Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 04/6/2020
1. Cần Thơ: Cải cách hành chính hiệu quả
2. Gần tám triệu hồ sơ hành chính sẽ được tiếp nhận và trả qua bưu điện
3. Phát triển kinh tế tư nhân: Loại bỏ gánh nặng thủ tục
4. Doanh nghiệp kêu vướng nhiều thủ tục hải quan
5. Sắp xếp lại công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức
6. Chuyển giao thế hệ cán bộ là một tất yếu
7. Chưa thể điều chỉnh lương tối thiểu 2021
8. Hàng loạt xe biển xanh ở Bình Phước vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Đề xuất lái xe kinh doanh vận tải phải có chứng chỉ hành nghề: Thêm “gánh nặng” không cần thiết?
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Cần Thơ: Cải cách hành chính hiệu quả
Trong 3 năm liền 2017-2019, Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) TP Cần Thơ đều đứng đầu khối sở, ngành. Ban Giám đốc Sở xem công tác CCHC là ưu tiên trong thực hiện nhiệm vụ, gắn với việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức và bình xét thi đua - khen thưởng...
Thực hiện chương trình tổng thể CCHC, giai đoạn 2011-2020, Sở VH-TT&DL thành phố đã ban hành và triển khai đến các phòng, đơn vị trực thuộc và cán bộ, công chức, viên chức hơn 30 kế hoạch về công tác CCHC và các kế hoạch chuyên đề khác. Ngành đã phát động phong trào thi đua nhằm thúc đẩy CCHC. Qua đó, nhiều sáng kiến được áp dụng và nhân rộng. Điển hình như sáng kiến tăng cường tuyên truyền ứng dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Theo đó, công chức hướng dẫn trực tiếp, phát tờ rơi hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến cho các cá nhân, tổ chức đến liên hệ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ phận Một cửa; hoặc nhắn tin (qua điện thoại) hoặc gửi thư điện tử đến các tổ chức, cá nhân có nhu cầu giải quyết TTHC…
Sáng kiến “Phần mềm quản lý tuyên truyền cổ động trực quan và quảng cáo ngoài trời” là phần mềm được ứng dụng trong công tác quản lý quảng cáo, bao gồm: biển quảng cáo, nội dung quảng cáo, vị trí quảng cáo, đơn vị quảng cáo… Kèm theo đó, phần mềm hỗ trợ xem tất cả các quảng cáo đang có trên các biển quảng cáo trên sơ đồ, xuất thông báo chấp thuận theo mẫu, xuất các biểu mẫu thống kê - báo cáo theo nhu cầu. Các biển quảng cáo được cập nhật lên phần mềm và lưu lại theo dạng bản đồ, chuyên viên có thể cập nhật theo hiện trạng thực tế. Còn sáng kiến “Liên thông nội bộ trong giải quyết TTHC giữa các phòng chuyên môn thuộc Sở” giúp đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho tổ chức, công dân. Nếu như trước năm 2018, khi thực hiện thủ tục thông báo tổ chức về thể thao, quảng cáo và biểu diễn nghệ thuật, các đơn vị phải có 3 bộ hồ sơ nộp cùng 1 chỗ, thì khi liên thông nội bộ giữa các phòng, đơn vị chỉ nộp 1 bộ hồ sơ là đủ.
Theo ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL thành phố, định kỳ thứ sáu hằng tuần, Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả phối hợp các phòng chuyên môn có liên quan họp trao đổi những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết TTHC và các vấn đề có liên quan CCHC. Qua đó, bộ phận tham mưu thống nhất hướng giải quyết để tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ. Bên cạnh đó, Sở còn thường xuyên tổ chức hoặc tham gia các hội thi về CCHC. Qua đó, giúp công chức, viên chức nắm vững kiến thức chuyên môn nói chung và công tác CCHC nói riêng để áp dụng vào cơ quan, đơn vị.
Theo anh Trần Hoàng Hảo, chuyên viên Phòng Quản lý văn hóa, đây là Phòng có số lượng TTHC nhiều nhất của Sở. Năm 2019, Phòng đã tiếp nhận và giải quyết 1.107 hồ sơ và tất cả đều được trả đúng hoặc trước hạn. Đến nay, Phòng có 28/51 TTHC áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; 17/51 TTHC áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Để công tác CCHC đạt hiệu quả, Phòng tham mưu xây dựng và triển khai thực hiện phần mềm quản lý tuyên truyền cổ động trực quan và quảng cáo ngoài trời; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Từ đó, việc giải quyết các TTHC về quảng cáo nhanh chóng, kịp thời.
Từ năm 2017 đến nay, Phòng Tổ chức - Pháp chế đã tham mưu UBND thành phố ban hành 5 quyết định về việc thông qua phương án đơn giản hóa TTHC cho 49 thủ tục thuộc lĩnh vực VH-TT&DL. Cụ thể là cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp, người dân. Đồng thời, tham mưu trình UBND thành phố ban hành 19 quyết định công bố danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở VH-TT&DL, UBND quận, huyện và UBND xã, phường, thị trấn.
Phòng Quản lý thể dục thể thao có 32 TTHC, trong đó có 13 TTHC áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Từ 2011 đến nay, Phòng đã tiếp nhận và tham mưu hơn 800 hồ sơ ISO nội bộ (cử đoàn tham dự giải trong nước và quốc tế), góp phần đơn giản hóa thủ tục cho cơ quan, giảm thời gian giải quyết hồ sơ. Phòng cũng đã thực hiện rà soát 28/32 TTHC lĩnh vực thể dục thể thao, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ từ 7 ngày xuống còn 6 ngày làm việc. Theo báo cáo của Sở VH-TT&DL, hiện tất cả TTHC của Sở thực hiện theo cơ chế một cửa (132 TTHC); đăng ký 27 TTHC thực hiện 4 tại chỗ theo quy định.
