phế thải xây dựng để phục vụ thi công công trình của các hộ gia đình. 3. Cấp giấy phép sử dụng tạm thời một phần lòng đường không vào mục đích giao thông đối với: điểm trông, giữ xe ô tô phục vụ các hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội; điểm trung chuyển rác thải sinh hoạt của doanh nghiệp vệ sinh môi trường đô thị.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 25-3, bãi bỏ các TTHC lĩnh vực hạ tầng giao thông đã được công bố tại Quyết định 773 của Chủ tịch UBND tỉnh ngày 27-3-2013. Quyết định cũng hướng dẫn các nội dung của TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện; mẫu đơn, mẫu bản vẽ, mẫu giấy phép sử dụng tạm thời một phần lòng đường, hè phố không vào mục đích giao thông… (Baokhanhhoa.vn 29/3, Mạnh Hùng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Những thay đổi từ khi triển khai một cửa quốc gia đường hàng không

Theo kế hoạch, dự kiến từ ngày 15/5/2020, Hệ thống một cửa quốc gia và hệ thống quản lý giám sát tự động tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài sẽ chính thức triển khai. Cục Hải quan Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Tổng cục tích cực hoàn thiện hệ thống trong thời gian thí điểm và đã tạo sự thay đổi lớn trong công tác quản lý.

Theo đại diện Phòng Công nghệ thông tin (Cục Hải quan Hà Nội) việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia đường hàng không đã thay đổi phương thức khai báo.

Trước khi triển khai, thông tin về hàng hóa, vận đơn chủ, vận đơn thứ cấp, hành lý, hành khách được cơ trưởng gửi bằng bản giấy sau khi tàu bay hạ cánh cho các cơ quản quản lý nhà nước tại sân bay quôc tế. Cơ quan Hải quan sử dụng hồ sơ giấy để đưa ra các biện pháp kiểm tra, giám sát theo quy định. Lập, sao lưu, lưu trữ hồ sơ, chứng từ giấy phục vụ công tác thống kê, báo cáo (cần nhiều nhân lực, thời gian, công vụ, văn phòng phẩm để lập, lưu trữ hồ sơ, báo cáo).

Hiện nay, hãng hàng không chỉ cần gửi thông tin điện tử (các chỉ tiêu thông tin được quy định) duy nhất tới Cổng thông tin một cửa quốc gia. Các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng thông tin khai báo này để phục vụ công tác quản lý nhà nước của cơ quan mình.Công chức hải quan kiểm tra thông tin khai báo trên hệ thống một cửa quốc gia để đưa ra các biện pháp kiểm tra, giám sát theo quy định. Hồ sơ được lập, lưu trữ trên hệ thống, thuận tiện cho công tác báo cáo thống kê. Qua đó, giảm thiểu thời gian, nhân lực, công vụ, văn phòng phẩm để lập, lưu trữ hồ sơ, báo cáo.

Việc thực hiện thủ tục, trao đổi, chia sẻ và khai thác thông tin đối với tàu bay nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh; thông tin trước về hành khách và hàng hóa tại các cảng hàng không quốc tế được thực hiện thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia (theo Nghị định 85/2019/NĐ-CP).

Điểm thay đổi tiếp theo là về quản lý hàng hóa nhập khẩu vào kho, xác nhận hàng hóa qua khu vực giám sát. Trước khi triển khai, đối với hàng hóa vào kho, cơ quan Hải quan giám sát đối chiếu hồ sơ giấy do cơ trưởng cung cấp với hồ sơ hàng hóa dự kiến vào kho do các doanh nghiệp kho cung cấp để xác định hàng hóa phù hợp vào kho.

Với hàng hóa xuất kho, doanh nghiệp kinh doanh kho yêu cầu chủ hàng hóa xuất trình tờ khai đã được xác nhận thông quan (giải phóng hàng), tờ khai vận chuyển độc lập, biên bản chuyển hàng hóa về chi cục hải quan ngoài cửa khẩu để kiểm tra thực tế, vận đơn… làm cơ sơ xuất kho.

