Bản tin cải cách hành chính ngày 28/10/2021

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Thừa Thiên Huế và VNPT hợp tác chuyển đổi số

2. Hải quan Hà Tĩnh vào tốp đầu cải cách hành chính toàn ngành

3. Kon Tum: Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Bộ Nội vụ đề nghị bỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học

5. Bộ NN-PTNT điều chỉnh kế hoạch cải cách hành chính

6. Sửa đổi quy định để giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu

7. Dữ liệu về bảo hiểm y tế cần bảo đảm liên thông và thống nhất quản lý

8. Ngành Hải quan: Chủ động giảm thời gian thông quan bằng ứng dụng công nghệ

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9. Tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức Hải Phòng: “Tôi không đồng ý”

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Thừa Thiên Huế và VNPT hợp tác chuyển đổi số

Trên thành quả đạt được sau 6 năm hợp tác chiến lược (2014 – 2020), UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Tập đoàn VNPT vừa ký kết hợp tác về công nghệ thông tin và viễn thông giai đoạn 2021 - 2025 theo hình thức trực tuyến tại 2 điểm cầu Huế và Hà Nội.

 

Theo đó, sự hợp tác giữa hai bên sẽ tập trung vào phát triển dịch vụ đô thị thông minh; xây dựng hạ tầng số, các nền tảng dùng chung, đảm bảo an toàn an ninh thông tin và hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin, viễn thông nhằm tạo nền móng cho việc chuyển đổi số Thừa Thiên Huế.

 

VNPT sẽ phối hợp với Thừa Thiên Huế triển khai các giải pháp chuyển đổi số cho chính quyền tỉnh; triển khai các giải pháp về Cơ sở dữ liệu và các dịch vụ trên nền tảng đô thị thông minh, Trung tâm Giám sát và điều hành đô thị thông minh nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế; triển khai, tích hợp các hệ thống dùng chung của quốc gia như hệ thống Dịch vụ công, hệ thống thông tin báo cáo.

 

Cùng với đó, VNPT tư vấn, hợp tác, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và triển khai chuyển đổi số cho các doanh nghiệp Thừa Thiên Huế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh; Hỗ trợ triển khai các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển thương mại điện tử hướng tới phát triển toàn diện nền kinh tế số.

 

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Văn Phương đánh giá cao sự đồng hành của Tập đoàn VNPT với tỉnh trong thời gian vừa qua, giúp tỉnh cơ bản hoàn thành mục tiêu về hạ tầng kết nối theo lộ trình, hạ tầng viễn thông vươn tới vùng sâu, vùng xa. Dịch vụ viễn thông ngày một đa dạng mang lại nhiều lợi ích, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và sự hưởng thụ của người dân.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế kỳ vọng chương trình hợp tác giai đoạn 2021-2025 sẽ đem lại cho Thừa Thiên Huế diện mạo khác biệt, công nghệ thông tin phát triển ngày một sâu, rộng hướng về cơ sở, rút ngắn khoảng cách giữa các cơ quan nhà nước, thúc đẩy cải cách hành chính. Góp phần quảng bá hình ảnh Thừa Thiên Huế, thu hút đầu tư, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

 

Nền tảng để Thừa Thiên Huế tin tưởng tiếp tục chọn VNPT là đơn vị đồng hành cùng tỉnh triển khai chuyển đổi số trong giai đoạn 2021-2025 là những thành quả sau 6 năm hợp tác chiến lược (2014 - 2020).

 

Cụ thể, VNPT đã giúp tỉnh có một hạ tầng mạng lưới viễn thông, công nghệ thông tin rộng khắp, sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu sử dụng các dịch vụ của người dân, đồng thời sẵn sàng phục vụ công tác triển khai chính quyền điện tử đến tuyến xã.