Tại Hội nghị tổng kết công tác CCHC giai đoạn 2011-2020, ông Nguyễn Khánh Tùng, Giám đốc Sở VH-TT&DL thành phố, cho biết ngành sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền đi đôi với kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về CCHC. Bên cạnh đó, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, đặc biệt là ứng dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trong giải quyết TTHC; tiếp tục duy trì các sáng kiến CCHC hiệu quả gắn với thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nhằm triển khai có hiệu quả chương trình, nhiệm vụ CCHC thời gian tới. (Baocantho.vn 04/6)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Gần tám triệu hồ sơ hành chính sẽ được tiếp nhận và trả qua bưu điện
Với tiến độ như hiện nay, dự kiến trong hai quý đầu năm, gần tám triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của người dân và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ được Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post) tiếp nhận và chuyển trả đến tận nhà người dân. Tăng 30% so cùng kỳ năm trước.
Trong thời gian diễn biến dịch Covid-19, nhằm hạn chế người dân đến nơi đông người, phần lớn địa phương đã tạm dừng tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại các trung tâm phục vụ hành chính công để chuyển sang thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 và tiếp nhận hồ sơ trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích. Tuy nhiên số lượng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 - 4 chưa nhiều, nên thời gian này các dịch vụ bưu chính công ích được xem như “cánh tay” nối dài, giúp đưa các dịch vụ công trực tuyến gần hơn với người dân. Tính riêng hai tháng 3 và 4, mặc dù trong thời gian cao điểm giãn cách xã hội nhưng vẫn có gần ba triệu hồ sơ được người dân lựa chọn thực hiện qua Bưu điện.
Lĩnh vực hành chính phát sinh nhu cầu nộp hồ sơ và trả kết quả qua Bưu điện nhiều nhất là các thủ tục liên quan đến BHXH, cấp phiếu lý lịch tư pháp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp bản sao bằng tốt nghiệp, bản sao giấy khai sinh, chứng nhận về y dược, thuốc bảo vệ thực vật; đăng ký thành lập doanh nghiệp...
Đặc biệt, 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích đều được phát đến địa chỉ nhận an toàn và chính xác, mọi văn bản, giấy tờ hồ sơ đều được giữ nguyên, không xảy ra tình trạng hư hỏng. Cũng không xảy ra trường hợp nào bị mất, thất lạc hoặc phản ánh từ người dân, tổ chức và cơ quan nhà nước về thái độ, chất lượng phục vụ trong việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích.
Để triển khai thành công việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua mạng lưới bưu chính công ích, việc kết nối mạng thông tin giữa Vietnam Post và các bộ, ngành, địa phương là điều quan trọng bậc nhất. Hiện, Vietnam Post đã thực hiện liên thông, kết nối dữ liệu thông tin hoàn toàn với 57 tỉnh, bảy bộ (Bộ Tư pháp; Xây dựng; Tài Nguyên và Môi trường; Lao động, Thương binh và Xã hội; Thông tin và Truyền thông; Văn hóa, Thể Thao và Du lịch; Kế hoạch và Đầu tư). Các địa phương và bộ, ngành còn lại hiện đang thực hiện kết nối để sớm thực hiện liên thông dữ liệu trong thời gian tới.
Qua đó không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức trong việc nộp hồ sơ, nhận kết quả của người dân mà còn giảm áp lực cho các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, giúp cho công chức, viên chức của cơ quan hành chính có thêm thời gian tập trung vào chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh đó cũng hạn chế được việc tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ công chức tại bộ phận một cửa với người dân, doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng sách nhiễu, gây bức xúc cho người thực hiện các thủ tục hành chính. (Nhân dân 03/6, Thái Linh)Về đầu trang
Phát triển kinh tế tư nhân: Loại bỏ gánh nặng thủ tục
Kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ trong những năm gần đây là hỗ trợ và tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, để đạt được kỳ vọng, các chuyên gia khuyến nghị nên loại bỏ những gánh nặng thủ tục rườm rà, phức tạp.
Theo ghi nhận của ông Raymond Mallon - cố vấn kinh tế Chương trình Aus4Reform tại Việt Nam, tăng trưởng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đã đạt được những con số ấn tượng, lên đến 50 - 60% mỗi năm, trong khi khối nhà nước tăng 2,5% và đầu tư nước ngoài khoảng 7%. Đây là kết quả thực sự khác biệt trong vòng 2 thập kỷ qua, khi khối đầu tư nước ngoài luôn đóng vai trò chủ lực trong tăng trưởng kinh tế đất nước. Do đó, sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân đang mang lại những tín hiệu tốt cho nền kinh tế Việt Nam.
Đánh giá về nhân tố tạo nên động lực phát triển khối kinh tế tư nhân, ông Jacques Morisset - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam - cho rằng, trong vòng 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận trong bảng xếp hạng môi trường kinh doanh của WB. Cụ thể, Việt Nam đã đạt kết quả ấn tượng, từ thứ hạng 100 lên 70, tăng 30 bậc.
Tuy nhiên, 2 năm qua, mặc dù điểm số Việt Nam có tăng nhưng thứ hạng lại không được cải thiện. Do đó, đã đến lúc cần đẩy nhanh quá trình cải cách, giúp môi trường kinh doanh thông thoáng và thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. “Tôi vẫn đặt niềm tin rằng, Chính phủ Việt Nam đang có những thay đổi, cải thiện và đẩy nhanh quá trình cải cách để có thể nâng hạng trong bảng xếp hạng Doing Business của WB” - ông Jacques Morisset bày tỏ.