Cơ quan Hải quan căn cứ trên tờ khai giấy đã được xác định thông quan (giải phóng hàng,..), phiếu xuất kho để xác nhận hàng qua khu vực giám sát trên hệ thống E-customs V5. Việc kiểm soát, thống kê hàng hóa nhập kho, xuất kho, tồn kho bằng phương thức thủ công. Với phương pháp quản lý thủ công khó xác định, xác minh tờ khai chưa qua khu vực giám sát.

Tuy nhiên, hiện nay, với hàng hóa vào kho, cơ quan Hải quan giám sát cho phép hàng hóa vào kho theo danh sách dự kiến xếp dỡ; hàng hóa xuất kho, chủ hàng hóa yêu cầu nhận hàng (theo vận đơn), hệ thống quản lý kho của doanh nghiệp kho sẽ hỏi đáp thông tin tờ khai đủ điều kiện qua khu vực giám sát đến hệ thống VASSCM. Trường hợp trả về thông tin tờ khai đủ điều kiện qua khu vực giám sát, kho sẽ xuất phiếu xuất kho (có sử dụng công nghệ QRcode) đồng thời gửi phiếu xuất kho đến hệ thống VASSCM.

Hệ thống VASSCM trao đổi thông tin hàng hóa xuất kho với Hệ thống E-customs V5, cùng với thông tin do công chức hải quan quét mã QRcode trên phiếu xuất kho để xác nhận hành qua khu vực giát trên hệ thống E-customs V5.

Các lô hàng được kiểm soát trên hệ thống từ khâu đầu đến khâu cuối quá trình khai thác hàng hóa tại kho. Báo cáo, thống kê hàng hóa tồn đọng tức thời phục vụi công tác quản lý, điều hành của lãnh đạo các cấp; kiểm soát, xác định, xác minh tờ khai chưa qua khu vực giám sát.

Như vậy, sư kết hợp giữa Hệ thống một cửa quốc gia, Hệ thống giám sát tự động (VASSCM) và hệ thống VNACCS/VCIS, E-customs V5 đã tạo thuận lợi cho công tác xác nhận hàng qua khu vực giám sát. Giúp công chức hải quan kiểm soát, xác định nguyên nhân, xử lý tờ khai chưa được xác nhận qua khu vực giám sát.

Bên cạnh đó, phương pháp quản lý rủi ro đã được áp dụng triệt để trong việc triển khai hệ thống một cửa quốc gia. Trước triển khai, quản lý rủi ro áp dụng theo phương pháp tuyến đường trọng điểm, tại thời điểm sau khi tàu bay hạ cánh.

Tuy nhiên, hiện tại hãng hàng không khai báo thông tin manifet trước đến hệ thống một cửa quốc gia giúp cơ quan Hải quan tiếp nhận thông tin minh bạch. Hệ thống sẽ căn cứ vào các tiêu chí quản lý và phương pháp quản lý rủi ro được thiết lập để xác định đối tượng trọng điểm được áp dụng suốt quá trình quản lý, giám sát hành khách, hàng hóa, cung cấp thông tin cảnh báo cho công chức hải quan, hỗ trợ lập danh sách hàng hóa cần soi chiếu trước. (Haiquanonline.com.vn 29/3, N.Linh) Về đầu trang

Bộ TN&MT Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030

Ngày 27/3, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 791/QĐ-BTNMT ban hành Kế hoạch tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 và xây dựng Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030.

Kế hoạch nhằm mục đích đánh giá toàn diện tình hình triển khai và kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; xác định rõ những kết quả nổi bật đã đạt được, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác cải cách hành chính (CCHC) giai đoạn 2011-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời xác định các biện pháp khắc phục những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và đề xuất các định hướng, giải pháp, nhiệm vụ CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030 nói chung và nhiệm vụ CCHC của Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới.

Việc tổng kết, đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện, khoa học, thiết thực, hiệu quả; đánh giá đa chiều, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức, các nhân có liên quan.

Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ phải đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan, thực chất các nội dung CCHC; làm rõ kết quả so với mục tiêu, thể hiện thông qua sản phẩm, số liệu cụ thể, phân tích tồn tại, hạn chế để chỉ ra các nguyên nhân. Đồng thời, xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm CCHC giai đoạn 2021-2030 và đề xuất các giải pháp thực hiện bảo đảm đồng bộ, khả thi, phù hợp với yêu cầu, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Gắn việc tổng kết với công tác thi đua - khen thưởng, đề xuất những hình thức khen thưởng phù hợp cho những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011 - 2020.

