Bản tin cải cách hành chính ngày 06/4/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Tháo gỡ vướng mắc sau sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã tại Ninh Bình

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

2. Thái Nguyên: 2.000 doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử

3. Ngành GTVT cắt giảm nhiều thủ tục hành chính

4. Nộp tiền đóng BHXH tự nguyện và BHYT thuộc Danh mục dịch vụ công trực tuyến

5. Doanh nghiệp được tự do đăng ký bán hàng hoàn thuế VAT

6. Cắt giảm số lượng báo cáo về môi trường cho doanh nghiệp sẽ đem lại lợi ích lâu dài

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Sắp tới, những khoản thu nhập nào của công chức bị bãi bỏ?

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Phát huy tính ưu việt của Cổng dịch vụ công quốc gia trong phòng, chống dịch Covid-19 

9. Lùm xùm công tác luân chuyển, quy hoạch cán bộ chủ chốt tại Điện lực Hải Dương: Bài học sâu sắc, đắt giá trong công tác cán bộ

TIN THẾ GIỚI

10. Chính sách phòng chống tham nhũng của Pakistan bắt đầu có kết quả tích cực

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Tháo gỡ vướng mắc sau sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã tại Ninh Bình

Thực hiện Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính, giai đoạn 2019-2021, tỉnh Ninh Bình đã hoàn thành việc sáp nhập các xã không đủ tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên, quy mô dân số. Ðến nay, các xã được sáp nhập, sắp xếp vận hành ổn định, góp phần tinh gọn bộ máy, giảm nhiều biên chế. Song khó khăn, vướng mắc, nhất là các thủ tục hành chính còn gây ra phiền hà, cản trở sự phát triển, cần tập trung tháo gỡ giúp người dân ổn định cuộc sống.

Sau khi sáp nhập, đội ngũ công chức xã Xuân Chính, huyện Kim Sơn tạo mọi điều kiện cho người dân làm thủ tục hành chính.

Các xã không đủ tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên, quy mô dân số ở tỉnh Ninh Bình thực hiện sáp nhập sắp xếp theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm: Xuân Thiện, Chính Tâm, Yên Mật, Kim Chính và Như Hòa đều thuộc huyện Kim Sơn. Trên cơ sở thận trọng xem xét, đánh giá khách quan các yếu tố lịch sử, văn hóa, tôn giáo, nguồn gốc hình thành cộng đồng dân cư; phong tục tập quán, tỉnh Ninh Bình thực hiện sáp nhập nguyên trạng xã Xuân Thiện với xã Chính Tâm, thành đơn vị hành chính mới là xã Xuân Chính, huyện Kim Sơn (xã Xuân Chính có tổng diện tích tự nhiên 6,491 km2, có 13 thôn với dân số 5.642 người). Ðồng thời, tỉnh tổ chức giải thể đơn vị hành chính xã Yên Mật, huyện Kim Sơn; kết hợp cắt chuyển một phần diện tích tự nhiên, dân số xã Yên Mật nhập vào xã Kim Chính, huyện Kim Sơn, nâng diện tích tự nhiên xã Kim Chính lên 7,225 km2, có 14 xóm với số dân là 7.363 người. Phần diện tích, số dân còn lại của xã Yên Mật, thì nhập vào xã Như Hòa, huyện Kim Sơn, nâng diện tích xã Như Hòa lên 5,193 km2, có 11 xóm với số dân 5.337 người.

Trước đó, tỉnh Ninh Bình đã thực hiện xây dựng đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, xác định rõ những đơn vị hành chính quy mô nhỏ bộc lộ rất nhiều bất cập. Ðó là không gian phát triển bị chia cắt; khó thực hiện việc lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn các lĩnh vực; thu ngân sách không đủ cân đối chi thường xuyên cho bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội. Xã quy mô nhỏ làm phân tán nguồn lực của tỉnh, chưa kể việc đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị luôn tăng, trong khi ngân sách lại hạn hẹp. Do vậy, việc tinh gọn bộ máy, giảm biên chế, nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; tăng hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị theo các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn giai đoạn 2019-2021 là rất cần thiết. Theo đó, tỉnh Ninh Bình giao huyện Kim Sơn khi sáp nhập, sắp xếp các xã phải thực hiện: Công bố Nghị quyết số 861/NQ-UBTVQH14, ngày 10-1-2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Kim Sơn của tỉnh. Công khai các quyết định về: Sáp nhập, giải thể tổ chức cơ sở đảng, chuyển giao các chi bộ, đảng viên, về chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh cán bộ chủ chốt của tổ chức cơ sở đảng ở các xã liên quan sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm đi vào hoạt động từ ngày 3-2-2020.

Chủ tịch UBND huyện Kim Sơn Ðỗ Hùng Sơn cho biết: Thành công của việc sáp nhập, sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã ở huyện Kim Sơn là do chủ trương này được người dân ủng hộ rất cao. Ở một số nơi, tỷ lệ người dân ủng hộ đạt từ 95% đến 99%. Ðến nay, các xã Xuân Chính, Kim Chính, Như Hòa đã ổn định tổ chức, bộ máy. Ðội ngũ cán bộ xã bước đầu thực hiện tốt công tác quản lý, điều hành sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, bảo đảm an ninh trật tự; kết hợp giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính cho người dân. Huyện Kim Sơn cũng quan tâm bố trí kinh phí hỗ trợ các xã triển khai sáp nhập, sắp xếp và tiếp tục phấn đấu hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh trong năm 2020. Từ kết quả sáp nhập, sắp xếp nêu trên, tỉnh Ninh Bình hiện nay còn 143 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 119 xã, 17 phường, bảy thị trấn) giảm hai xã so với trước đây. Trong đó, huyện Kim Sơn có 25 đơn vị hành chính cấp xã, giảm hai xã... Phó Chủ tịch UBND xã Như Hòa Vũ Quốc Xương cho rằng, địa giới hành chính của xã Như Hòa sau khi sáp nhập, sắp xếp được mở rộng. Ðó là điều kiện “cần và đủ” để xã thực hiện tốt công tác lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn, tạo cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, qua thực tế, các xã Xuân Chinh, Như Hòa, Kim Chính sau sáp nhập, sắp xếp xuất hiện nhiều khó khăn, vướng mắc.