Để hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu năm 2020, có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp (DN) với tỷ trọng đóng góp GDP đạt khoảng 50%; năm 2025, có ít nhất 1,5 triệu DN, đóng góp GDP khoảng 55% và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu DN, đóng góp GDP khoảng 60 - 65%, Việt Nam nên có những chương trình mạnh mẽ hơn với các biện pháp hỗ trợ DN, tạo điều kiện thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long cho biết, một trong những trở ngại đáng quan tâm hiện nay là, DN tư nhân vẫn quy mô nhỏ, được coi là “chậm lớn”. Hiện, có đến 96% là DN nhỏ và vừa, chỉ có 2% thuộc quy mô vừa. Hơn nữa, ngoài khoảng 600 nghìn DN hiện có, còn khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể nhưng vẫn “giậm chân tại chỗ”, không chuyển đổi thành DN như nhà nước mong muốn. “Để kinh tế tư nhân phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh, cần rất nhiều sự cố gắng của từng DN, cơ sở sản xuất, kinh doanh tư nhân cũng như những cải cách trong thể chế và đổi mới hoạt động của bộ máy nhà nước” - ông Long nhấn mạnh.
Theo chuyên gia Nguyễn Minh Phong, việc xây dựng hành lang pháp lý đưa các hộ kinh doanh vào Luật Điều chỉnh DN sẽ đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng hơn. Tuy nhiên, để khuyến khích 5 triệu hộ kinh doanh lên thành DN không dễ, dù chuyển đổi sẽ mang lại cơ hội rất lớn cho DN. Bà Vũ Hương Quỳnh - Giám đốc Công ty TNHH Ả Đào LOCAL (Hà Nội) - cho rằng, việc chuyển đổi từ hộ kinh doanh lên thành DN cần thực hiện khá nhiều thủ tục, rất mất thời gian. Để tạo động lực cho các hộ kinh doanh chuyển đổi, nhà nước cần đưa ra những cơ chế thông thoáng, dễ áp dụng, sẽ được người dân hưởng ứng. (Congthuong.vn 04/6, Đỗ Nga - Quỳnh Nga)Về đầu trang
Doanh nghiệp kêu vướng nhiều thủ tục hải quan
Qua thực tế triển khai Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (NĐ08) và Nghị định số 59/2018/NĐ-CP (NĐ59) về thủ tục kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, một số doanh nghiệp (DN) phản ánh còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong khâu thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, địa điểm làm thủ tục xuất khẩu xăng dầu, kiểm tra trước và sau thông quan...
Thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Điều 7.3 của NĐ08 quy định người khai hải quan không phải xuất trình bản giấy đối với các chứng từ đã được tiếp nhận, xử lý trực tuyến trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, trừ các chứng từ phải nộp bản giấy theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều DN phản ánh là họ vẫn phải nộp bản giấy dù đã nộp bản điện tử trên Cổng một cửa. Nguyên nhân là do các văn bản pháp luật quy định về thủ tục hành chính được thiết kế dành cho hồ sơ giấy, chứ không tính đến việc thực hiện trực tuyến. Do đó, VCCI đề nghị Tổng cục Hải quan phối hợp với các bộ ngành có liên quan rà soát và đưa ra danh mục các thủ tục phải nộp hồ sơ giấy, nếu không có trong danh mục này thì chỉ nộp bản điện tử.
Theo phản ánh của DN, hệ thống quản lý của cơ quan hải quan chưa tự động xoá nợ với trường hợp DN đã nộp phí hải quan cho một lần làm thủ tục đối với hàng tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập, khiến nhiều DN bị hệ thống báo nợ phí hải quan. Do vậy, cần nâng cấp hệ thống quản lý thu phí hải quan để phân biệt được DN đã nộp, không bị báo nợ như hiện nay.
Về địa điểm làm thủ tục hải quan xuất khẩu xăng dầu, Điều 11.1 Thông tư số 69/2016/TT-BTC quy định địa điểm làm thủ tục hải quan đối với xuất khẩu xăng dầu, hóa chất, khí là Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất. Tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều DN, quy định này gây nhiều bất cập cho công tác giám sát hải quan đối với việc bơm xăng dầu, hóa chất, khí từ bồn, bể vào phương tiện. Một số trường hợp, khoảng cách giữa kho chứa (nơi cần giám sát) và Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất rất lớn, thậm chí hàng trăm km, khiến cho việc thực hiện giám sát của cả cơ quan chức năng, các DN xăng dầu, hóa chất, khí và các đơn vị khác (như đơn vị cung cấp dịch vụ giám định) không thuận tiện và gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, Điều 11.2 Thông tư 69/2016/TT-BTC lại cho phép các DN xăng dầu, hóa chất, khí được làm thủ tục hải quan với hàng tái xuất tại Chi cục Hải quan nơi thương nhân có hệ thống kho nội địa chứa xăng dầu, hóa chất, khí. Thủ tục hải quan với hàng tái xuất cũng không có khác biệt đáng kể so với thủ tục xuất khẩu. Thực tế, nhiều DN cũng cho rằng địa điểm làm thủ tục hải quan với hàng tái xuất như vậy là phù hợp và tạo thuận lợi cho DN. Do đó, Tổng cục Hải quan cần nghiên cứu sửa đổi quy định này theo hướng cho phép DN làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan nơi thương nhân có hệ thống kho nội địa chứa xăng dầu, hóa chất, khí.
Về thủ tục thông báo cơ sở để gia công sản xuất hàng xuất khẩu, VCCI cũng đề nghị Tổng cục Hải quan nghiên cứu, sửa đổi quy định theo hướng trường hợp máy móc, thiết bị để gia công, sản xuất hàng thuộc diện sẽ được bên đặt gia công cho bên nhận gia công thuê mượn thì việc kiểm tra năng lực sản xuất sẽ căn cứ vào giấy tờ chứng minh (ví dụ thoả thuận cho mượn máy móc), chứ không kiểm tra thực tế.