 

Với sự hợp tác chặt chẽ và triển khai đồng bộ, cho đến thời điểm này, hạ tầng cáp quang, di động của VNPT đã đến từng hộ nhà dân, khu tập trung dân cư, khu công nghiệp, các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, vùng sâu, vùng xa… trên toàn tỉnh. (Daibieunhandan.vn 28/10, T.Phong)Về đầu trang

Hải quan Hà Tĩnh vào tốp đầu cải cách hành chính toàn ngành

Hải quan Hà Tĩnh đã vượt 24 Cục Hải quan tỉnh/thành phố để vươn lên tốp đầu trong bảng xếp hạng đánh giá chỉ số cải cách hành chính của toàn ngành hải quan.

 

Tại Quyết định số 2513/QĐ-TCHQ ngày 5/10/2021 về việc công bố chỉ số đánh giá kết quả cải cách hành chính năm 2020 của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan Hà Tĩnh đứng tốp đầu trong bảng xếp hạng năm 2020 toàn ngành, tăng 3 bậc so với năm 2019 (xếp thứ 4). Cụ thể, ở khối Cục Hải quan tỉnh/thành phố, Cục Hải quan Hà Tĩnh đạt 89/90 tổng điểm đánh giá và xếp thứ 11/35 đơn vị.

 

Chị Nguyễn Khánh Chi – cán bộ Văn phòng Cục Hải quan Hà Tĩnh cho biết: “Kết quả trên là nỗ lực trong nhiều năm liền của đơn vị. Coi cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, đơn vị đã quyết liệt triển khai công tác này một cách đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt, vai trò của người đứng đầu luôn được thể hiện rõ nét ở những chủ trương, chính sách nhằm nâng cao các chỉ số”.

 

Bám sát các chỉ đạo của Trung ương và địa phương, hàng năm, Cục Hải quan Hà Tĩnh đã ban hành, triển khai các kế hoạch về cải cách hành chính, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ đầy đủ, đúng thời gian quy định. Đơn vị còn xây dựng các kế hoạch kiểm tra nội bộ, thanh tra chuyên ngành ở các đơn vị thuộc, trực thuộc. Tại mỗi kỳ kiểm tra, Cục đều có biên bản, kết luận và văn bản chấn chỉnh sau kiểm tra.

 

Để nâng cao chỉ số cải cách hành chính, trung bình mỗi năm, Hải quan Hà Tĩnh ban hành hơn 100 văn bản chỉ đạo triển khai công tác cải cách hành chính; tổ chức từ 2 - 3 hội nghị đối thoại doanh nghiệp tại các đơn vị để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, người nộp thuế. Cục Hải quan Hà Tĩnh cũng chú trọng tinh gọn bộ máy; từ năm 2017 đến nay, đơn vị đã tinh giản bộ máy từ 13 đơn vị xuống còn 9 đơn vị.

 

Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, hướng tới sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân, ngành cũng ứng dụng hiệu quả hệ thống dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3,4; nộp thuế điện tử và thông quan 24/7; hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng, kho bãi (VASSCM)... Đến nay, 100% thủ tục hành chính đạt dịch vụ công mức độ 3, 4; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 được đưa lên Cổng dịch vụ công quốc gia; hoàn thành chuyển đổi hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 sang hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015.

 

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, đơn vị đã duy trì vận hành hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong toàn Cục, thực hiện phối hợp thu ngân sách với hệ thống các ngân hàng thương mại. Hiện nay, tỷ lệ nộp thuế xuất nhập khẩu qua ngân hàng thương mại chiếm 97,5%.

 

Ông Đinh Văn Hòa – Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hà Tĩnh chia sẻ: “Lấy sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân làm thước đo hiệu quả, ngành đã từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Nhờ vậy, thứ hạng đánh giá chỉ số cải cách hành chính của đơn vị tăng vượt bậc. Mới đây, Cục Hải quan Hà Tĩnh được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen vì thành tích xuất sắc trong thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2020”. (Baohatinh.vn 28/10)Về đầu trang

Kon Tum: Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong cải cách hành chính

Đến nay, 100% cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đơn vị hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh Kon Tum có trang thông tin điện tử và liên kết vào Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Hầu hết các đơn vị cập nhật kịp thời các văn bản chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh; thông tin tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh; đăng tải danh mục thủ tục hành chính trong các lĩnh vực và cập nhật, đăng tải tin tức của ngành, địa phương trong tỉnh, trong nước và quốc tế.

