Bản tin cải cách hành chính ngày 03/05/2017

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Trả lời phản ảnh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trong thời hạn 20 ngày. 1

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 2

2.  Doanh nghiệp vẫn lo ngại chi phí không chính thức. 2

3.  Điều kiện kinh doanh đang bị lạm dụng. 3

4.  Khi nào nhà nước nhường chỗ cho tư nhân?. 5

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 6

5.  Hòa Bình: Cán bộ “om” hồ sơ khiến doanh nghiệp khốn đốn. 6

6.  Nghệ An: Xuống tận xã, phường làm thủ tục cấp chứng minh nhân dân. 7

7.  Sơn La: Rà soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm hành chính công. 8

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 9

8.  Liên tục nâng cấp nhiều ứng dụng thuế điện tử. 9


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Trả lời phản ảnh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trong thời hạn 20 ngày

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định số 574/QĐ-TTg ban hành Quy chế tiếp nhận, trả lời phản ảnh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Theo đó, nội dung phản ảnh, kiến nghị gồm: 1- Hành vi chậm trễ, gây phiền hà hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng quy định của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết thủ tục hành chính; 2- Những cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính không phù hợp với thực tế, không đồng bộ, không thống nhất, không hợp pháp, trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; 3- Những giải pháp, sáng kiến ban hành mới quy định về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân.

Để gửi phản ảnh, kiến nghị, người dân truy cập vào địa chỉ http://nguoidan.chinhphu.vn; doanh nghiệp truy cập vào địa chỉ http://doanhnghiep.chinhphu.vn.

Theo quy định, phản ảnh, kiến nghị gửi qua Hệ thống thông tin phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt; thể hiện rõ nội dung phản ảnh, kiến nghị; có đầy đủ thông tin về tên, địa chỉ liên hệ, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử của người dân, doanh nghiệp gửi phản ảnh, kiến nghị.

Trên cơ sở các phản ảnh, kiến nghị được Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chuyển thông qua Hệ thống thông tin, cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu, xử lý hoặc phối hợp xử lý phản ảnh, kiến nghị theo quy trình được quy định tại Điều 14, Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14-2-2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ảnh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.

Thời hạn xử lý, trả lời phản ảnh, kiến nghị là 20 ngày kể từ ngày nhận được phản ảnh, kiến nghị. Trường hợp hết thời hạn này mà chưa xử lý xong, định kỳ cứ sau 7 ngày các bộ, ngành, địa phương cập nhật tình hình xử lý vào Hệ thống thông tin để thông tin cho người dân, doanh nghiệp. Đối với các phản ảnh, kiến nghị có kết quả xử lý, trong thời hạn hai ngày làm việc các bộ, ngành, địa phương cập nhật kết quả vào Hệ thống thông tin để trả lời cho người dân, doanh nghiệp.

Văn phòng Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước được phân công xử lý, trả lời phản ảnh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp có trách nhiệm cập nhật, đăng tải công khai kết quả trả lời trên Hệ thống thông tin theo các hình thức được quy định tại Điều 19, Nghị định số 20/2008/NĐ-CP. (Quân Đội Nhân Dân 2/5) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Doanh nghiệp vẫn lo ngại chi phí không chính thức

Theo đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), những khó khăn đối với doanh nghiệp trong các thủ tục hải quan vẫn còn khá nhiều, đặc biệt là chi phí không chính thức.

Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết:  So với năm 2 năm trước, tỷ lệ doanh nghiệp không bị phân biệt đối xử dù không chi phí "lót tay" đã có diễn biến tích cực. Theo đó, có tới 44% doanh nghiệp cho biết: không bị phân biệt đối xử nếu không “lót tay” cho cán bộ hải quan, tỉ lệ doanh nghiệp bị phân biệt đối xử đã giảm mạnh từ 31% (năm 2015) xuống còn 17% (năm 2016).

Tuy nhiên, theo đại diện VCCI, những khó khăn đối với doanh nghiệp trong các thủ tục hải quan vẫn còn khá nhiều, đặc biệt là chi phí không chính thức (chi phí ngoài quy định theo trong khảo sát 2016). Cụ thể, vẫn có 31% số doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính hải quan. Khoảng 31% doanh nghiệp trả lời không biết và 38% doanh nghiệp cho biết không chi trả.