Lý do được VCCI đưa ra là theo quy định của NĐ08, DN phải thông báo cho cơ quan hải quan trước khi làm thủ tục nhập khẩu lô hàng nguyên liệu, vật tư đầu tiên để thực hiện gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Một trong các nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị nhập khẩu phải thông báo để kiểm tra trước khi làm thủ tục nhập khẩu là máy móc, thiết bị nhập khẩu do bên đặt gia công cho bên nhận gia công thuê mượn để thực hiện hợp đồng gia công.
Tuy nhiên, VCCI cho rằng, quy định này lại chưa phù hợp với các quy định về kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Để đáp ứng các điều kiện về miễn thuế nhập khẩu, DN phải được kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, năng lực gia công, sản xuất. Một trong các nội dung kiểm tra là quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với máy móc thiết bị... Nếu DN không chứng minh được số máy móc, thiết bị hiện có đáp ứng yêu cầu sản xuất của hợp đồng gia công sẽ không được hưởng ưu đãi về thuế. Như vậy, quy định này đặt DN vào tình thế “con gà, quả trứng” do máy móc, thiết bị mà đối tác cho mượn vẫn chưa được nhập khẩu nhưng lại phải chứng minh năng lực sản xuất dựa trên số thiết bị, máy móc đó. (Hải quan 04/6, Lê Xuân)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Sắp xếp lại công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức
Văn phòng Chính phủ vừa ra Thông báo 195/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình - Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ tại Hội nghị công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2019.
Theo thông báo, nhiệm vụ trong thời gian tới thực hiện một số nhiệm vụ sau: Đẩy mạnh việc rà soát, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và kiện toàn chức năng, nhiệm vụ các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thực hiện tốt việc thí điểm hợp nhất các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Phấn đấu hoàn thành mục tiêu tinh giản biên chế 10% giai đoạn 2015 - 2021 theo Nghị quyết số 39-NQ/TW; đẩy mạnh phân cấp gắn với nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cấp, các ngành; hoàn thành sớm mục tiêu sắp xếp các đơn vị hành chính giai đoạn 2019 - 2021 trong năm 2020. Thực hiện sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về quản lý công chức, viên chức để cụ thể hóa các quy định mới tại Luật sửa đổi, bổ sung Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức...
Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng lưu ý về việc xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức; Đến tháng 6-2020 hoàn thành việc gửi nhận văn bản điện tử tại 4 cấp chính quyền; Đẩy mạnh rà soát, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và kiện toàn chức năng, nhiệm vụ các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.
Thực hiện tốt việc thí điểm hợp nhất các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Phấn đấu hoàn thành mục tiêu tinh giản biên chế 10% giai đoạn 2015 - 2021; Thực hiện nhanh, quyết liệt, thực chất hơn việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh… (Người lao động 03/6, H.Lê)Về đầu trang
Chuyển giao thế hệ cán bộ là một tất yếu
Đại hội Đảng bộ các cấp hiện tại được xem là thời điểm đánh dấu sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo. Đây là sự chuyển giao vai trò lãnh đạo các địa phương đơn vị từ thế hệ những cán bộ sinh ra, lớn lên và được rèn luyện, thử thách trong những năm tháng kháng chiến, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Thực tiễn này cũng đặt ra nhiều vấn đề mới trong công tác cán bộ.
Tại những buổi lễ công bố quyết định về công tác cán bộ tại các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị, hầu hết những cán bộ được giao trọng trách vừa qua đều thuộc thế hệ 7x và đều là những cán bộ trưởng thành trong thời bình.
"Thứ nhất, tất cả cán bộ cấp chiến lược đều được đào tạo bài bản. Thứ hai, không chỉ được đào tạo bài bản mà tuyệt đại đa số cán bộ cấp chiến lược thì đều có thời gian tu nghiệp ở nước ngoài, vì thế năng lực thích ứng và năng lực hội nhập quốc tế rất là nhanh. Thứ ba, cán bộ trẻ nói chung hiện nay rất năng động và thực tế", GS.TS. Nguyễn Đình Đức - Đại học Quốc gia Hà Nội nói.
"Tre già măng mọc", trọng trách gánh vác con thuyền của cách mạng đang được thế hệ cán bộ trưởng thành trong chiến tranh, được đào tạo hầu hết ở các nước xã hội chủ nghĩa dần dần chuyển giao cho một thế hệ cán bộ mới - những người trưởng thành trong thời bình, được đào tạo bài bản ở nhiều thể chế chính trị khác nhau. Sự chuyển giao đang đặt ra nhiều vấn đề mới trong quản lý và sử dụng cán bộ.
PGS.TS. Đoàn Thế Hanh - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói: "Thực tế thời gian qua có một bộ phận cán bộ trẻ đã sớm ngã gục. Bác Hồ đã nói một ý rất hay là Lúc ngủ ai cũng lương thiện, tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền. Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên. Sự giáo dục ở nhiều kênh khác nhau, nhiều thể chế chính trị khác nhau, tác động không nhỏ đến cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chúng ta hôm nay".
Để đất nước không bị chệch hướng đòi hỏi, những người cầm lái cần phải thực sự tôi rèn trong thực tiễn cách mạng. Điều này cũng đòi hỏi các cấp ủy cần phải tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, chăm lo, đào tạo đội ngũ hiện tại.