 

Ông Trần Văn Thu - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông cho biết: Đến nay, tình hình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đơn vị hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Trong đó, phần mềm văn phòng điện tử (iOffice) được đơn vị triển khai đến hết các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố và các xã phường, thị trấn trong tỉnh. Theo đó, tổng số văn bản trao đổi trên môi trường mạng giữa các cơ quan nhà nước đạt 5.938.683 văn bản, với tỷ lệ văn bản điện tử trao đổi nội bộ đạt 100% (trừ mật).

 

Việc triển khai phần mềm Quản lý văn bản và điều hành VNPT-iOffice ở tỉnh đáp ứng việc kết nối liên thông 4 cấp, liên thông trục văn bản quốc gia giúp công tác chỉ đạo, xử lý văn bản đi và đến, kế hoạch công tác, theo dõi tiến độ công việc được giao, trao đổi công việc được thực hiện nhanh chóng, tiết kiệm được rất nhiều thời gian, giấy tờ và hiệu quả giải quyết công việc ngày càng cao. Đồng thời, tỉnh đã ban hành mã định danh của các cơ quan nhà nước và cập nhật vào phần mềm Quản lý văn bản và điều hành để áp dụng thống nhất, làm cơ sở cho việc kết nối trục liên thông quốc gia.

 

Đồng thời, Sở Thông tin và Truyền thông đã triển khai hệ thống thư điện tử công vụ riêng của tỉnh. Tính đến tháng 9/2020, toàn tỉnh cấp hơn 5.000 tài khoản cho cán bộ, công chức, viên chức ứng dụng trong trao đổi công việc. Nhờ đó, việc sử dụng hộp thư điện tử công vụ trong công tác xử lý văn bản giúp cho các đơn vị xử lý một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo vấn đề an toàn an ninh thông tin trong hoạt động trao đổi văn bản.

 

Ngoài ra, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh về việc trao đổi văn bản điện tử có ứng dụng chữ ký số, nên đến nay, tỷ lệ văn bản trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước hoàn toàn dưới dạng điện tử đạt 90%. Tỷ lệ văn bản trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước dưới dạng điện tử và song song với văn bản giấy đạt 10% (chỉ một số loại văn bản gửi song song cả bản điện tử và bản giấy). (Baokontum.com.vn 28/10) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Nội vụ đề nghị bỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học

Bộ Nội vụ vừa đề nghị các bộ, ngành không yêu cầu chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong quy định về trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức.

 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (theo Công văn số 3845/VPCP-TCCV ) về việc rà soát, cắt giảm chứng chỉ bồi dưỡng không phù hợp đối với công chức, viên chức, Bộ Nội vụ đã trình và Chính phủ ban hành Nghị định số 89/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Bộ ban hành theo thẩm quyền Thông tư số 02/2021/TT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư.

 

Để bảo đảm đồng bộ trong việc triển khai thực hiện chủ trương nêu trên, Bộ Nội vụ vừa có văn bản gửi các Bộ Tư pháp, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thông tin và Truyền thông, cùng Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chuyên môn các ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành.

 

Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ quản lý ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành khẩn trương xây dựng, ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chuyên môn các ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành được giao quản lý. Trong đó lưu ý, về chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức, đối với các ngạch công chức chuyên ngành, đề nghị quy định chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với công chức giữ ngạch tương ứng theo quy định khoản 3 Điều 17 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP.