Vướng mắc đầu tiên là nợ đọng xây dựng cơ bản ở các xã nêu trên còn lớn. Chủ tịch UBND xã Xuân Chính Lưu Văn Ðông, cho biết: ‘‘Xã Xuân Chính hình thành từ hai xã Xuân Thiện và Chính Tâm. Trước khi sáp nhập, xã Xuân Thiện thực hiện xây trụ sở, trường học với số vốn đầu tư khá lớn trong năm 2019. Còn xã Chính Tâm khi đó phấn đấu về đích nông thôn mới, cho nên xã tập trung mọi nguồn lực xây dựng mới các công trình như nhà văn hóa, trường học, đường giao thông. Ðến đầu năm 2020, các xã nêu trên chưa kịp thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, thì sáp nhập thành xã Xuân Chính, bắt đầu hoạt động từ ngày 3-2-2020 đến nay mới được hơn hai tháng, cho nên gánh nặng nợ đọng xây dựng cơ bản chưa biết xử lý thế nào?’’. Không chỉ riêng xã Xuân Chính mà các xã thuộc diện sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính ở Ninh Bình đều có chung tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

Kế tiếp là vướng mắc về dư thừa cán bộ xã, công chức xã, người hoạt động không chuyên trách; các chế độ chính sách đối với những trường hợp dôi dư. Tại xã Như Hòa, sau khi thực hiện tiếp nhận một phần diện tích tự nhiên, dân số, cán bộ, công chức từ xã Yên Mật nhập vào thì số lượng cán bộ dư hai người, công chức xã dư bảy người. Ðối với xã Kim Chính theo Nghị quyết số 44 của HÐND tỉnh Ninh Bình, số lượng người hoạt động không chuyên trách ở xã Kim Chính được bố trí đủ là 12 người, hiện nay vẫn dôi dư chín người. Tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã nêu trên cũng có tình trạng dôi dư tương tự. Thực tế số lượng cán bộ cấp trưởng, cấp phó, công chức, người hoạt động không chuyên trách dôi dư, tạo cho các xã mới thực hiện sáp nhập, sắp xếp của tỉnh thêm khó khăn nhất định. Hoặc việc sử dụng trụ sở, nhà văn hóa, trạm y tế ở đơn vị hành chính xã Yên Mật bị giải thể; trụ sở, công trình công cộng hiện nay để trống ở xã Xuân Thiện cũ làm sao tránh xuống cấp, tránh lãng phí, cũng là vấn đề đáng bàn. Một rào cản khác là việc thực hiện các thủ tục hành chính sau khi sáp nhập. Chủ tịch UBND xã Kim Chính Ðỗ Văn Thành cho biết: Xã Kim Chính sáp nhập 1.335 người dân ở các xóm 1, 2, 3 của xã Yên Mật giải thể. Về xã mới, người dân phải làm lại nhiều thủ tục hành chính, đường về trung tâm xã thì xa, cho nên xã Kim Chính hỗ trợ kinh phí mua bìa hộ khẩu phát miễn phí cho bà con; đồng thời xã lựa chọn 10 công chức đến từng xóm sao chép, chuyển đổi hộ khẩu cho người dân không phải đi xa. Tuy nhiên, một số thủ tục hành chính giải quyết cho người dân còn chậm vì liên quan một số đơn vị chức năng của tỉnh như việc làm căn cước công dân và nhiều thủ tục khác. Những khó khăn, vướng mắc nêu trên dù là khách quan, nếu không được quan tâm giải quyết thấu đáo, triệt để, dễ gây ra sự nghi ngờ, hiểu lầm, gây mất đoàn kết nội bộ và sự không hài lòng cho người dân, nhất là trong việc giải quyết các thủ tục hành chính.

Chính vì vậy, tỉnh Ninh Bình cần sớm chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên; kết hợp tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai làm cơ sở xây dựng kế hoạch sử dụng đất, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân các xã sáp nhập, sắp xếp. Ngành chức năng của tỉnh cần tổ chức hướng dẫn các xã sáp nhập, sắp xếp giai đoạn 2019-2020 về công tác hộ tịch, hộ khẩu, chứng thực hồ sơ tài liệu, chuyển đổi các loại giấy tờ của cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật. Các bộ, ngành ở Trung ương sớm xem xét tham mưu với Chính phủ ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, người hoạt động chuyên trách cấp xã, người nghỉ việc do dôi dư sau khi sáp nhập, sắp xếp; quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở các đơn vị hành chính cấp xã thực hiện sáp nhập, sắp xếp tại tỉnh Ninh Bình cũng như trên phạm vi cả nước. (Nhandan.com.vn 6/4, Lê Hồng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Thái Nguyên: 2.000 doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử

Đại diện Cục Thuế Thái Nguyên cho biết, nhờ tích cực tuyên truyền, vận động đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có 2.000 doanh nghiệp (DN) sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT), chiếm 40% DN đang hoạt động trên địa bàn.

Ông Nguyễn Văn Hà - Phó Cục trưởng Cục Thuế Thái Nguyên cho biết, từ năm 2016 đến nay, tại nhiều hội nghị tập huấn, đối thoại với các DN về chính sách thuế mới, Cục Thuế Thái Nguyên đã lồng ghép tổ chức tuyên truyền các chính sách về HĐĐT đến 100% DN trên địa bàn.

Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với VNPT, Viettel Thái Nguyên và một số đơn vị cung cấp dịch vụ để triển khai nội dung này đến cộng đồng DN, nhằm tuyên truyền, vận động DN tích cực chuyển đổi từ sử dụng hóa đơn giấy sang HĐĐT.

Theo đại diện Cục Thuế Thái Nguyên, ban đầu phần lớn DN không mấy hào hứng vì họ đang quen sử dụng hóa đơn giấy. Hơn nữa, việc sử dụng HĐĐT cũng khiến việc giữ số hóa đơn cho khách hàng trở nên khó khăn, thậm chí là không thể nếu để qua ngày.

Tuy nhiên, với những DN lớn, sử dụng nhiều hóa đơn, thì HĐĐT lại được xem là giải pháp quan trọng giúp hoạt động hiệu quả, minh bạch hơn, đặc biệt là tiết kiệm tối đa các chi phí. Do đó, trong thời gian đầu, đại đa số DN sử dụng HĐĐT là DN lớn, DN sử dụng nhiều hóa đơn.

Đến nay, HĐĐT đã trở nên phổ biến trong xã hội, DN cũng dần hiểu được các lợi ích của HĐĐT mang lại nên nhiều DN nhỏ đã bắt đầu tiếp cận, sử dụng. Có thể nói, với sự phối hợp, đồng hành của các đơn vị cung cấp dịch vụ HĐĐT, đặc biệt là của VNPT và Viettel Thái Nguyên đã giúp việc triển khai HĐĐT đến các DN trên địa bàn tỉnh thời gian qua đạt được nhiều kết quả.

 

Thống kê của Cục Thuế Thái Nguyên cho thấy, riêng năm 2019, trên địa bàn khoảng 6 triệu HĐĐT đã được sử dụng, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng hóa đơn sử dụng.

Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động DN chuyển sang sử dụng HĐĐT, Cục Thuế Thái Nguyên còn thường xuyên nâng cấp các phiên bản phần mềm hỗ trợ kê khai thuế, dịch vụ thuế điện tử (eTax) để người nộp thuế kịp thời khai thác, sử dụng nhằm giúp cho người nộp thuế thuận tiện thực hiện các thủ tục hành chính thuế, rút ngắn thời gian giao dịch với cơ quan thuế và giảm thiểu các sai sót trong việc nộp hồ sơ thuế./. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 5/4, VT) Về đầu trang

Ngành GTVT cắt giảm nhiều thủ tục hành chính

Bộ GTVT vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí logistics theo Chỉ thị số 11 của Thủ tướng về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.