Những công việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội 13 đang được tiến hành. Kỳ vọng về trọng trách gánh vác đất nước đối với thế hệ cán bộ mới đủ đức, đủ tài, đủ năng lực lãnh đạo đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong nhiệm kỳ mới đang lớn hơn bao giờ hết bởi chuyển giao là một sự tất yếu. (Kênh VTV1 – Thời sự 19h ngày 03/6)Về đầu trang
Chưa thể điều chỉnh lương tối thiểu 2021
Theo tính toán của Bộ phận kĩ thuật (Văn phòng Giới chủ - VCCI) lần điều chỉnh vừa qua, mức lương tối thiểu đã cao hơn 1,51% mức sống tối thiểu. Chính vì vậy, trước thềm phiên họp Hội đồng Tiền lương quốc gia bàn về phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng, dự kiến sẽ diễn ra vào khoảng giữa tháng 6 hàng năm, nhiều hiệp hội doanh nghiệp cho rằng chưa nên bàn về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng năm 2021.
Tại phiên họp Thường trực Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì bàn về vấn đề cải cách chính sách tiền lương vừa qua, Thủ tướng nhấn mạnh, tinh thần cải cách tiền lương phải thể hiện được tính tổng thể và đồng bộ. Phải xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo đúng nội dung cải cách tiền lương tại Nghị quyết 27-NQ/TW. Phải làm rõ hơn, thuyết phục hơn tính hợp lý và công bằng trong cải cách tiền lương.
Theo Nghị quyết 27, Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất để bảo vệ người lao động yếu thế, đồng thời là một trong những căn cứ để thoả thuận tiền lương và điều tiết thị trường lao động.
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, với mức tăng lương tối thiểu vùng 5,5% năm 2020 được đánh giá là sự chia sẻ lớn của doanh nghiệp với người lao động.
Tuy nhiên, thời gian gần đây tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 đã khiến việc đáp ứng, duy trì mức tăng lương tối thiểu vùng 5,5% là rất khó khăn. “Do đó, nếu mức lương tối thiểu vùng tiếp tục được điều chỉnh tăng sẽ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn chồng khó khăn. Mục tiêu bảo vệ doanh nghiệp, hồi phục sản xuất kinh doanh sau dịch sẽ không đạt được”, Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh.
Trên thực tế, chia sẻ về những khó khăn đối với các doanh nghiệp trong bối cảnh dịch COVID-19, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết, 100% doanh nghiệp dệt may bị ảnh hưởng bởi đại dịch này. Qua khảo sát của VITAS, 5 tháng đầu năm, tăng trưởng của doanh nghiệp dệt may âm (-)15,5%, trong khi đó, mức tăng bình quân mỗi năm trước đó là 9-10%. “Nói như vậy để thấy, ngành top đầu của xuất khẩu Việt Nam-ngành dệt may đã chịu tác động tới 25%. Mức độ ảnh hưởng lớn do thiếu nguyên vật liệu trong 3 tháng đầu năm, mức độ giảm lớn hơn ở tháng 4 và tháng 5 do nhu cầu của các thị trường lớn sụt giảm, giãn hoãn đơn hàng hay chậm hoặc không thanh toán xảy ra”, Phó Chủ tịch VITAS chia sẻ.
Cùng quan điểm, đại diện Hiệp hội da giày cho biết, 95% sản lượng ngành da giày phục vụ xuất khẩu, nguyên phụ liệu 60% phụ thuộc nguồn nhập khẩu. Do đó, hoạt động sản xuất 3 tháng đầu năm trì trệ vì thiếu nguyên liệu, tới hai tháng gần đây thì các thị trường lại hoãn, ngừng các đơn hàng do đó ngành da giày đang chịu tổn thất nặng nề.
“Chúng tôi tới thăm các nhà máy tại Bình Dương, có những nhà máy cho công nhân làm việc 20 ngày/tháng còn 10 ngày nghỉ, một số thì cho lao động nghỉ luân phiên do muốn giữ lao động. Dù mức lương đã giảm nhưng doanh nghiệp vẫn đang phải vay tiền ngân hàng để trả lương cho lao động, như vậy đủ thấy doanh nghiệp khó khăn như thế nào”, đại diện Hiệp hội Da giày cho biết.
Theo VCCI, tình hình doanh nghiệp 5 tháng đầu năm 2020, số doanh nghiệp thành lập mới và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 70.031 doanh nghiệp. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, doanh nghiệp ngừng kinh doanh, chờ thủ tục giải thể và giải thể khoảng 97.242 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, qua kiểm tra của cơ quan thuế thì không tìm thấy và không liên lạc được là 17.436 doanh nghiệp.
Để khắc phục khó khăn này, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, giảm, giãn thuế, khoanh nợ... Đặc biệt là một số chính sách liên quan lao động như tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất; Lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn; Được vay tiền để trả lương ngừng việc cho người lao động… Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cho biết khó tiếp cận bởi những điều kiện như “đánh đố”. Ví dụ như biện pháp đi đầu là hỗ trợ giãn hoãn phí công đoàn nhưng lại kèm yêu cầu giảm 50% lao động, mà nếu giảm 50% lao động thì doanh nghiệp đã đóng cửa rồi.
Đặc biệt, việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần được xem xét trong bối cảnh lương tối thiểu vùng 2020 mức 5,5% vừa qua đã đáp ứng được yêu cầu “lương tối thiểu vùng đáp ứng mức sống tối thiểu” như đúng tinh thần, mục tiêu của Nghị quyết 27-NQ/TW về chính sách tiền lương.
Thậm chí, theo phân tích của Bộ phận kỹ thuật (Văn phòng Giới chủ của VCCI), mức lương tối thiểu vùng 2020 được tính toán theo mức CPI dự kiến là 4%. Tuy nhiên, thực tế khi đánh giá lại CPI 2019 chỉ 2,79%. Như vậy, lương tối thiểu vùng 2020 đã cao hơn mức sống tối thiểu 1,51% và vượt quá năng lực chi trả của một số doanh nghiệp tại thời điểm hiện nay.