Các nội dung Kế hoạch bao gồm: Xây dựng Kế hoạch tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ giai đoạn 2011-2020; Hướng dẫn thực hiện, Đề cương báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ, của các đơn vị trực thuộc Bộ giai đoạn 2011­2020; Các đơn vị trực thuộc Bộ tổ chức tổng kết, xây dựng báo cáo tổng kết theo hướng dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ; Xây dựng các báo cáo tổng kết chuyên đề CCHC giai đoạn 2011-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổng kết, đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành CCHC của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện cải cách thể chế; Tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính; Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện cải cách tài chính công; Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện hiện đại hóa hành chính - lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện hiện đại hóa hành chính - lĩnh vực áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 và ISO 9001:2015; Xây dựng báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình tổng thể CCHC cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020­2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Hoàn thiện Báo cáo tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường gửi Bộ Nội vụ.

Về tổ chức thực hiện, Bộ trưởng giao Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ có trách nhiệm: Chủ trì xây dựng Kế hoạch; hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 bảo đảm đúng yêu cầu, chất lượng và tiến độ; Chủ trì tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổ chức xây dựng Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; dự thảo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm xây dựng Kế hoạch và tổ chức tổng kết nghiêm túc, bảo đảm chất lượng, tiến độ thời gian; hình thức tổ chức tổng kết phù hợp, thiết thực, hiệu quả; gắn với biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình tổng thể tại đơn vị; Xây dựng Báo cáo tổng kết, Báo cáo chuyên đề theo phân công tại Kế hoạch này, gửi về Bộ (qua Vụ Tổ chức cán bộ) bảo đảm thời hạn; Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ xây dựng báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011 -2020 và đề xuất nhiệm vụ CCHC giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm bảo tiến độ theo yêu cầu.

Vụ trưởng Vụ Thi đua, Khen thưởng và Tuyên truyền, thủ trưởng các cơ quan báo chí, truyền thông thuộc Bộ có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền tình hình tổng kết và kết quả CCHC giai đoạn 2011 -2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. (Baotainguyenmoitruong.vn 29/3, Khương Trung) Về đầu trang

Doanh nghiệp bối rối vì bị... đánh đố

Yêu cầu công chức nhà nước coi khó khăn, vướng mắc và cả sự thiếu thông tin của doanh nghiệp về các thủ tục hành chính là trách nhiệm của mình có vẻ vẫn còn quá cao so với thực tiễn, khiến những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ chưa thể “nóng đều”.

“Chúng tôi đang phải đi thuê gia công đơn hàng từ công ty khác. Điều này khiến doanh nghiệp tốn kém, chi phí hoạt động đội lên, làm chậm trễ trong việc ký hợp đồng và giao hàng”, ông Wang Po Yuan, Giám đốc Công ty TNHH Việt Tường đã cho biết như vậy trong đơn giải trình và kiến nghị gửi UBND tỉnh Hải Dương, Sở Xây dựng Hải Dương và Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương vào giữa tháng 3/2020.

Chuyện của Việt Tường khá dài, đã kéo dài hơn một năm, nhưng tựu trung, họ đang không biết làm thế nào để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất, gia công và kinh doanh bán thành phẩm các loại sản phẩm từ nhựa và cao su tại Khu công nghiệp Nam Sách (Hải Dương). Thậm chí, đến giờ, cả thủ tục xây dựng công trình phụ trợ như nhà ăn ca, bể nước, nhà vệ sinh... cũng không thực hiện được, nên Công ty không thể tuyển nhân viên, tổ chức sản xuất tại phần nhà xưởng thuộc quyền sử dụng của mình.

Nguyên nhân là Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương không công nhận các công trình xây dựng đang có trong nhà máy, vốn được mua lại từ một doanh nghiệp khác, nên không cho phép Việt Tường tiến hành sửa chữa. Việc xây dựng nhà máy cũng bị tắc vì hồ sơ xây dựng nhà máy cũ từ năm 2003-2004 không được doanh nghiệp sở hữu trước giao lại do bị thất lạc, cũng không được lưu tại Ban Quản lý.