Đánh giá tác động của dịch Covid-19, Bộ GTVT cho biết, đối với hàng không, thiệt hại ban đầu của việc dừng các đường bay ước khoảng 30.000 tỷ đồng. Với lĩnh vực hàng hải, số lượng tàu thuyền vận chuyển hàng hóa vào, ra cảng biển giảm khoảng 15%, tàu biển chở khách hủy chuyến lớn và dự kiến sẽ tiếp tục hủy trong tháng 4. Với đường bộ, sản lượng vận tải, doanh thu đều giảm mạnh từ 40%-80% so với cùng kỳ. Đường sắt doanh thu sụt giảm khoảng 90 tỷ đồng. Để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ GTVT đã cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với 50% số mặt hàng thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành. Việc kiểm soát sẽ chuyển mạnh sang hậu kiểm, chủ yếu thực hiện tại giai đoạn lưu thông hàng hóa trên thị trường nội địa. Đồng thời, Bộ GTVT cũng đã cắt giảm 384/570 điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực GTVT.

Bên cạnh kiến nghị miễn thuế nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay, giãn thời hạn nộp thuế và các khoản đóng góp ngân sách cho ngành hàng không, Bộ GTVT còn kiến nghị Bộ Tài chính chủ trì xem xét miễn giảm phí neo đậu trong trường hợp tàu, thuyền phải neo đậu cách ly 14 ngày. Đặc biệt, Bộ GTVT đề xuất Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu miễn giảm thuế giá trị gia tăng đối với vận tải nội địa trong 3 năm để các doanh nghiệp vượt qua khó khăn. (Sggp.org.vn 6/4, Bích Quyên) Về đầu trang

Nộp tiền đóng BHXH tự nguyện và BHYT thuộc Danh mục dịch vụ công trực tuyến

Trong Danh mục dịch vụ công trực tuyến vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, có các dịch vụ: Giải quyết hưởng chế độ ốm đau; Giải quyết hưởng chế độ thai sản; Nộp tiền đóng BHXH tự nguyện và bảo hiểm y tế.

Ngày 24/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Danh mục dịch vụ công trực tuyến ưu tiên tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2020.

Theo đó, Danh mục mới được phê duyệt gồm 65 dịch vụ được phân thành 2 nhóm, với 8 dịch vụ công liên quan đến một số chỉ số môi trường kinh doanh; và 57 dịch vụ công thuộc nhóm dịch vụ công thiết yếu, số lượng đối tượng thực hiện cao.

Cụ thể, 8 dịch vụ công liên quan đến một số chỉ số môi trường kinh doanh sẽ được ưu tiên tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia trong năm nay gồm có: Đăng ký thành lập doanh nghiệp; Thông báo sử dụng, thay đổi, hủy mẫu con dấu đối với doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh); Khai lệ phí môn bài; Kê khai thuế doanh nghiệp; Liên thông Đăng ký thành lập doanh nghiệp và cấp mã số đơn vị BHXH...

Trong số 57 dịch vụ công thiết yếu, có số lượng đối tượng thực hiện cao được ưu tiên tích hợp, cung cấp tại Cổng dịch vụ công quốc gia trong năm nay, có các dịch vụ: Thu tiền nộp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Kê khai và nộp lệ phí trước bạ xe ô tô, xe gắn máy; Đăng ký khai sinh; Cấp phiếu lý lịch tư pháp; Đổi giấy phép lái xe do ngành Giao thông vận tải cấp (mức 4); Cấp mới giấy phép lái xe; Giải quyết hưởng chế độ ốm đau; Giải quyết hưởng chế độ thai sản; Nộp tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyên và bảo hiểm y tế; Đăng ký dự thi trung học phổ thông quốc gia; Đăng ký xét tuyển đại học chính quy, tuyển sinh cao đẳng, tuyển sinh trung cấp nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy…

Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo, ngoài 65 dịch vụ công nêu trên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của bộ, ngành, địa phương, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt danh mục, lộ trình dịch vụ công trực tuyến thuộc phạm vi quản lý được tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2020 bảo đảm tỷ lệ tối thiểu theo quy định tại Nghị quyết 01 ngày 1/1/2020 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm nay.

Cổng dịch vụ công quốc gia được chính thức khai trương ngày 9/12/2019 tại địa chỉ dichvucong.gov.vn nhằm tạo một cầu nối điện tử “thực chất, liên tục, hiệu quả” giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệp trong cả nước.

Theo số liệu được Văn phòng Chính phủ cho biết tại hội nghị trực tuyến sơ kết 3 tháng vận hành Cổng dịch vụ công Quốc gia vào ngày 13/3, từ 8 nhóm dịch vụ công trực tuyến ở thời điểm khai trương, đến giữa tháng 3/2020 đã có 169 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 được tích hợp, cung cấp trên Cổng. Tổng số hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng dịch vụ công quốc gia tính đến ngày 13/3/2020 là trên 13.000 hồ sơ. (VietQ.vn 6/4, Lê Kim Liên) Về đầu trang

Doanh nghiệp được tự do đăng ký bán hàng hoàn thuế VAT

Thông tư số 92/2019 của Bộ Tài chính quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh, kể từ 1/7/2020, tất cả các doanh nghiệp (DN) được quyền đăng ký bán hàng hoàn thuế nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

Theo đó, điều kiện để được bán hàng hoàn thuế VAT như sau: DN đăng ký bán hàng hoàn thuế VAT, kinh doanh các mặt hàng được hoàn thuế theo quy định tại địa điểm cụ thể (trụ sở chính của DN; chi nhánh, cửa hàng của DN hay địa điểm đặt đại lý bán hàng cho DN); thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và thực hiện kê khai, nộp thuế VAT theo phương pháp khấu trừ; có cam kết tham gia vào Hệ thống quản lý hoàn thuế VAT cho người nước ngoài theo quy định.

DN gửi hồ sơ đăng ký đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp (hoặc đăng ký đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chi nhánh, cửa hàng của DN ở địa bàn khác tỉnh). Hồ sơ sẽ được giải quyết trả lời trong vòng 7 ngày. (Tapchitaichinh.vn 6/4, D. Bùi) Về đầu trang

Cắt giảm số lượng báo cáo về môi trường cho doanh nghiệp sẽ đem lại lợi ích lâu dài

Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) vừa ban hành Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT, với những cải cách đột phá về chế độ báo cáo của doanh nghiệp trong lĩnh vực môi trường, khi cắt giảm tới 85% số lượng báo cáo.

Từ năm 2016 đến nay, Bộ TN&MT đã quyết liệt thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng về cải cách thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành... Tuy nhiên, thực tế cho thấy môi trường là lĩnh vực liên quan đến tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp.