Một căn cứ khác để xem xét việc điều chỉnh, Chính phủ mới đây cũng đã yêu cầu dừng tăng lương cơ sở. Do đó, nếu lương tối thiểu vùng tiếp tục được điều chỉnh tăng sẽ là bất hợp lý với doanh nghiệp trong bối cảnh khó khăn sau đại dịch. Tinh thần trong chỉ đạo đổi mới về chính sách cải cách tiền lương của Chính phủ cũng luôn nhấn mạnh yếu tố năng lực chi trả của doanh nghiệp. (Infonet.vietnamnet.vn 03/6)Về đầu trang
Hàng loạt xe biển xanh ở Bình Phước vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ
Ngày 3/6, UBND tỉnh Bình Phước cho biết vừa có báo cáo gửi Ủy ban ATGT Quốc gia, Thường trực Tỉnh ủy, HĐND và các cơ quan liên quan về thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
Theo đó, 5 tháng đầu năm lực lượng cảnh sát giao thông phát hiện, xử lý gần 23.000 trường hợp vi phạm, phạt tiền gần 27 tỷ đồng.
Từ 14/4, Trung tâm Giám sát an ninh và giao thông đặt tại Công an tỉnh Bình Phước đã phát hiện 1.442 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông. Đáng chú ý, trong số này có 28 lượt xe biển số xanh vi phạm. Công an tỉnh Bình Phước đang mời đại diện các cơ quan có xe vi phạm lên làm việc để xử lý.
Theo tổng họp, các cơ quan có xe biển số xanh vượt đèn đỏ, gồm: Ban tổ chức Tỉnh ủy Bình Phước, Trung tâm Văn hóa huyện Hớn Quản, Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Văn phòng Thành ủy Đồng Xoài (có xe 2 lần vượt đèn đỏ), Trung tâm Y tế dự phòng, Văn phòng Thị ủy Bình Long, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, UBND huyện Hớn Quản, Văn phòng Thị ủy Phước Long, Viện KSND tỉnh và Văn phòng Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Lộc Ninh và Trung tâm Y tế Bù Đăng.
Các cơ quan có xe biển xanh chạy quá tốc độ gồm: Văn phòng Huyện ủy Chơn Thành, Trại giam Tống Lê Chân (có xe 3 lần chạy quá tốc độ), Văn phòng Huyện ủy Hớn Quản, Bảo hiểm xã hội tỉnh và Văn phòng Huyện ủy Bù Đốp.
Còn Chi cục Bảo vệ môi trường và Xí nghiệp Công trình công cộng Đồng Xoài có xe dừng không đúng quy định.
Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Trần Tuệ Hiền yêu cầu các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn thường xuyên quán triệt, phát huy vài trò nêu gương, đi đầu của cán bộ, công chức, viên chức…. nhất là cán bộ được giao quản lý, điều khiển phương tiện giao thông công vụ phải chấp hành nghiêm các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn giao thông.
Ngoài việc xử lý theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động vi phạm giao thông sẽ bị xem xét thi đua, khen thưởng cuối năm. (Zingnews.vn 03/6, Lê Ngân)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Đề xuất lái xe kinh doanh vận tải phải có chứng chỉ hành nghề: Thêm “gánh nặng” không cần thiết?
Dự thảo Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) được Bộ Giao thông Vận tải bổ sung, lấy ý kiến trước khi hoàn thiện và trình các cấp có thẩm quyền. Nhiều điểm mới đã được đưa ra tại dự thảo và nhận được sự quan tâm của dư luận. Đáng chú ý, trong bản dự thảo Luật Giao thông đường bộ sửa đổi đề xuất người điều khiển xe kinh doanh vận tải phải có chứng chỉ hành nghề. Nhiều ý kiến cho rằng, đề xuất này dễ dẫn đến việc "đẻ" thêm giấy phép khi chứng chỉ không phải là loại giấy tờ mang tính chất bắt buộc.
Cụ thể, tại dự thảo Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) được Bộ Giao thông Vận tải đưa ra lấy ý kiến hoàn thiện vào ngày 2/6, trong Điều 103 có đề cập đến chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải. Theo Dự thảo này, người có nhu cầu được cấp chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải phải được đào tạo nghiệp vụ vận tải và kỹ năng lái xe an toàn tại các cơ sở đào tạo lái xe theo nội dung và chương trình quy định.
Trên thực tế, khái niệm chứng chỉ hành nghề không quá xa lạ trong lĩnh vực kinh doanh vận tải. Tuy nhiên, chứng chỉ từ trước đến nay đều được hiểu là giấy tờ không mang tính chất bắt buộc giống như giấy phép lái xe. Thay vào đó, chứng chỉ được sử dụng vào mục đích nâng bậc thợ, nâng trình độ cho tài xế hoặc phục vụ như một loại giấy tờ giúp nâng lương lái xe.
Tuy nhiên, tại mục 2, Điều 103 dự thảo lại nhấn mạnh: “Người có nhu cầu được cấp chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải phải được đào tạo nghiệp vụ vận tải và kỹ năng lái xe an toàn tại các cơ sở đào tạo lái xe theo nội dung và chương trình quy định”. Tại mục 3 cũng đề cập: “Người được xác nhận đã hoàn thành chương trình đào tạo về nghiệp vụ vận tải và kỹ năng lái xe an toàn đăng ký với cơ quan quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe để tham dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu được cấp chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải”.