Đại diện Công ty Việt Tường cho biết, họ đã gặp trực tiếp Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương đề nghị hướng dẫn cách tháo gỡ, nhưng chưa có giải pháp nào, nên đành phải gửi văn bản trên để mong sớm có giải pháp và sớm đi vào sản xuất.

“Công ty mong từng ngày, nhưng các cơ quan quản lý cứ từ từ, bảo chúng tôi đi nhờ lãnh đạo Ban Quản lý thời những năm 2003-2004 xác nhận hồ sơ quy hoạch”, đại diện Công ty Việt Tường chia sẻ và cho biết, bất đắc dĩ lắm mới phải nói với báo chí, vì mấy thị trường xuất khẩu của Công ty là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan đang trở lại...

Ngày 22/3 là thời điểm hiệu lực của Nghị định 17/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công thương. Bộ Công thương lại ghi điểm đầu tiên trong việc thực hiện Nghị quyết 02/2020/NĐ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

“Dù là một bước, nhưng thực sự không có gì đột phá”, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) nhận định khi nhìn vào danh mục 205 điều kiện kinh doanh được gỡ bỏ. Nhiều điều kiện được bãi bỏ vốn đang có quy định ở văn bản quy phạm pháp luật khác, nghĩa là không làm doanh nghiệp đỡ đi được nhiều thủ tục, cũng như không giảm nhiều chi phí tuân thủ.

Ví dụ, về điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô, trong 4 điều kiện được bỏ đi, có tới 3 điều kiện dẫn chiếu quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường - điều mà doanh nghiệp đương nhiên phải tuân thủ theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Điều kiện còn lại là trình độ của người phụ trách kỹ thuật các dây chuyền sản xuất, lắp ráp ô tô, vốn vẫn được các doanh nghiệp cho rằng nằm trong quyền kinh doanh của họ.

Tất nhiên, một số điều kiện mang tính can thiệp hoạt động doanh nghiệp được bãi bỏ cũng là quá tốt, như quy định số lượng chuyên gia, nhưng bản chất về điều kiện kinh doanh của ngành công thương chưa thay đổi thực sự.

“Điều doanh nghiệp mong muốn là thay đổi tư duy về điều kiện kinh doanh. Bởi ban hành điều kiện kinh doanh có nghĩa là giới hạn quyền tự do kinh doanh, đáng ra là giải pháp cuối cùng được tính đến, chứ không phải là cách quản lý đầu tiên như hiện tại”, ông Tuấn nói.

Thực trạng trên không làm ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) ngạc nhiên, kể cả cách hướng dẫn doanh nghiệp “đi tìm ban quản lý cũ để xin xác nhận”. “Tôi vẫn thấy sự vô cảm của một số công chức. Không hiểu sao trong lúc doanh nghiệp khó khăn như vậy mà họ không thay đổi cách nghĩ, cách làm”, ông Cung chia sẻ quan điểm.

Trong trường hợp của Công ty Vĩnh Tường, ông Cung cho rằng, nếu các công chức của Ban Quản lý các khu công nghiệp Hải Dương thấy việc hỗ trợ để doanh nghiệp có thể hoạt động là nhiệm vụ của mình, thì sẽ không có cách tư vấn đánh đố doanh nghiệp như vậy.

“Có thể doanh nghiệp còn thiếu sót, hoặc chưa hiểu hết thủ tục, nhưng nếu các công chức thực sự muốn hỗ trợ, thì tôi tin họ sẽ tìm được các quy định để gỡ khó nhanh nhất. Đó là chưa kể trong lúc nhiều doanh nghiệp phải tính phương án thu hẹp, đóng cửa, thì có doanh nghiệp muốn mở rộng phải là tin vui với Ban Quản lý”, ông Cung nói.