Trước đây, môi trường là lĩnh vực có nhiều báo cáo nhất mà doanh nghiệp phải thực hiện so với các lĩnh vực khác còn lại của Bộ (chiếm 80%). Chế độ báo cáo về môi trường của doanh nghiệp, các nội dung cũng như thời điểm báo cáo của doanh nghiệp cũng rất khác nhau. Chính vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng quy định về chế độ báo cáo về môi trường trước đây thực sự là một gánh nặng hành chính đối với các doanh nghiệp.

Chia sẻ với báo chí, ông Phan Tuấn Hùng - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ TN&MT cho biết: “Chúng tôi đã rà soát, đánh giá kỹ lưỡng và đưa ra đề xuất cắt giảm, tích hợp các báo cáo về môi trường. Đề xuất này đã trở thành hiện thực khi Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP quy định tích hợp các báo cáo về môi trường; Bộ trưởng Bộ TN&MT ban hành Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT đã cụ thể hóa và quy định mẫu báo cáo công tác bảo vệ môi trường chung của doanh nghiệp, tích hợp các báo cáo môi trường riêng lẻ trước đây”.

Về thực trạng chế độ báo cáo của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trước khi ban hành Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT, Vụ trưởng Vụ Pháp chế cho biết thêm, trước đó, hầu hết các doanh nghiệp phải thực hiện tối thiểu là 2 báo cáo và tối đa là 24 báo cáo khác nhau trong một năm để gửi các cơ quan có thẩm quyền khác nhau ở trung ương và địa phương.

Trong khi đó, đứng ở góc độ cơ quan quản lý Nhà nước lại không có thông tin tổng thể về các vấn đề môi trường hay công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp do việc thực hiện chế độ báo cáo một cách riêng lẻ, phân tán theo từng nội dung cụ thể. Vì vậy, việc đề xuất cắt giảm, tích hợp báo cáo môi trường cho doanh nghiệp là hữu ích và cần thiết, đem lại nhiều hiệu quả cao.

Sau khi Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/2/2020, các doanh nghiệp chỉ thực hiện 1 báo cáo công tác bảo vệ môi trường trong năm. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp được gửi cho tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường có liên quan, gồm cả cấp trung ương và cấp địa phương. Theo tính toán, Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT đã cắt giảm được 23 báo cáo, chiếm 85% số lượng báo cáo của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Bên cạnh báo cáo công tác bảo vệ môi trường vẫn còn một vài báo cáo có tính chất đặc thù khác chưa được tích hợp. Thời gian tới, Bộ TN&MT sẽ tiếp tục đề xuất tích hợp các báo cáo này vào báo cáo công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp và sẽ được thực hiện trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và xây dựng các văn bản quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường. Việc này nhằm bảo đảm quán triệt nguyên tắc “một doanh nghiệp chỉ có một báo cáo môi trường” để giảm gánh nặng không cần thiết cho doanh nghiệp.

Cũng theo ông Phan Tuấn Hùng, việc cắt giảm này chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến cộng đồng doanh nghiệp và các doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc cải cách chế độ báo cáo về môi trường đã được quy định tại Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT.

Lợi ích dễ nhận thấy nhất là cắt giảm, tiết kiệm đáng kể nguồn lực, thời gian, chi phí thực hiện báo cáo cho doanh nghiệp, ước tính tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho cộng đồng doanh nghiệp. Nếu như trước đây doanh nghiệp phải xây dựng nhiều báo cáo môi trường có nội dung khác nhau, riêng lẻ thì nay chỉ xây dựng một báo cáo tổng hợp các báo cáo riêng lẻ trước đó phải thực hiện.

Không chỉ doanh nghiệp được hưởng lợi ích từ việc cắt giảm, đơn giản hóa chế độ báo cáo trong lĩnh vực môi trường, mà ngay cả cơ quan quản lý nhà nước cũng được hưởng lợi từ việc tích hợp, đơn giản hóa chế độ báo cáo này. Báo cáo đầy đủ, tổng thể thông in có hệ thống sẽ giúp thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. (Kinhtedothi.vn 5/4, Hà Ánh) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Sắp tới, những khoản thu nhập nào của công chức bị bãi bỏ?

Bắt đầu từ năm 2021, khi áp dụng chính sách cải cách tiền lương mới thì cán bộ, công chức, viên chức sẽ bị mất nhiều khoản thu nhập.

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 204/2004/NĐ-CP, hiện nay, lương công chức được xếp theo nguyên tắc “công chức được bổ nhiệm vào ngạch nào thì được xếp lương theo ngạch đó”.

Theo Điều 12 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Nếu làm việc ở một số vùng đặc thù, điều kiện đặc biệt… thì còn được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi.

Ngoài ra, công chức còn được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định.

Tuy vậy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 27-NQ/TW. Trong đó, nội dung nổi bật nhất là cải cách tiền lương của đối tượng công chức.

Bởi nhận thấy việc quy định quá nhiều phụ cấp trong nhiều văn bản khác nhau vừa gây khó khăn cho việc quản lý, vừa không thể hiện được thứ bậc hành chính, khiến công chức không thể phát huy được tối đa năng lực, vai trò của mình.

Vì thế, một trong những nội dung nổi bật về cải cách tiền lương nêu tại Nghị quyết này là “khai tử” nhiều khoản phụ cấp của công chức từ năm 2021.

Bãi bỏ nhiều khoản phụ cấp như phụ cấp thâm niên (trừ quân đội, công an, cơ yếu), phụ cấp chức vụ lãnh đạo, công vụ, công tác Đảng…

Chỉ áp dụng 7 khoản phụ cấp như kiêm nhiệm, thâm niên vượt khung, khu vực, trách nhiệm công việc, lưu động, phục vụ an ninh, quốc phòng và phụ cấp đặc thù dành riêng cho đối tượng lực lượng vũ trang.

Nhiều khoản phụ cấp khác sẽ được gộp chung lại như phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề và phụ cấp độc hại, nguy hiểm được gộp chung lại, gọi là phụ cấp theo nghề.

Loại phụ cấp này được áp dụng với công chức, viên chức của những nghề, công việc có yếu tố điều kiện lao động cao hơn bình thường và có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước. 

Phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút và trợ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn được gộp chung, gọi là phụ cấp công tác ở vùng đặc biệt khó khăn.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 27 cũng quy định bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của công chức, viên chức có nguồn gốc ngân sách Nhà nước như: Tiền bồi dưỡng họp; Tiền bồi dưỡng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án; Hội thảo… và khoán các chế độ ngoài lương như: tiền xăng xe, điện thoại, không gắn lương công chức, viên chức với việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy định chính sách, chế độ không có tính chất lương.

Một sự thay đổi khác về các khoản phụ cấp của công chức từ năm 2021 là sẽ quy định mới về chế độ phụ cấp theo phân loại đơn vị hành chính đối với cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh.