 

Đối với các chức danh nghề nghiệp viên chức trong cùng một chuyên ngành, Bộ Nội vụ đề nghị quy định chung một chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành (không chia theo hạng chức danh nghề nghiệp như trước đây) hoặc chứng chỉ hành nghề (nếu có) theo quy định tại khoản 4 Điều 17, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4, khoản 9 Điều 1 Nghị định số 89/2021/NĐ-CP.

 

Về tiêu chuẩn năng lực ngoại ngữ, tin học, Bộ Nội vụ đề nghị không yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong quy định về trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức. Các Bộ quản lý chuyên ngành nghiên cứu, quy định về tiêu chuẩn năng lực ngoại ngữ, tin học phù hợp với yêu cầu về chức trách, nhiệm vụ của ngạch, chức danh nghề nghiệp tương ứng.

 

Trường hợp trong tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức có sự thay đổi về trình độ đào tạo dẫn đến thay đổi về việc xếp lương, Bộ quản lý chuyên ngành nghiên cứu hướng dẫn cách chuyển xếp lương từ ngạch, chức danh (cũ) sang ngạch, chức danh quy định tại Thông tư (mới) tương ứng, bảo đảm tính ổn định, phù hợp với thực tiễn khi tổ chức thực hiện.

 

Bộ Nội vụ cũng đề nghị các Bộ khẩn trương tổ chức thực hiện, hoàn thành trước ngày 31/12/2021 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (VTV.vn 28/10)Về đầu trang

Bộ NN-PTNT điều chỉnh kế hoạch cải cách hành chính

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến vừa ký Quyết định số 3985 điều chỉnh kế hoạch cải cách hành chính năm 2021 của Bộ NN-PTNT.

 

Theo đó, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT quyết định điều chỉnh khung kế hoạch cải cách hành chính năm 2021 của Bộ ban hành tại Quyết định số 5428/QĐ-BNN-TCCB ngày 31/12/2020.

 

Đối với mục tiêu cải cách thể chế, Bộ NN-PTNT tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của Bộ, ngành, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp hội nhập quốc tế.

 

Kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định không phù hợp; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ngành NN-PTNT với 8 nhiệm vụ, 21 hoạt động, sản phẩm.

 

8 nhiệm vụ trọng tâm về cải cách thể chế bao gồm: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2021; Rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ NN-PTNT; Hệ thống hóa, hợp nhất văn bản QPPL và pháp điển hệ thống văn bản QPPL; Hệ thống hóa, hợp nhất văn bản QPPL và pháp điển hệ thống văn bản QPPL; Theo dõi thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, thi hành pháp luật trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ.

 

Về mục tiêu cải cách thủ tục hành chính (TTHC): Bộ NN-PTNT tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC để bãi bỏ các quy định rào cản cho sản xuất, kinh doanh; Chuẩn hóa TTHC, đồng bộ, thống nhất trong toàn ngành và trong từng lĩnh vực chuyên ngành; nâng cao chất lượng giải quyết TTHC; Cải cách TTHC giữa các đơn vị thuộc Bộ và trong nội bộ từng đơn vị thuộc Bộ, triển khai hiệu quả cơ chế một cửa liên thông; tăng cường đối thoại với người dân, doanh nghiệp. Nội dung này sẽ bao hàm 6 nhiệm vụ và 17 hoạt động, sản phẩm.

 

Trong đó, 6 nhiệm vụ trọng tâm cải cách thủ tục hành chính gồm: Kiểm soát thủ tục hành chính; Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC; Thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; tiếp nhận, xử lý và trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về các vướng mắc khó khăn trong thực hiện cơ chế, chính sách, TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân thuộc phạm vi quản lý của Bộ; Triển khai thực hiện Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ; kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC; Hội nghị, hội thảo, tuyên truyền về thực hiện TTHC trên môi trường mạng.

 

Về mục tiêu cải cách tổ chức bộ máy, Bộ NN-PTNT tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Bộ để hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường kiện toàn, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết 19-NQ/TW; Tiếp tục kiện toàn tổ chức ngành địa phương và thực hiện đúng quy định về sử dụng biên chế hành chính.