Nhưng, có vẻ như đây chỉ là mong muốn của ông Cung, ông Tuấn, của các doanh nghiệp... (Baodautu.vn 29/3, Khánh An) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

TP.HCM: Thi hành kỷ luật đảng đối với tập thể và cá nhân vi phạm tại 3 đơn vị

Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM vừa có thông báo kết quả kiểm điểm, xem xét thi hành kỷ luật đảng đối với tập thể và cá nhân vi phạm tại Đảng ủy Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV, Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn và Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.

Thông tin trên Thanhuytphcm.vn, vừa qua, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM đã xem xét tờ trình của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM về đề nghị thi hành kỷ luật đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Theo đó, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM nhận thấy, Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã buông lỏng, thiếu trách nhiệm, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát để Hội đồng thành viên, Ban Tổng Giám đốc Tổng Công ty có những sai phạm dẫn đến nhiều đồng chí trong Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy có sai phạm nghiêm trọng trong công tác quản lý đất đai, quản lý tài chính và thực hiện các dự án gây thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước dẫn đến bị xử lý kỷ luật, đặc biệt có người đứng đầu, bị khởi tố tạm giam..., gây ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo dư luận xã hội không tốt, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, đảng viên.

Căn cứ Quy định của Đảng về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm; xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Đối với Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn, trên cơ sở các quyết định kỷ luật, văn bản đề nghị của UBND TP.HCM về thi hành kỷ luật người quản lý doanh nghiệp tại Công ty TNHH MTV Dược Sài Gòn; căn cứ kết quả kiểm điểm, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM nhận thấy, các đảng viên có khuyết điểm, vi phạm trong công tác lập sổ sách kế toán, công tác đấu thầu, về đầu tư, góp vốn liên kết, liên doanh, quản lý công nợ và vay ngân hàng bổ sung vốn lưu động thực hiện dự án không đúng quy định Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; việc thực hiện cổ phần hóa không đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định; việc quản lý, sử dụng mặt bằng, nhà đất; việc cử cán bộ, người đại diện vốn nhà nước, người quản lý doanh nghiệp và quản lý cán bộ, người lao động đi nước ngoài.

Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM đã xem xét, quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo đối với đồng chí Lê Việt Hùng, Phó Bí thư Đảng ủy, Thành viên không chuyên trách Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Công ty.

Cùng với đó là thi hành kỷ luật bằng hình thức Khiển trách đối với 3 cá nhân. Đó là đồng chí Nguyễn Huy Quang, Đảng ủy viên, Phó Tổng Giám đốc Công ty; đồng chí Nguyễn Thị Phương Lan, Kiểm soát viên chuyên trách; đồng chí Nguyễn Diệu Lê, nguyên Kiểm soát viên chuyên trách.

Về các vi phạm tại Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM cho biết, trên cơ sở kết luận của UBND TP.HCM về thi hành kỷ luật công chức, viên chức tại Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP; căn cứ kết quả kiểm điểm, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM nhận thấy, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm trong công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán, công tác đấu thầu và sử dụng xe đưa đón tại Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.

Căn cứ các quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM đã xem xét, quyết định, thi hành kỷ luật bằng hình thức Khiển trách đối với đồng chí Hoàng Như Cương, nguyên Bí thư Đảng ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020, nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Đường sắt đô thị thành phố. (Toquoc.vn 29/3, P.V) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Đồng bộ hóa đơn điện tử với chứng từ điện tử

Đến ngày 1/11/2020, Nghị định 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ mới được áp dụng toàn bộ, nhưng hiện Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo nghị định thay thế nghị định này. Theo ông Nguyễn Văn Phụng, Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế), việc đưa ra nghị định thay thế là nhằm đồng bộ hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử. 

Nghị định 119/2018/NĐ-CP chưa thực sự đi vào cuộc sống, nhưng đã phải thay thế. Vì sao vậy, thưa ông?

Nghị định 119/2018/NĐ-CP mới giải quyết vấn đề về hóa đơn điện tử, chưa đề cập đến chứng từ điện tử. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế năm 2019 đã có quy định cụ thể về cả hóa đơn điện tử (có mã hoặc không có mã xác thực của cơ quan thuế) và chứng từ điện tử, bao gồm các loại chứng từ, biên lai được thể hiện ở dạng dữ liệu điện tử do cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức có trách nhiệm khấu trừ thuế cấp cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh (người nộp thuế) bằng phương tiện điện tử khi thực hiện thủ tục về thuế hoặc các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước và các loại chứng từ, biên lai điện tử khác.