Cũng liên quan đến phụ cấp ở địa phương, Nghị quyết 27 khẳng định thực hiện nhất quán khoán quỹ phụ cấp hằng tháng với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố. Uỷ ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể các chức danh được hưởng phụ cấp theo hướng một chức danh có thể đảm nhiệm nhiều công việc.

Bên cạnh việc sắp xếp lại các khoản phụ cấp của công chức hiện hành, Nghị quyết này cũng chỉ rõ, tổng quỹ phụ cấp sẽ chỉ chiếm tối đa 30% tổng quỹ tiền lương. (Nguoiduatin.vn 6/4, Hoàng Mai) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Phát huy tính ưu việt của Cổng dịch vụ công quốc gia trong phòng, chống dịch Covid-19

Tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), chuyển mạnh sang hình thức giao dịch trực tuyến, tạo thuận lợi nhất để người dân, doanh nghiệp duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh dịch Covid-19 đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu.

Đó là những chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân phỏng vấn Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng-Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ-về việc thực hiện chỉ đạo nêu trên.

Phóng viên (PV): Trước diễn biến ngày càng phức tạp của dịch Covid-19, trong các cuộc họp gần đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nhắc tới việc cần rà soát, cắt giảm hoặc đơn giản hóa TTHC nhiều hơn cho người dân, doanh nghiệp. Xin Bộ trưởng cho biết, việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng đang được triển khai như thế nào?

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Với mục tiêu xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ, yêu cầu rà soát, cắt giảm hoặc đơn giản hóa TTHC là sợi chỉ đỏ xuyên suốt công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ từ đầu nhiệm kỳ tới nay. Trong bối cảnh dịch Covid-19 có diễn biến ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cả sức khỏe cộng đồng lẫn phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, yêu cầu rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC và đẩy mạnh thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công (DVC) trực tuyến càng trở nên cấp thiết hơn. Bởi vậy, trong hầu hết các cuộc họp chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đều nhấn mạnh yêu cầu này. Mới đây, ngày 13-3, khi chủ trì hội nghị trực tuyến sơ kết 3 tháng vận hành Cổng DVC quốc gia, Thủ tướng một lần nữa nêu rõ: Cái gì có lợi cho người dân thì làm; cái gì có lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp thì cần quan tâm thực hiện.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ và Văn phòng Chính phủ đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành hữu quan, tập trung nhân lực, vật lực cho công tác này, coi đây là một giải pháp cấp bách trong phòng, chống dịch Covid-19. Chẳng hạn, vừa qua, ngày 26-3, tôi và một số thành viên Tổ công tác đã có cuộc họp để lắng nghe ý kiến của 11 hiệp hội, doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19, từ đó tổng hợp, đề xuất giải pháp và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng xem xét, tháo gỡ. Tinh thần là những vướng mắc, phiền hà trong việc thực hiện các thủ tục tiếp cận tín dụng, thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, việc giãn, hoãn, giảm các khoản thuế, phí, chi phí cho doanh nghiệp sẽ báo cáo Chính phủ để xem xét, tháo gỡ ngay.

PV: Trọng tâm của công tác cải cách TTHC trong bối cảnh phòng, chống đại dịch toàn cầu hiện nay như thế nào, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Tôi cho rằng, trọng tâm của công tác cải cách TTHC trong bối cảnh hiện nay là tăng cường hình thức giao dịch trực tuyến để giảm tối đa sự tiếp xúc trực tiếp giữa người thực hiện TTHC, DVC với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và chính những người thực hiện với nhau; cắt giảm tối đa những thủ tục không thực sự cần thiết, đơn giản hóa TTHC hơn nữa theo hướng chỉ đạo của Thủ tướng là tái cấu trúc quy trình, nghiệp vụ, thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu để cắt giảm, đơn giản hồ sơ, giấy tờ, trình tự, thủ tục không cần thiết, cũng như tiếp tục thực hiện chuyển mạnh sang hậu kiểm. Đặc biệt, những thủ tục liên quan tới kinh tế, đầu tư, thương mại cần phải được tạo thuận lợi tối đa để người dân, doanh nghiệp dồn sức sản xuất, kinh doanh hoặc chuyển hướng sản xuất, kinh doanh kịp thời. Đây là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Điển hình như Bộ Công Thương vừa trình Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2020/NĐ-CP cắt giảm, đơn giản hóa thêm 205 điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý.

Chúng tôi sẽ tiếp tục rà soát, kiểm soát mạnh mẽ các TTHC, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng.

PV: Để phòng, chống dịch bệnh, Cổng DVC quốc gia rõ ràng là công cụ, phương thức giao dịch rất hữu hiệu. Xin Bộ trưởng cho biết, sau gần 4 tháng triển khai, đến nay, Cổng DVC quốc gia đã vận hành và cho kết quả ra sao?

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Trong bối cảnh dịch Covid-19 hoành hành gây nhiều hệ lụy như vậy, việc vận hành Cổng DVC quốc gia một lần nữa cho thấy tính ưu việt của giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực hành chính và DVC. Người dân, doanh nghiệp không phải đến tận trụ sở cơ quan nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ giải quyết; chỉ cần lập một tài khoản trên Cổng DVC quốc gia là có thể giải quyết TTHC, sử dụng DVC ở nhiều bộ, ngành, địa phương khác nhau. Thực tế, đã có nhiều trường hợp sinh sống, học tập hoặc làm việc ở Hà Nội nhưng có thể làm thủ tục đổi giấy phép lái xe ở các địa phương rất xa mà không phải về tận nơi như trước; doanh nghiệp một lúc, một lần có thể thực hiện xong thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại đến 63 địa phương. Đây chính là giải pháp góp phần thực hiện giãn cách xã hội, giảm tiếp xúc trực tiếp, giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.

Sau gần 4 tháng triển khai Cổng DVC quốc gia, đến ngày 1-4, đã tích hợp đăng nhập một lần từ Cổng DVC quốc gia tới 13 bộ, ngành; 63/63 địa phương; 5 tập đoàn, ngân hàng thương mại. Có 14 bộ, ngành; 63/63 tỉnh, thành phố đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC. Có hơn 103 nghìn tài khoản đăng ký, 4,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái và 27,5 triệu lượt truy cập tìm hiểu thông tin, dịch vụ.

Tại thời điểm khai trương, chỉ có 8 nhóm DVC được đưa vào triển khai trên Cổng DVC quốc gia. Đến nay, đã có 226 DVC trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 được cung cấp trên Cổng DVC quốc gia. Hệ thống thanh toán trực tuyến trên Cổng DVC quốc gia đã được vận hành, phục vụ thanh toán trực tuyến phí, lệ phí, thuế, thu phạt xử lý vi phạm hành chính và các nghĩa vụ tài chính khác trong giải quyết TTHC, thực hiện DVC.