 

Nhiệm vụ trọng tâm của nội dung này gồm: sắp xếp kiện toàn tổ chức, bộ máy theo Nghị định 101/2020/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 123/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức và quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ (theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017); thực hiện quy định về sử dụng biên chế hành chính.

 

Về mục tiêu cải cách công vụ, Bộ NN-PTNT xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; kiểm soát chặt chẽ công tác cán bộ, công chức các đơn vị thuộc Bộ. Triển khai hiệu quả các đề án đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực ngành NN-PTNT. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện tuyển dụng, luân phiên, luân chuyển, bổ nhiệm theo đúng quy định; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức. (Nongnghiep.vn 28/10)Về đầu trang

Sửa đổi quy định để giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu

Thông tin trên được Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung đưa ra trong phát biểu giải trình tại phiên thảo luận trực tuyến của Quốc hội chiều nay (27/10).

 

Phiên thảo luận về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), quản lý và sử dụng Quỹ BHXH năm 2020; việc quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) năm 2020 và thực hiện Nghị quyết số 68/2013/QH13 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới bảo hiểm BHYT trong 2 năm 2019-2020.

 

Phát biểu tại phiên họp, đề cập đến việc số người hưởng BHXH một lần có xu hướng gia tăng, tác động lớn đến chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, Đại biểu Hoàng Ngọc Định (đoàn Hà Giang) đề nghị Chính phủ có xem xét, có phương án linh hoạt trong việc quy định thời gian tham gia đối với người tham gia BHXH tự nguyện, tính toán mức hưởng phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động trực tiếp được tiếp cận và thụ hưởng BHXH.

 

Cũng băn khoăn về tình trạng số người hưởng BHXH một lần gia tăng, Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Dương) chỉ ra rằng, đa số những người hưởng chế độ BHXH một lần là những người lao động trẻ, nhu cầu về chi tiêu tài chính lớn và không tính đến tích lũy thời gian đóng BHXH để đủ 20 năm và đủ tuổi nghỉ hưu.

 

Khẳng định việc hưởng BHXH một lần là nhu cầu thực tế của người lao động, Đại biểu Sơn cũng dẫn dự báo cho rằng số người hưởng chế độ BHXH một lần sẽ tăng cao vào các năm tiếp theo.

 

Trước thực trạng đó, Đại biểu đề xuất sớm nghiên cứu sửa đổi quy định về hưởng BHXH một lần theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH, sớm sửa Luật BHXH để thực hiện các giải pháp đã nêu tại Nghị quyết, thực hiện các nội dung cải cách về xây dựng hệ thống BHXH đa tầng, hướng tới bao phủ toàn dân.

 

Cùng với đó, sửa đổi điều kiện về thời gian tham gia BHXH tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt nhằm giảm số người hưởng BHXH một lần, điều chỉnh cách tính lương hưu bảo đảm kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng – hưởng công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững, tăng sức hấp dẫn và tính liên kết giữa các chế độ BHXH nhằm mục tiêu mở rộng diện bao phủ… (Baophapluat.vn 27/10, Hoàng Nam)Về đầu trang

Dữ liệu về bảo hiểm y tế cần bảo đảm liên thông và thống nhất quản lý

Chiều 27/10, Quốc hội tiến hành thảo luận trực tuyến về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội năm 2020…

 

Tại Phiên thảo luận, nhiều đại biểu đánh giá cao việc lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội đã quyết định đưa nội dung về bảo hiểm xã hội để thảo luận toàn thể tại hội trường, khẳng định tầm quan trọng của các chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội- một trong những trụ cột của an sinh xã hội.