So với kết quả điều tra năm 2015, thì tỷ lệ chi trả chi phí không chính thức năm 2016 đã tăng từ 28% lên 31%. Trong khi đó, nhóm không chi thêm chi phí ngoài quy định chỉ tăng thêm 1 điểm % so với năm 2015. “Việc chi phí ngoài quy định quá nhiều là do nhiều khâu doanh nghiệp phải trực tiếp làm việc với phía hải quan. Đây “điểm nghẽn” của đại đa số doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu”, ông Tuấn nói.

Báo cáo đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan 2016 mới đây cũng cho biết, phần đông các doanh nghiệp đều cho rằng, thực hiện những thủ tục hành chính không quá khó, chỉ ở mức bình thường. Thủ tục nộp thuế là lĩnh vực dễ thực hiện nhất với tỷ lệ đạt 29%, tiếp đến là kiểm tra hồ sơ đạt 12%. Tuy nhiên, một số thủ tục vẫn còn được đánh giá là khó thực hiện chiếm tỷ lệ cao như thủ tục hoàn thuế (29%), thủ tục xét miễn thuế (26%) và giải quyết khiếu nại (21%).

Theo Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Tổng cục Hải quan) Phùng Thị Bích Hường, sau hơn 3 năm thực hiện các Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ, ngành hải quan không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan, đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Đến nay, ngành Hải quan đã đề xuất cắt giảm 61 thủ tục, đơn giản hóa 127 thủ tục hành chính về hải quan. Gần đây, Tổng cục đã tham mưu Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Đề án giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Bên cạnh đó, ngành hải quan đã chủ động triển khai kết nối chính thức Cơ chế một cửa quốc gia với 11/14 bộ, ngành, với 37 thủ tục, thu hút hơn 9.000 DN tham gia. Đã ký kết thu thuế điện tử với 35 ngân hàng thương mại, số thu chiếm hơn 90% số thu ngân sách của ngành Hải quan. Thực hiện thu thuế điện tử thông qua Cổng thanh toán điện tử đã giảm thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp từ 2 ngày xuống còn 15 phút... (TTXVN/Tin Tức 3/5) Về đầu trang

Điều kiện kinh doanh đang bị lạm dụng

Điều kiện kinh doanh bất hợp lý làm nản lòng người muốn đầu tư, triệt tiêu nguồn lực doanh nghiệp (DN). Phải chăng Việt Nam đang thất bại trong việc cải cách điều kiện kinh doanh khi mà sau nhiều năm nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh, loại bỏ giấy phép con, xóa bỏ những điều kiện kinh doanh vô lý thì gần đây lại có thêm nhiều điều kiện kinh doanh khác khiến DN phản ứng mạnh.

Có những quy định đang khiến DN bức xúc. Đó là quy định bắt buộc DN sản xuất mũ bảo hiểm phải đáp ứng đầy đủ trang thiết bị để sản xuất hoàn chỉnh một chiếc mũ bảo hiểm. Tức là DN sản xuất mũ bảo hiểm phải tự sản xuất mút xốp của mũ bảo hiểm thay vì có thể mua từ các DN chuyên sản xuất mút xốp.

Như vậy, DN phải đầu tư thêm dây chuyền sản xuất, mà để đặt dây chuyền sản xuất thì phải thêm diện tích xưởng, thêm nhân công vận hành… kéo theo đó là rất nhiều vấn đề khác liên quan… Những quy định này đang hạn chế tính sáng tạo, ngăn cản DN tham gia theo chuỗi – một xu hướng mà chúng ta đang muốn xây dựng để DN Việt tăng cao năng lực cạnh tranh tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu

Đó là quy định xe taxi phải được kiểm định, phải lắp đồng hồ trên xe, đăng ký tần số sóng, giấy phép tần số, lái xe phải được tập huấn… Những điều kiện kinh doanh đang giết chết sự sáng tạo của taxi truyền thống.

Đó là có quy định người đứng đầu cơ sở in phải “được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hoạt động in”, nhập khẩu thiết bị in phải xin giấy phép…đang khiến các DN trong ngành khốn đốn 2 năm qua.

Đây cũng là vấn đề đã xảy ra với các DN kinh doanh gas, DN xuất khẩu gạo. Những điều kiện ngặt nghèo quá bất hợp lý đã buộc DN phải “lách”, như Công ty Cỏ May phải sang Singapore thành lập Công ty Cỏ May Singapore để ủy thác cho Cỏ May Singapore nhập khẩu gạo của chính Cỏ May và cho khách hàng. Những điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam.