Hiện tại, hóa đơn được thực hiện bằng phương pháp điện tử, còn chứng từ khấu trừ thuế vẫn thực hiện thủ công bằng giấy khiến cơ quan thuế, doanh nghiệp, tổ chức khấu trừ thuế, thu các khoản khác thuộc ngân sách nhà nước mất thời gian, công sức, chi phí, do chứng từ giấy không kết nối được với hóa đơn điện tử.

Việc thống nhất quy định về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử trong một văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế, giảm thiểu thời gian, công sức, chi phí cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuế. Trên thực tế, Dự thảo Nghị định về hóa đơn, chứng từ kế thừa hầu như toàn bộ các quy định phù hợp với thực tế của Nghị định 119/2018/NĐ-CP, chỉ bổ sung phần chứng từ điện tử, nên việc tiếp tục triển khai hóa đơn điện tử không có gì vướng mắc.

Theo Nghị định 119/2018/NĐ-CP, việc thực hiện hóa đơn điện tử phải hoàn thành chậm nhất là ngày 1/11/2020, nhưng Dự thảo Nghị định thay thế cho phép kéo dài đến ngày 1/7/2022. Phải chăng đây là bước lùi?

Đây không phải là bước lùi, vì Luật Quản lý thuế năm 2019 dù có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, nhưng riêng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2022. Lý do là, để thực hiện được hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, đòi hỏi phải đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin; xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu; phải tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu hóa đơn và bảo đảm duy trì, vận hành, bảo mật, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin…

Đặc biệt, phải có sự kết nối giữa doanh nghiệp với cơ quan thuế; kế nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu liên quan giữa cơ quan thuế với nhiều cơ quan quản lý nhà nước khác như công thương, tài nguyên và môi trường, công an, y tế…

Để thực hiện được các công việc trên, không chỉ cần nguồn tài chính để đầu tư, mà cần phải có thời gian để cơ quan thuế, các bộ, ngành, doanh nghiệp thực hiện chính. Từ nay đến ngày 1/7/2022, người nộp thuế nếu đủ điều kiện vẫn áp dụng hóa đơn điện tử và cơ quan thuế khuyến khích người nộp thuế áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử kể từ ngày 1/7/2020.

Vậy kể từ ngày 1/7/2020, khi Nghị định 119/2018/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành, người nộp thuế áp dụng hóa đơn thế nào khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ?

Người nộp thuế đang áp dụng hóa đơn điện tử (có hoặc không có mã xác thực của cơ quan thuế) thì tiếp tục áp dụng. Người nộp thuế đủ điều kiện áp dụng hóa đơn, chứng từ điện tử thì đăng ký với cơ quan thuế để thực hiện. Còn nếu không, thì tiếp tục thực hiện Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 4/2014/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, tức là vẫn sử dụng hóa đơn giấy truyền thống.

Việc cho phép kéo dài thời gian thực hiện quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là tạo điều kiện cho người nộp thuế xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, đầu tư hệ thống phần mềm kế toán, phần mềm lập hóa đơn đáp ứng lập, tra cứu, lưu trữ dữ liệu và bảo đảm việc truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đến người mua, đến cơ quan thuế và không làm gián đoạn sản xuất, kinh doanh bình thường của người nộp thuế.

Nghị định 119/2018/NĐ-CP nhằm “khai tử” giấy, nhưng Nghị định thay thế vẫn quy định về hóa đơn giấy mua của cơ quan thuế. Rõ ràng, đây là bước lùi, thưa ông?

Việc tiếp tục cho phép một số đối tượng (doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ, cá nhân kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; và hộ, cá nhân kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; hộ, cá nhân kinh doanh)  được mua hóa đơn giấy của cơ quan thuế không phải là bước lùi, mà là tạo điều kiện cho họ hoạt động bình thường, trong khi chưa đủ điều kiện áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.