Nhìn vào đây có thể hiểu, sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải, người lái xe lại tiếp tục được đào tạo nghiệp vụ và tham gia kiểm tra để được cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc đào tạo này là không cần thiết, vì mục tiêu đào tạo các lái xe là hướng đến lái xe an toàn. Và mục tiêu này được thể hiện và phản ánh qua giấy phép lái xe. Và dĩ nhiên, trước nay nhiều người đã quen với việc có giấy phép lái xe là đủ điều kiện để hành nghề. Nay phát sinh thêm một loại giấy tờ mới có giá trị tương đương sẽ dẫn đến lo ngại tăng các thủ tục hành chính.
Thẳng thắn bày tỏ quan điểm Ban soạn thảo nên bỏ quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải, bà Nguyễn Minh Thảo - Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực kinh doanh thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương dẫn chứng thêm, tại mục 5, Điều 103 của dự thảo cũng nêu “Chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp…”.
Theo bà Nguyễn Minh Thảo chứng chỉ này chỉ có thời hạn 5 năm. Như vậy, sau 5 năm lái xe lại buộc phải đi học và cấp chứng chỉ khác. Điều này dễ dẫn đến hệ lụy là tăng các thủ tục hành chính, tăng áp lực lên người hành nghề. “Theo quan điểm của tôi chúng ta nên bỏ chứng chỉ này bởi nó dễ dẫn đến tính hình thức, đối phó hơn là đảm bảo tính an toàn cho người học và yêu cầu của cơ quan cấp chứng chỉ đó” - bà Nguyễn Minh Thảo chia sẻ.
Theo bà Thảo, quy định này cũng không giúp mục tiêu quản lý nhà nước về an toàn vận tải trở nên hiệu quả hơn. Các quy định về bằng lái xe, chất lượng phương tiện, sức khỏe tài xế... đã đủ để bảo đảm mục tiêu này.
Quanh vấn đề này, ông Nguyễn Văn Quyền - Chủ tịch Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam cho rằng, chứng chỉ hành nghề lái xe kinh doanh vận tải như nội dung trong dự thảo thì cũng có cơ sở với mục tiêu cao nhất là đảm bảo an toàn giao thông. Tuy nhiên nếu triển khai như trong dự thảo thì rất dễ vướng phải câu chuyện “đẻ” thêm chứng chỉ. “Trong điều luật này chúng tôi đề nghị có sự cân nhắc và điều chỉnh. Cụ thể, với các lái xe không kinh doanh vận tải thì không bắt buộc người ta theo chương trình buộc phải cấp chứng chỉ. Riêng với lái xe kinh doanh vận tải hoặc lái xe chuyên nghiệp thì phải học đầy đủ các nội dung như kỹ năng lái xe an toàn, kỹ năng lái xe tiết kiệm nhiên liệu…” - ông Nguyễn Văn Quyền bày tỏ quan điểm.
Ông Trần Hữu Minh – Phó Chánh Văn phòng Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia lại cho rằng, sở dĩ thời gian qua người dân và doanh nghiệp cảm thấy bức xúc về giấy phép hành nghề là vấn đề xin - cho. Theo ông Minh, chứng chỉ hành nghề kinh doanh vận tải nên tiếp cận theo 2 hướng, một là bằng cấp (trung cấp), hai là chứng chỉ.
Riêng kinh doanh vận tải thì phải có tiêu chuẩn cao hơn vì di chuyển nhiều, nghiệp vụ phức tạp và mức độ rủi ro nhiều hơn. Chẳng hạn như trường hợp kinh doanh vận tải đưa đón học sinh, lái xe phải có kỹ thuật phương tiện, kỹ năng cứu thương, quản lý trẻ em lên xuống... Trong trường hợp lái xe vi phạm quy định thì không thể thu hồi bằng lái của cá nhân đó, vì ảnh hưởng tới quyền cá nhân, mà chỉ có thể thu hồi chứng chỉ hành nghề kinh doanh vận tải. “Quan trọng là phải lồng ghép quy định này vào giai đoạn nào cho phù hợp” – ông Trần Hữu Minh chia sẻ.
Giải đáp những băn khoăn quanh đề xuất lái xe kinh doanh vận tải phải có chứng chỉ hành nghề, bà Phan Thị Thu Hiền - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Bộ Giao thông Vận tải) cho biết, cấp chứng chỉ hành nghề lái xe, bà Hiền cho biết, đây không phải là vấn đề mới.
Cụ thể, hiện nay trong đào tạo sát hạch, đã cấp chứng chỉ hành nghề này. Tuy nhiên, việc cấp chứng chỉ lại diễn ra trước khi cấp trình độ cho người lái xe, nên trong dự thảo lần này, điều chỉnh cấp trình độ trước, rồi cấp chứng chỉ sau, nghĩa là người nào có nhu cầu kinh doanh vận tải mới phải học chứng chỉ. Tuy nhiên, quá trình triển khai sao cho thực chất, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, sẽ có điều chỉnh trong các văn bản dưới luật.
Bà Phan Thị Thu Hiền cũng chia sẻ thêm, dự thảo luật mới có điểm rất mới là khi thi giấy phép lái xe, người học không bắt buộc phải thi ở cơ sở đào tạo ban đầu mà có thể tùy thuộc vào thời gian, địa điểm mà người học mong muốn thi. Cuộc thi do cơ quan có thẩm quyền tổ chức, toàn bộ quá trình thi đều được công khai, kết nối dữ liệu online, người dân có thể giám sát. (Lao động Thủ đô 04/6, Đinh Luyện)Về đầu trang
Bỏ thủ tục xác nhận tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe gắn máy nhập khẩu: Tiết giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp
Thực hiện việc cải cách đơn giản thủ tục hành chính, áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động hải quan trong năm 2020, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) nhận thấy có thể bãi bỏ thủ tục xác nhận tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe gắn máy nhập khẩu. Việc bãi bỏ thủ tục này sẽ giảm chi phí, thời gian, nhân lực cho cả cơ quan nhà nước và người dân, doanh nghiệp (DN).