Tính đến ngày 1-4, tổng số hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng DVC quốc gia là hơn 23 nghìn hồ sơ, trong đó có 2 DVC có số lượng hồ sơ trực tuyến lớn được thực hiện từ Cổng DVC quốc gia là thông báo hoạt động khuyến mại (hơn 12 nghìn hồ sơ) và cấp điện mới từ lưới điện hạ áp (hơn 7 nghìn hồ sơ).

Các bộ, ngành, địa phương đã chuẩn hóa, công khai 6.982 TTHC, trong đó cắt giảm, bãi bỏ 584 TTHC hết hiệu lực, trùng lặp; xây dựng, cập nhật, chuẩn hóa 10.000 câu hỏi và trả lời các vướng mắc thường gặp trong giải quyết TTHC.

Nhiều ý kiến phản hồi của người dân, doanh nghiệp sau khi sử dụng DVC trên Cổng DVC quốc gia đã đánh giá rất cao tính ưu việt của Cổng DVC quốc gia.

PV: Theo đánh giá của Bộ trưởng, kết quả vận hành Cổng DVC quốc gia như vậy đã đáp ứng được kỳ vọng chưa và làm thế nào để Cổng DVC quốc gia bao trùm nhiều hơn các mặt của DVC trên cả nước?

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Kết quả vận hành Cổng DVC quốc gia như vậy có thể coi là đã đạt được kế hoạch đề ra, nhưng chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và của người dân, doanh nghiệp. Cụ thể là vẫn còn một số bộ, ngành, địa phương chậm hoàn thành việc tích hợp đăng nhập một lần với Cổng DVC quốc gia; chưa thực hiện đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC; vẫn còn tình trạng từ chối hồ sơ ký số hay yêu cầu bổ sung hồ sơ không rõ lý do; có thời điểm, việc gửi, nhận hồ sơ trực tuyến đến các bộ, địa phương còn chưa thông suốt do chậm xử lý kỹ thuật đường truyền; một số bộ, ngành còn chậm công bố, công khai TTHC, dẫn tới địa phương cũng phải chậm công bố, công khai TTHC trong lĩnh vực đó…

Tất nhiên, có một số lĩnh vực, thủ tục cần được bảo mật ở mức độ cao nên rất khó để tích hợp lên Cổng DVC quốc gia, thậm chí vẫn phải tiến hành theo phương thức truyền thống. Tuy nhiên, tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là phải nhanh chóng, kịp thời tích hợp đăng nhập một lần, tích hợp cung cấp DVC trực tuyến, đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC trong những lĩnh vực không thuộc diện bí mật nhà nước. Bởi vậy, các bộ, ngành, địa phương cần nhanh chóng thực hiện các phần việc còn lại để tích hợp, đồng bộ các lĩnh vực, TTHC, DVC lên Cổng DVC quốc gia bảo đảm đạt tối thiểu 30% DVC trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số DVC trực tuyến của bộ, ngành, địa phương được tích hợp, cung cấp lên Cổng DVC Quốc gia năm 2020. Có như vậy, Cổng DVC quốc gia mới bao trùm rộng rãi hơn, đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ, Thủ tướng, người dân, doanh nghiệp, làm đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong tình hình mới.

PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng! (Qdnd.vn 4/4, Chiến Thắng) Về đầu trang

Lùm xùm công tác luân chuyển, quy hoạch cán bộ chủ chốt tại Điện lực Hải Dương: Bài học sâu sắc, đắt giá trong công tác cán bộ

Là ứng viên sáng giá nhất cho chức danh Chủ tịch kiêm Giám đốc, tuy nhiên, trong quá trình công tác, ông Phạm Trung Nghĩa, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương (PC Hải Dương) đã để lại nhiều dư luận không tốt… Điều này khiến người dân địa phương xôn xao, đặt dấu hỏi, phải chăng ngành điện lực miền Bắc nói chung và PC Hải Dương đang quá thiếu người đủ đức, đủ tài để bố trí làm nhân sự chủ chốt. 

Theo chỉ đạo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam tại văn bản số 3836/EVN-TC&NS ngày 07/8/2018 về việc xây dựng kế hoạch luân chuyển để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong quy hoạch và Nghị quyết cuộc họp tập thể lãnh đạo Tổng công ty Điện lực miền Bắc ngày 21/8/2018 về công tác cán bộ diện EVN quản lý giai đoạn 2018-2020 và 2020-2025, ông Phạm Trung Nghĩa được đưa vào quy hoạch chức danh Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương cả 2 giai đoạn.

Tuy nhiên, chỉ 15 ngày sau, Tổng Công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC) lại ra ngay văn bản số 3930/EVNNPC-TC&NS do ông Thiều Kim Quỳnh ký, với nội dung: Xét báo cáo của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương tại văn bản số 2666/PCHD-TC&NS ngày 14/9/2018 về việc lùi thời điểm luân chuyển để đào tạo bồi dưỡng cán bộ đối với ông Phạm Trung Nghĩa do điều kiện hoàn cảnh gia đình (theo đơn đề nghị của ông Nghĩa ngày 06/9/2018).

Trong văn bản ghi “Theo đề nghị của cá nhân ông Phạm Trung Nghĩa, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn phải chăm sóc bố đẻ, vợ thường xuyên đau ốm, con nhỏ, bố, mẹ vợ sức khỏe không được tốt nên tập thể lãnh đạo thống nhất lùi kế hoạch luân chuyển đối với ông Phạm Trung Nghĩa sang năm 2019 trong kế hoạch chung của Tổng Công ty đến 2020 để tạo điều kiện cho ông Nghĩa sắp xếp, bố trí công việc gia đình, tham gia công tác điều hành của đơn vị được thuận lợi”.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, ông Phạm Trung Nghĩa vẫn chưa đi luân chuyển và đang “cố vị” là Phó Giám đốc PC Hải Dương.

Để lý giải cho việc “ưu ái” này, tại văn bản số 764/EVNNPC-TCNS ngày 26/2/2020 do bà Đỗ Nguyệt Ánh - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực miền Bắc ký ban hành gửi cơ quan báo chí đã đưa ra 3 lý do chưa thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác đối với ông Phạm Trung Nghĩa, gồm: Tổng Công ty Điện lực miền Bắc phải tập trung kiện toàn tổ chức nên năm 2019 chưa thực hiện kế hoạch luân chuyển để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các đơn vị, trong đó có trường hợp ông Phạm Trung Nghĩa; từ 1/11/2019 Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương chỉ còn 3 Phó Giám đốc, nếu chuyển ông Phạm Trung Nghĩa đi nơi khác sẽ chỉ còn 2 Phó Giám đốc không đảm bảo cho Công ty hoạt động; ông Trần Văn Cường - Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Điện lực Hải Dương sẽ nghỉ hưu vào 1/6/2020.

Trong một diễn biến khác, mới đây, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương đã ký văn bản số 1142/CV/TU ngày 25/3/2020 về công tác cán bộ gửi EVN NPC, trong đó có nội dung nhất trí về việc bổ nhiệm ông Phạm Trung Nghĩa - Phó Giám đốc PC Hải Dương giữ chức vụ Chủ tịch kiêm Giám đốc PC Hải Dương.