Song các đối tượng trên chỉ được phép mua hóa đơn giấy do cơ quan thuế đặt in tối đa là 12 tháng, sau đó phải sử dụng hóa đơn điện tử có hoặc không có mã của cơ quan thuế. Trong 12 tháng, cơ quan thuế sẽ hỗ trợ họ chuyển từ hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử. Khi chuyển sang hóa đơn điện tử, cơ quan thuế tiếp tục có các chính sách hỗ trợ người nộp thuế.

Nhiều ý kiến cho rằng, cần nới rộng việc sử dụng hóa đơn giấy mua của cơ quan thuế, vì trên thực tế, có tỷ lệ rất lớn trong khoảng 5 triệu hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ không đủ điều kiện để áp dụng hóa đơn điện tử, đặc biệt là ở khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Về nội dung này, chúng tôi tiếp tục lấy ý kiến đóng góp của của cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế, đặc biệt là hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp siêu nhỏ. (Baodautu.vn 29/3, Mạnh Bôn) Về đầu trang

Điều không bình thường trong một văn bản hành chính

Từ câu chuyện văn bản “không bình thường” thông qua giám sát của công dân và của HĐND cho thấy, năng lực thể chế, thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức rõ ràng là có vấn đề. Một giải pháp quan trọng đặt ra là cần quy định công khai, minh bạch các văn bản hành chính bằng nhiều hình thức. Đặc biệt, phải đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện văn bản, giúp nhân dân và cơ quan chức năng có điều kiện giám sát, góp phần xây dựng nền hành chính mới, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân.

Theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ “Về kiểm soát thủ tục hành chính” và Nghị định số 92/2017/NĐ-CP  “Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính”, thủ tục hành chính phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành và phải theo đúng thẩm quyền được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Khoản 4, Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cũng quy định, từ ngày 1.7.2016 (thời điểm Luật có hiệu lực) trở đi, bộ, ngành, địa phương chỉ được quy định thủ tục hành chính trong trường hợp được Luật giao. Nói cách khác, thông tư của các bộ, ngành; quyết định của UBND cấp tỉnh không được phép chứa các thủ tục hành chính nếu không được giao trực tiếp trong Luật.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cũng quy định công tác phổ biến, giáo dục, hướng dẫn thi hành pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Tuy nhiên, phổ biến, giáo dục và hướng dẫn pháp luật phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực, tuyệt đối không suy diễn chủ quan khi chưa hiểu đầy đủ câu chữ của Luật. Đặc biệt, các cơ quan không có thẩm quyền thì không được tùy tiện, “sáng tạo”, quy định thêm bất cứ thủ tục hành chính nào, cho dù đó chỉ là biểu mẫu, bởi vì đó chính là một bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.

Thường trực HĐND TP Bảo Lộc  giám sát chuyên đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và hộ trồng dâu  nuôi tằm ở xã Đam'Bri, TP Bảo Lộc

Quy định pháp luật rõ ràng là vậy, nhưng đầu nhiệm kỳ HĐND 2011 - 2016, một vị nguyên là đại biểu HĐND tình cờ đọc được một văn bản hành chính thông thường do Sở Nội vụ tỉnh ban hành. Đó là Công văn phúc đáp, hướng dẫn UBND thành phố (thuộc tỉnh) ra quyết định bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn theo Nghị định số 08/2016/NĐ-CP của Chính phủ về “Quy định số lượng Phó Chủ tịch UBND và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên UBND” và theo Văn bản số 1138/HD-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức Kỳ họp thứ Nhất của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021”. Đây là một văn bản hành chính thông thường do cơ quan nhà nước cấp Sở thuộc UBND tỉnh ban hành, sẽ là rất bình thường nếu công văn này không đính kèm “mẫu quyết định” bổ nhiệm cán bộ và đề nghị UBND thành phố thực hiện (!).

Tuy nhiên, nó “không bình thường” ở chỗ: 1) Công văn nhưng có chứa quy phạm pháp luật (quy định “mẫu quyết định” hành chính - Là một bộ phận của thủ tục hành chính); 2) Cơ quan ban hành công văn vượt quyền hạn (cấp Sở không có thẩm quyền quy định bất kỳ thủ tục hành chính nào dù đó là biểu mẫu); 3) Nghiệm trọng hơn, nội dung hướng dẫn có dấu hiệu không hợp pháp (Mẫu quyết định ghi: “Bổ nhiệm Ủy viên UBND đối với ông, bà...” trong khi, chức danh này phải do HĐND bầu).