 

Quan tâm về nội dung hưởng BHXH một lần, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn- Đoàn ĐBQH tỉnh Hải Dương và một số đại biểu chỉ ra rằng, việc hưởng BHXH một lần là nhu cầu thực tế của người lao động. Tỷ lệ người hưởng BHXH một lần so với tổng số người tham gia BHXH những năm qua luôn ở mức khoảng 5% nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác phát triển đối tượng.

 

Với tốc độ, tình hình phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và thực tế đời sống, thu nhập khó khăn như hiện nay, dự báo có thể số người hưởng chế độ BHXH một lần sẽ tăng cao vào các năm tiếp theo. Các đại biểu đề nghị, cần làm rõ nguyên nhân của tình trạng này; đồng thời rà soát quy định, điều kiện hưởng BHXH một lần, mức hưởng, thủ tục thực hiện hưởng BHXH một lần.

 

Về các quỹ có tính chất ngắn hạn, theo các đại biểu, cơ bản các quỹ này đều bảo đảm khả năng chi trả và có kết dư lớn, cụ thể: Quỹ Ốm đau, thai sản có số kết dư chuyển sang năm 2021 bằng 43,14% số chi trong năm 2020; Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp và Quỹ BHTN, đến nay kết dư lớn, số dư hàng năm cao.

 

Bên cạnh đó, một số ý kiến đại biểu cho rằng, cần tính toán để sửa đổi một số quỹ cho phù hợp hơn, đúng tính chất của quỹ ngắn hạn; Quỹ Hưu trí, tử tuất, mặc dù vẫn đang kết dư lớn, song cần tính toán thận trọng, kỹ càng hơn nhằm bảo đảm cân đối trong dài hạn, nhất là với sự thay đổi về đặc điểm của quy mô và cơ cấu dân số, nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối giữa mức đóng - mức hưởng.

 

Qua việc phân tích những tồn tại, hạn chế, các đại biểu đề nghị Chính phủ khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, trình Quốc hội việc sửa đổi hoặc sửa đổi bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội và một số luật có liên quan nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, khắc phục các tồn tại hạn chế, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn để phát triển lĩnh vực an sinh xã hội bền vững và thích ứng với những tác động, biến đổi xã hội…

 

Phát biểu ý kiến về nội dung cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin, đại biểu Nguyễn Trường Giang- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông và một số đại biểu đánh giá, năm 2020 ngành BHXH đã tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ; giúp người lao động và người sử dụng lao động dễ dàng thực hiện, tiếp cận, thụ hưởng chế độ. Việc giải quyết và chi trả các chế độ BHXH được bảo đảm chính xác, cơ bản kịp thời, đúng quy định của pháp luật.

 

Tuy nhiên, một số đại biểu cho rằng, việc quản lý, cung cấp thông tin, dữ liệu về BHYT cần bảo đảm liên thông, được đồng bộ và thống nhất quản lý với ngành y tế trong việc triển khai ứng dụng hồ sơ, bệnh án điện tử; Việc tham gia giao dịch điện tử của cá nhân và một số đơn vị vẫn chưa đạt mục tiêu mà BHXH Việt Nam đề ra… Do đó, trong thời gian tới, cần tiếp tục làm tốt hơn nữa khâu cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin; đảm bảo sự chính xác, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nhân lực trong công tác này.

 

Ngoài ra, tại Phiên thảo luận, các đại biểu cũng phân tích, cho ý kiến về các vấn đề: thu, nợ đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp; chi trả Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm; tình hình kết dư Quỹ - Quỹ Ốm đau, thai sản; Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp; Quỹ hưu trí, tử tuất; Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; việc đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội; chi phí quản lý Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp… (Bảo vệ pháp luật 27/10, Cảnh Vũ)Về đầu trang

Ngành Hải quan: Chủ động giảm thời gian thông quan bằng ứng dụng công nghệ

Với kỳ vọng cao hơn ở việc tiếp tục giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, ngành Hải quan đang từng ngày chủ động nghiên cứu, nâng cấp các hệ thống công nghệ thông tin để tối ưu hóa công tác quản lý.