Cục Giám sát quản lý về hải quan, Tổng cục Hải quan cho biết, Bộ Tài chính đã có văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải về đề xuất bãi bỏ thủ tục xác nhận tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe gắn máy nhập khẩu (NK), nhằm hưởng ứng công cuộc cải cách điện tử hóa thủ tục hành chính của Chính phủ.
Trên thực tế, theo quy định tại Thông tư 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an quy định về đăng ký xe và Thông tư 102/2016/TT-BQP của Bộ Quốc phòng ban hành quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng xe cơ giới trong Bộ Quốc phòng, khi làm thủ tục đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có nguồn gốc nhập khẩu, chủ phương tiện phải nộp cho cơ quan đăng ký chứng từ chứng minh phương tiện có nguồn gốc nhập khẩu là tờ khai nguồn gốc xe ô tô, xe gắn máy nhập khẩu theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành (TKNG).
Qua thời gian thực hiện, Bộ Tài chính thấy việc sử dụng tờ khai nguồn gốc để chứng minh phương tiện vận tải đã được cơ quan hải quan thông quan là không cần thiết trong giai đoạn hiện nay, khi thủ tục hành chính đã được điện tử hóa ở cấp độ cao. Hiện nay, hơn 99% các lô hàng xuất khẩu, NK đã được thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Bộ Tài chính lý giải, về thủ tục hải quan, theo quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 39/2018/TT-BTC) thì việc khai và nộp các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan được người khai hải quan gửi qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
Theo hướng dẫn tại thông tư thì tờ khai hải quan điện tử bao gồm 96 chỉ tiêu thông tin mà người khai hải quan phải khai với cơ quan hải quan, trong đó có các thông tin liên quan đến: tổ chức, cá nhân xuất khẩu, NK, hàng hóa (xuất xứ, nhãn hiệu, số loại, dung tích xi lanh, loại xe, màu sơn, số khung, số máy...), chính sách quản lý, tiền thuế... Trường hợp hệ thống chưa đáp ứng được thông tin khai báo, thì người khai hải quan được bổ sung trên các chứng từ giấy kèm tờ khai hải quan và gửi qua hệ thống cho cơ quan hải quan.
Kết quả xử lý của cơ quan hải quan cũng được cập nhật đầy đủ trên hệ thống, như: kết quả kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, trạng thái tờ khai (thông quan, giải phóng hàng, đưa hàng về bảo quản),... việc thông quan cũng được thực hiện hoàn toàn tự động.
Trên giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện NK có các chỉ tiêu thông tin: tên người nhập khẩu, số khung số máy, màu xe, nhãn hiệu, tên thương mại, mã kiểu loại, nước sản xuất, năm sản xuất, mã quốc gia, loại động cơ, số tờ khai khai hải quan nhập khẩu... nếu Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải kết nối, trao đổi dữ liệu về giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện nhập khẩu trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký phương tiện của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng có thể tra cứu, khai thác khi giải quyết thủ tục hành chính.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, việc xác nhận TKNG làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính (thủ tục mua TKNG và thủ tục xác nhận TKNG) tốn kém về nhân lực và chi phí cho cơ quan hải quan và DN. Cơ quan hải quan mất từ 1- 2 giờ làm việc để xử lý 1 bộ TKNG; DN mất ít nhất là 1 giờ để chuẩn bị hồ sơ và 1 ngày để chờ kết quả, chi phí làm hồ sơ và đi lại 40.000 đồng/tờ khai.
Để giải quyết các khâu thủ tục gây mất thời gian và chi phí nêu trên, Bộ Tài chính cho biết, theo kế hoạch thời gian tới, Tổng cục Thuế sẽ kết nối, trao đổi dữ liệu với Bộ Giao thông vận tải để tra cứu, khai thác Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện nhập khẩu phục vụ cho việc xuất hóa đơn điện tử. Theo đó, các thông số kỹ thuật của phương tiện được ghi trên Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sẽ được chuyển đến cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế và tự động cập nhật trên hóa đơn bán hàng, thay vì DN phải nộp Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và cơ quan thuế phải cập nhật thủ công vào hệ thống như hiện nay. Điều này cũng góp phần vào việc điện tử hóa các thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận đăng ký phương tiện.
Hơn nữa, việc cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện tra cứu thông tin về tờ khai hải quan, hàng hóa trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và Cổng thông tin một cửa quốc gia để giải quyết thủ tục hành chính sẽ giúp cắt giảm được thủ tục mua TKNG và thủ tục xác nhận TKNG; giảm được giấy tờ khi đăng ký phương tiện (tờ khai nguồn gốc, giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường,...) và chi phí cho DN.
Với những tiện tích này, Bộ Tài chính dự kiến báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất dừng việc cấp, xác nhận tờ khai nguồn gốc đối với xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu, đồng thời giao Bộ Công an, Bộ Giao thông bãi bỏ quy định về nộp tờ khai nguồn gốc quy định tại Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 54/2015/TT-BCA và Thông tư 64/2017/TT-BCA); Thông tư 102/2016/TT-BQP của Bộ Quốc phòng ban hành quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng xe cơ giới trong Bộ Quốc phòng.
Theo đề xuất của Bộ Tài chính, thời gian dừng cấp, xác nhận tờ khai nguồn gốc đối với xe ô tô, xe hai bánh gắn máy nhập khẩu sẽ do ba bộ thống nhất chuẩn bị các điều kiện kết nối thông tin phục vụ yêu cầu quản lý hoàn thành trước ngày 1/1/2021. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 03/6, Hải Linh)Về đầu trang./.