Qua tìm hiểu nguyên nhân được biết, do cán bộ cơ quan tham mưu chưa hiểu rõ các quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 và Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên đã tham mưu cho UBND thành phố ký gửi công văn hỏi Sở chuyên môn cấp tỉnh. Điều đáng nói là, lịch sử thể chế pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương nước ta từ năm 1958 đến nay trải qua hơn nửa thế kỷ vận hành, 7 lần sửa đổi, bổ sung nhưng cơ bản vẫn nhất quán và có tính kế thừa về nguyên tắc tổ chức của chính quyền nhà nước dân chủ, cộng hòa - Nghĩa là UBND các cấp đều do HĐND bầu ra.

Thế nhưng, cơ quan chuyên môn cả hai cấp đều tỏ ra lúng túng về điều sơ đẳng này trong tham mưu thực hiện. Chính vì vậy, sau khi có công văn hướng dẫn của Sở Nội vụ, một loạt quyết định bổ nhiệm cán bộ chưa bảo đảm tính hợp pháp đã được UBND ban hành, đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan. Tuyệt nhiên, những cán bộ nhận quyết định bổ nhiệm đều thấy “bình thường” (!)

Sự việc sau đó được Thường trực HĐND thành phố phát hiện, xem xét, có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND cùng cấp thu hồi các quyết định không đúng quy định. Mặc dù vậy, cơ quan tham mưu chưa nhận thức được yếu tố trái pháp luật, vẫn bảo lưu cho rằng, UBND thành phố ban hành quyết định bổ nhiệm là theo đúng “mẫu” hướng dẫn của Sở Nội vụ tỉnh, không cần hiểu Sở có thẩm quyền đó hay không (?). Về phía tỉnh, Văn phòng HĐND tỉnh cũng góp ý cho Sở Nội vụ, nhưng phía Sở cũng chậm nhận ra việc ban hành “mẫu quyết định” kèm theo công văn như một bộ phận của thủ tục hành chính là không đúng thẩm quyền (!).

Cuối cùng thì UBND thành phố cũng phải thu hồi và ban hành lại các quyết định bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn theo đúng quy định. Còn ở cấp tỉnh, sau khi Báo Đại biểu Nhân dân nêu vấn đề, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã có văn bản chỉ đạo một số tỉnh liên quan rà soát, khắc phục những sai sót trong việc ra quyết định bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp mình, bảo đảm đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015.

Từ câu chuyện văn bản “không bình thường” thông qua giám sát của công dân và của HĐND trên đây đã nói lên nhiều điều đáng suy ngẫm. Trước hết, về năng lực thể chế, thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức rõ ràng là có vấn đề. Sai sót của văn bản hành chính nói trên tuy không lớn, nhưng có thể đánh giá đây là biểu hiện bề nổi của cả tảng băng, biểu hiện tư duy, nhận thức của cán bộ, công chức về thể chế nền dân chủ, cộng hòa, về nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Đó mới là điều quan trọng cần phải quan tâm.

Thứ nữa, cán bộ, công chức tùy theo ngạch, bậc, vị trí việc làm phải hiểu rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình, của cơ quan mình hay của các cấp chính quyền mà mình đang phục vụ. Từ đó, chủ động nghiên cứu, cập nhật kiến thức pháp luật, tham mưu và thực thi đúng pháp luật, biết chịu trách nhiệm và có lòng tự trọng với vị trí, nghề nghiệp của mình.

Cuối cùng, quy định công khai, minh bạch các văn bản hành chính bằng nhiều hình thức theo quy định của pháp luật; đặc biệt, phải đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản và cơ quan thực hiện văn bản là một trong những giải pháp quan trọng giúp nhân dân và cơ quan chức năng có điều kiện giám sát, góp phần xây dựng nền hành chính mới, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân. (Daibieunhandan.vn 30/3) Nguyễn Vân Hậu) Về đầu trang./. 

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.028.729 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này