 

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát thời gian thông quan, công khai thông tin về thời gian tiếp nhận, thực hiện thủ tục thông quan đã đạt nhiều kết quả tích cực.

 

Tổng cục Hải quan đã phát triển, quản lý và vận hành nhiều hệ thống thông tin lớn, cốt lõi trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan và một số các hệ thống phục vụ công tác nội ngành. Các hệ thống thông tin này đã góp phần quan trọng trong nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước về hải quan.

 

Có thể kể tới Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS được triển khai chính thức từ tháng 4/2014, thực hiện tiếp nhận khai báo của doanh nghiệp dưới dạng điện tử 24/7; thực hiện phân luồng hàng hóa; tự động thông quan và phản hồi kết quả cho doanh nghiệp. Các hệ thống xử lý nghiệp vụ khác như: Hệ thống tiếp nhận kiểm tra thông tin về phương tiện vận tải, bản khai hàng hóa; hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động (VASSCM), phục vụ việc giám sát hàng hóa tại kho, bãi, cảng; hệ thống quản lý rủi ro; Hệ thống quản lý thông tin giá tính thuế (GTT02); hệ thống thanh toán thuế điện tử; hệ thống thông tin quản lý cơ sở dữ liệu danh mục, biểu thuế và phân loại, mức thuế (MHS); kiểm tra giấy phép, kết quả kiểm tra chuyên ngành được gửi về từ Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) thông qua Cổng thông tin NSW… đã hỗ trợ cho cán bộ hải quan trong quá trình xử lý nghiệp vụ thông quan, giám sát hàng hóa.

 

Trong số những ứng dụng nói trên, việc đáng chú ý nhất chính là phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh bằng phương thức điện tử thông qua NSW với đầu mối là Cổng thông tin NSW kết nối các hệ thống quản lý chuyên ngành.

 

Về lâu dài, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý để giảm thời gian thông quan hàng hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sẽ được tối ưu khi Tổng cục Hải quan triển khai thành công Hệ thống hải quan số và mô hình Hải quan thông minh.

 

Theo nhận định của Tổng cục Hải quan, khi áp dụng Hệ thống hải quan số và mô hìnhh quan thông minh, công tác kiểm soát hải quan sẽ hiệu quả hơn nhờ các chức năng kiểm soát hàng hóa và/hoặc kiểm tra quá trình khai báo hàng hóa cũng như khai báo của khách xuất nhập cảnh đã được tự động hóa, quá trình lựa chọn có thể được tiến hành trên cơ sở kỹ càng và có nhiều thông tin hơn.

 

Thông tin tình báo do hải quan thu thập có thể được đưa vào hệ thống công nghệ thông tin và được xem xét đến khi tiến hành quá trình lựa chọn. Điều này giúp khả năng phát hiện những hành vi gian lận được tăng cường hơn trong môi trường tự động hoá, việc chọn lọc có hệ thống, chính xác và kịp thời hơn. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 27/10)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức Hải Phòng: “Tôi không đồng ý”

Đó là khẳng định của Đại biểu Quốc hội Lê Văn Dũng (đoàn Quảng Nam) khi thảo luận về cơ chế đặc thù cho 4 tỉnh, thành phố.

 

Ngày 27/10, Quốc hội tiếp tục thảo luận về Dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển của 4 tỉnh, thành: Hải Phòng, Thừa Thiên – Huế, Nghệ An và Thanh Hoá.

 

Liên quan đến nội dung thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức thành phố Hải Phòng, đại biểu Lê Văn Dũng bày tỏ quan điểm: “Tôi không đồng ý với cơ chế này vì thực hiện quy chế này sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong thu nhập với các địa phương khác. Dẫu biết Quốc hội khóa trước đồng ý với Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng mà tôi thấy rằng cũng là cán bộ, công chức, viên chức như các địa phương khác nhưng mà địa phương này được mà địa phương khác không được”.