Như vậy có thể hiểu, cùng cái “gật đầu” của lãnh đạo tỉnh Hải Dương và ông Trần Văn Cường đương kim Chủ tịch kiêm Giám đốc PC Hải Dương sẽ về hưu trong vài tháng thì việc ông Trần Văn Cường chuyển giao chiếc “ghế nóng” cho ông Phạm Trung Nghĩa “ngồi thay” chỉ còn là vấn đề thời gian.

Thế nhưng, những gì ông Phạm Trung Nghĩa đã thể hiện trong những năm vừa qua liệu có xứng đáng với vị trí là người đứng đầu ngành điện lực tỉnh Hải Dương hay không?

Cũng cần phải nói thêm, đối chiếu Luật Phòng chống Tham nhũng và chỉ đạo của EVN về công tác cán bộ, thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác là từ đủ 02 năm đến 05 năm theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.

Ngoài ra, ông Phạm Trung Nghĩa đã hết thời hạn giữ chức vụ Phó Giám đốc Công ty Điện lực Hải Dương theo Quy chế về công tác cán bộ ban hành kèm theo Quyết định số 116/ QĐ- EVN ngày 17/4/2018 của Hội đồng Thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Do vậy, ông Nghĩa vừa trong diện luân chuyển để đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, vừa trong diện phải chuyển đổi vị trí công tác theo Luật Phòng chống tham nhũng mới đúng quy định về công tác cán bộ.

Mặc khác, trường hợp ông Phạm Trung Nghĩa không nằm trong diện được “hoãn” chuyển đổi vị trí theo Điều 38 Nghị định số 59/2019/NĐ- CP của Chính phủ về phòng chống tham nhũng và cũng không trong diện “không thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác” quy định tại Điều 39 của Nghị định này, vì thời gian đủ tuổi nghỉ hưu của ông Nghĩa còn trên 18 tháng.

Như đã thông tin, trong năm 2018, ông Phạm Trung Nghĩa đã lấy lý do vì hoàn cảnh gia đình để xin tạm hoãn đi luân chuyển sang địa phương khác.

Có thể thấy, yếu tố gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp và các quyết định của ông Nghĩa. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau ông Phạm Trung Nghĩa là “hệ thống” bệ đỡ vững chắc từ gia đình vì ông Nghĩa có rất nhiều người thân đã và đang công tác giữ những vị trí cốt cán trong ngành điện lực tỉnh Hải Dương.

Theo đó, tại PC Hải Dương, nhiều phòng ban, lãnh đạo đơn vị là họ hàng thân thích của ông Phạm Trung Nghĩa. Trong đó, vợ ông Nghĩa là bà Nguyễn Thị Thanh Giang cũng làm Phó Trưởng phòng Tổ chức của PC Hải Dương và bà Giang là con gái của ông Nguyễn Trọng Hữu, nguyên Giám đốc Điện lực Hải Dương.

Bà Phạm Thị Quyên chị gái ruột của ông Phạm Trung Nghĩa là Giám đốc Công ty Điện lực Cẩm Giàng Ngoài các vị trí chủ chốt nêu trên, ông Nghĩa cũng đều có người thân quen một số công ty điện lực cấp huyện hay tại các phòng Kỹ thuật, phòng Kế hoạch Vật tư, phòng Kế toán, phòng Thanh tra - Pháp chế của PC Hải Dương...

Không thể phủ nhận, bệ đỡ, truyền thống gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến thân thế, sự nghiệp của một con người. Tuy nhiên, đối với trường hợp của ông Phạm Trung Nghĩa, đà thăng tiến của vị Phó Giám đốc PC sinh năm 1979 gắn liền với không ít thị phi, điều tiếng của dư luận vì liên quan công tác cán bộ, “né” luân chuyển, có biểu hiện bao che, ưu ái người nhà; hành xử “o ép”, gây khó cho doanh nghiệp.

Dư luận đặt câu hỏi: Đối với ông Phạm Trung Nghĩa thuộc diện phải luân chuyển, EVN NPC đã xem xét đến hoàn cảnh của ông Phạm Trung Nghĩa để hoãn việc luân chuyển. Vậy, quá trình quy hoạch, đề bạt ông Nghĩa vào chức danh Giám đốc PC Hải Dương, EVN NPC có tính đến những gánh nặng gia đình và công việc mà ông Phạm Trung Nghĩa sẽ gặp phải? Hay khi được bổ nhiệm lên chức danh cao hơn, những khó khăn từ hoàn cảnh gia đình bỗng chốc biến thành thuận lợi cho ông Nghĩa? 

Mặt khác, theo Khoản 3, Điều 20 Luật Phòng Phòng, chống tham nhũng quy định: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó”.

Việc ông Phạm Trung Nghĩa, Phó Giám đốc và bà Nguyễn Thị Thanh Giang - Phó Trưởng phòng Tổ chức cùng công tác tại PC Hải Dương có vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng hay không?

Mặt khác, những sai phạm tại Điện lực Cẩm Giàng, nơi bà  Phạm Thị Quyên (chị gái ông Phạm Trung Nghĩa) làm Giám đốc đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của ngành điện nói chung và Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc nói riêng, đi ngược lại chủ trương của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và chủ trương “lấy khách hàng làm trung tâm” nhưng bà Phạm Thị Quyên - Giám đốc Điện lực Cẩm Giàng không bị bất kỳ hình thức kỷ luật nào. Trong khi cùng với Kết luận tương tự từ EVN NPC, Giám đốc Điện lực TP Hải Dương bị cách chức.

Việc bà Phạm Thị Quyên - Giám đốc Điện lực Cầm Giàng không bị bất kỳ hình thức kỷ luật nào, dù là người đứng đầu, chịu trách nhiệm cao nhất về những sai phạm của Điện lực Cẩm Giàng khiến dư luận nhân dân và doanh nghiệp cho rằng có sự bao che của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương.

Câu chuyện của ông Phạm Trung Nghĩa và những người thân trong gia đình đã trở thành tâm điểm gây bức xúc dư luận và nhiều cơ quan báo chí đã vào cuộc phản ánh vấn đề này. Tuy nhiên, dường như dư luận càng bức xúc, các cơ quan báo chí càng phản ánh thì con đường “quan lộ” của ông Phạm Trung Nghĩa thêm phần thênh thang rộng mở.

Bên cạnh đó, dư luận cũng hoài nghi về việc Tổng Công ty Điện lực miền Bắc có đang bất chấp những quy định của Luật Phòng chống Tham nhũng để dành cho ông Phạm Trung Nghĩa sự “ưu ái” rất bất thường? EVN NPC đã căn cứ vào quy định nào về công tác cán bộ của EVN, Bộ Công Thương và Luật Phòng chống Tham nhũng để chưa điều động luân chuyển công tác đối với ông Phạm Trung Nghĩa? Có hay không hành vi tiêu cực, “chạy chọt”, “chống lưng” trong quá trình luân chuyên, quy hoạch, đề bạt đối với ông Phạm Trung Nghĩa?