 

“Nếu cho rằng các địa phương, thành phố có giá cả đắt đỏ thì tôi đề nghị nếu cho các tỉnh, thành phố này được hưởng thì các thành phố trực thuộc tỉnh cũng phải được hưởng cơ chế này. Hoặc nếu cho rằng các thành phố này đông dân, đông đơn vị hành chính khó quản lý và nhằm thu hút nhân tài, thì tôi đề nghị tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An cũng phải được hưởng cơ chế này mới đồng bộ. Bởi vì tôi thấy rằng thực hiện cơ chế này là bất bình đẳng với cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị của cả nước ta”, vị đại biểu đoàn Quảng Nam bày tỏ quan điểm.

 

Cùng bàn về nội dung này, Đại biểu Trần Quang Minh (đoàn Quảng Bình) lại bày tỏ quan điểm trái ngược với Đại biểu Dũng: “Tôi thấy hoàn toàn phù hợp để tạo động lực ổn định cuộc sống và công việc cho lực lượng cán bộ, công chức, thu hút nhân lực chất lượng cao cho thành phố trong bối cảnh đây là một thành phố có mức sống cao, thu nhập của khối doanh nghiệp chênh lệch lớn hơn so với khối công lập”.

 

Đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) thì cho rằng cần phải có sự rà soát và mang tính phổ quát hơn: “Hiện nay trong 4 nghị quyết dành cho 4 địa phương thì có Hải Phòng nêu nội dung này. Cùng với Hải Phòng trước đó Quốc hội đã ban hành nghị quyết cho Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến việc tăng thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Tôi nghĩ đây là việc làm cũng rất chính đáng. Tuy nhiên việc tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức cần phải có sự rà soát và mang tính phổ quát hơn nữa cho các địa phương khác”.

 

“Không phải tự nhiên mà một cán bộ công chức của một tỉnh bên cạnh Thành phố Hồ Chí Minh, ví dụ như Đồng Nai, hoặc Bình Dương lại có thu nhập thấp hơn thành phố bên cạnh mình. Thế rồi cán bộ công chức, viên chức của Hải Phòng tại sao lại thu nhập cao hơn của Hải Dương? Việc này chúng ta cần phải đánh giá thật kỹ. Tất nhiên, việc tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức phụ thuộc vào khả năng của địa phương, nhưng xuất phát từ việc chúng ta dành sự quan tâm cho con người thì ở đây phải đánh giá rộng ra và cần phổ quát hơn cho các địa phương khác, không chỉ cho các địa phương đang làm thí điểm”, Đại biểu Trịnh Xuân An lý giải.

 

Đưa ra cái nhìn tổng thể về Dự thảo Nghị quyết, Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Trà Vinh) thì cho rằng cần cân nhắc kỹ nếu không sẽ dẫn đến sự chồng lấn chính sách đặc thù, đặc biệt cần tính toán thêm để hài hòa lợi ích giữa địa phương với trung ương, địa phương này với địa phương khác. Vì giữa các tỉnh, thành phố có sự khác biệt chênh lệch về thẩm quyền dẫn tới tập trung đầu tư ở khu vực có điều kiện thuận lợi hơn, có thể tạo ra sự phát triển nóng, di dân, tiềm ẩn nguy cơ và đặt ra các vấn đề về an ninh trật tự an toàn xã hội.

 

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng: “Việc nghiên cứu các chính sách liên quan đến tổ chức bộ máy và biên chế, hiện nay Chính phủ cũng đang chỉ đạo các bộ, ngành liên quan để phối hợp với các tỉnh, thành phố nghiên cứu bổ sung một số chính sách phù hợp với đặc thù của từng tỉnh, thành phố trên cơ sở là diện tích hay quy mô dân số. Để thực hiện cơ cấu tổ chức bộ máy biên chế của các địa phương cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển”. (Nguoiduatin.vn 27/10, Hà Công Luân)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.012.834 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này