Luân chuyển là để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, cũng là để ngăn chặn hành vi tham nhũng có thể xảy ra. Trên cả nước mỗi năm có hàng nghìn lượt cán bộ, công chức, viên chức… từ cấp Trung ương đến cấp địa phương phải thực hiện việc luân chuyển, thay đổi vị trí công tác, thậm chí có những cán bộ phải chấp nhận làm việc tại môi trường công tác mới cách xa gia đình, địa phương nơi đã từng cư trú cả ngàn km.

Nếu mỗi cán bộ đều lấy lý do cảnh ngộ gia đình khó khăn biện minh cho việc tạm dừng, trì hoãn, thoái thác nghĩa vụ luân chuyển thì chúng ta sẽ thừa rất nhiều cán bộ né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm mà thiếu đi cán bộ có tâm, có tầm, chịu đựng hi sinh lợi ích cá nhân vì cái chung để giữ gìn kỷ luật và trong sạch.

“Sợ trách nhiệm” và “né trách nhiệm” để chỉ những người được giao nhiệm vụ công nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ, thậm chí thoái thác nhiệm vụ, lẩn tránh nhiệm vụ theo chức trách của mình. Tại sao người ta lại “né” quyền lực và trách nhiệm mà tổ chức đã trao cho mình? Đó có thể là vì người ta cho rằng việc thực thi những nhiệm vụ đó khá “xương”, không có lợi cho bản thân, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Mặc dù đã được nhận diện và chỉ rõ là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng, thế nhưng cho đến nay, vấn đề này vẫn tồn tại trong tâm thức của nhiều cán bộ, đảng viên mà chưa có phương thức xử lý, điều trị hiệu quả.

Tại phiên họp thứ 16, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng ngày 26/7/2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo phát biểu: “Có dấu hiệu vi phạm là phải kiểm tra. Kiểm tra có vấn đề thì không đưa vào cấp ủy. Đang có tâm lý chờ đợi xem sắp tới ông ấy có làm quyết liệt không, hay là tình hình sẽ thay đổi thế này thế khác? Không có đâu! Ai làm thì cũng phải thế thôi.

Họp Trung ương tôi đã nói rồi, hôm nào họp tôi còn nói nữa. Đại hội là một dịp để ta sàng lọc cán bộ. Ai xứng đáng thì làm, không thì thôi, không sợ thiếu cán bộ.

Có người lo làm thế thì lấy đâu người làm? Cứ thử đi xem có người làm không? Tôi tin là có người làm. Không thiếu người tận trung với Đảng, tận hiếu với dân đâu. Làm để giữ uy tín chứ không sợ mất uy tín. Càng che giấu càng mất uy tín”.

Vậy, từ tinh thần quyết liệt của Trung ương, đối với những dấu hiệu sai phạm, mất uy tín ở địa phương như dư luận và báo chí đã phản ánh, mà cụ thể là trường hợp của ông Phạm Trung Nghĩa - Phó Giám đốc PC Hải Dương, các cấp ủy Đảng, chính quyền của tỉnh Hải Dương, của Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực miền Bắc đã cho thanh tra, kiểm tra, rà soát đối với tất cả khâu đánh giá, quy hoạch, đề bạt cán bộ hay chưa?

Trước sự việc trên, đề nghị Bộ Công Thương, EVN, EVNNPC vào cuộc kiểm tra, làm rõ, thực hiện đúng quy định về công tác cán bộ tại các doanh nghiệp nhà nước; đồng thời xử lý nghiêm sai phạm (nếu có).

Hai là, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Để hạn chế thấp nhất những hạn chế, khuyết điểm và không có cán bộ vi phạm kỷ luật, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng kiên quyết xử lý những tổ chức Đảng, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước.

Ba là, phải kiên quyết không để lọt vào cấp uỷ những cán bộ vi phạm, thoái hoá, biến chất! Bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố niềm tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân. (Tapchimattran.vn 6/4, Phan Anh Tuấn) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Chính sách phòng chống tham nhũng của Pakistan bắt đầu có kết quả tích cực

Các tổ chức trong nước và quốc tế như Tổ chức Minh bạch Quốc tế Pakistan, Diễn đàn Kinh tế Thế giới, PILDAT, Mishal Pakistan không chỉ ca ngợi những nỗ lực của Cơ quan Chống tham nhũng Pakistan (NAB) mà trong một cuộc khảo sát gần đây, 59% người dân thể hiện sự tin tưởng đối với cơ quan này.

Người đứng đầu (NAB cho biết, chính sách xóa bỏ tham nhũng của Pakistan đã bắt đầu có những kết quả tích cực. Các tổ chức trong nước và quốc tế như Tổ chức Minh bạch Quốc tế Pakistan, Diễn đàn Kinh tế Thế giới,  PILDAT, Mishal Pakistan không chỉ ca ngợi những nỗ lực của NAB mà trong một cuộc khảo sát gần đây, 59% người dân thể hiện sự tin tưởng đối với cơ quan này. Dưới sự lãnh đạo của ông Javed Iqbal, NAB đã thu hồi được 178 tỷ rupee từ những đối tượng tham nhũng khi còn đương nhiệm. Đây là một thành tích đáng nể của NAB so với những năm trước.

Tính đến giờ, NAB đã nộp khoảng 600 tài liệu lên tòa án. Tỷ lệ kết án tại các tòa án từ tài liệu của NAB là khoảng 70%. Hiện tại, có khoảng 1.275 tài liệu của NAB liên quan đến tham nhũng đang được xử lý ở 25 tòa án khác nhau và tổng giá trị của chúng lên tới 743 tỷ Rupee.

NAB là cơ quan đầu mối của Pakistan theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC). Hơn nữa, NAB còn là Chủ tịch Diễn đàn Chống tham nhũng SAARC.

NAB đã ký Biên bản ghi nhớ (MOU) với Trung Quốc để tăng cường hợp tác trong việc xóa bỏ tham nhũng.

NAB cũng đã thành lập Học viện Đào tạo chống tham nhũng Pakistan tại trụ sở cơ quan để trang bị cho các nhân viên những kỹ năng cần thiết trong công cuộc điều tra các tội phạm là đối tượng có bằng cấp và học thức cao.

Chủ tịch NAB tin rằng Pakistan hoàn toàn có khả năng điều tra và thực hiện các hoạt động phòng chống tham nhũng.

Có thể thấy, NAB đã có những bước đi hữu hiệu để chống lại các thành phần tham nhũng. Những đối tượng đó đã và đang bị NAB điêu tra theo luật định. Nhờ có những yếu tố trên mà những tác động của NAB trong việc xóa bỏ tình trạng tham nhũng đã mang lại kết quả tuyệt vời. (Thanhtra.com.vn 5/4, Thu Uyên) Về đầu trang

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.028.729 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này