Và còn nhiều những quy định, những điều kiện đang làm khổ DN. Những điều kiện đó được ban hành một phần do quản lý nhà nước ở các cấp chưa theo kịp các thông lệ chung của quốc tế, và do sợ “không quản được” thì phải “ngăn”…

“Điều kiện kinh doanh đang bị lạm dụng. Từ năm 2003 đến nay Việt Nam đã thất bại trong việc cải cách điều kiện kinh doanh. Hàng loạt điều kiện đã được bãi bỏ cũng quay trở lại”, ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nói.

Nhưng đáng ngại là chính trong xã hội cũng đang có tư duy lạm dụng điều kiện kinh doanh. Ngay như trong hội nghị bàn cách giải cứu ngành nuôi lợn thì một DN hiến kế “ cần quy định ngành này là ngành kinh doanh có điều kiện, không thể cứ “muốn” là “mở”, vì có tới 50% hộ chăn nuôi là nhỏ lẻ nên khó kiểm soát họ tăng đàn và làm nảy sinh các vấn đề về môi trường”.

Cả nước đang có 3 triệu hộ chăn nuôi nhỏ. Cái kế như DN vừa hiến khiến bà Phạm Chi Lan lập tức phải lên tiếng: “kinh tế thị trường thì chỉ những ngành nghề thật sự thiết yếu mới đưa vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Nếu chăn nuôi cũng đưa vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì khác nào giết hết các cơ hội của các hộ kinh doanh nhỏ lẻ chỉ để cho các DN sống. Như thế thì không thể được”.

Đã và vẫn có tình trạng cơ quan quản lý áp đặt quá mức cần thiết các điều kiện kinh doanh. Những kiểu điều kiện như phải có số năm kinh nghiệm làm việc… chính là những rào cản ra nhập thị trường.

Rất mừng là đã có những dự thảo mới sửa đổi các điều kiện bất cập trong kinh doanh gas, trong ngành in… đang được soạn thảo. Nhưng vẫn còn hàng nghìn điều kiện kinh doanh vẫn còn tồn tại. Và nếu vẫn còn những tư duy kiểu “không thể cứ muốn là mở… phải có kiểm soát…” thì sẽ có bao nhiêu điều kiện kinh doanh mới sẽ lại ra đời nếu tình trạng lạm dụng điều kiện kinh doanh không được ngăn chặn.

Điều kiện kinh doanh chỉ cần phải có khi hoạt động kinh doanh đó phải có nguy cơ gây rủi ro cho xã hội, người tiêu dùng. Và điều kiện kinh doanh đó được đưa ra phải không tạo thêm chi phí cho DN, không hạn chế sáng tạo, phát triển khoa học kỹ thuật. Nhưng cũng không phải “cứ có rủi ro là phải có can thiệp bằng điều kiện”, ông Hiếu phát biểu.

“Điều kiện kinh doanh là cần thiết cho hoạt động quản lý nhà nước nếu lạm dụng sẽ gây cản trở cho sự phát triển của xã hội. Hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay có quá nhiều công cụ để quản lý, và có nhiều cách khác vẫn tạo thuận lợi cho DN mà vẫn đạt mục tiêu quản lý nhà nước”, theo ông Hiếu.

 “Những điều kiện kinh doanh dày đặc đó cũng gây ra các hệ quả như giảm tính cạnh tranh thị trường, tăng cơ hội độc quyền, giảm tính năng động, sáng tạo, đổi mới của DN, tạo ra nguy cơ tiêu cực, nhũng nhiễu...”, ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát biểu.

Tình trạng lạm dụng điều kiện kinh doanh đang làm nản lòng những người muốn đầu tư, kìm hãm và triệt tiêu các nguồn lực khi DN không được giải phóng năng lượng và làm cho nguồn lực trong dân không được khai thác triệt để. Chúng khiến cho rủi ro tăng lên, chi phí không chính thức khó giảm. (Thời Báo Ngân Hàng 3/5) Về đầu trang

Khi nào nhà nước nhường chỗ cho tư nhân?

“Cai sữa cho 55.000 đơn vị sự nghiệp công và 2,1 triệu viên chức” là thông điệp mạnh mẽ phát đi từ cuộc họp của Ban Chỉ đạo Nhà nước về đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập vào tuần trước.

Làm thế nào để các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ được, không “ăn bám” ngân sách là vấn đề đã được bàn bạc suốt hơn 2 thập niên qua, được đưa vào nhiều chương trình cải cách.

Nhưng hiệu quả các chương trình cải cách vẫn là dấu hỏi bởi càng cải cách, càng hô hào “tinh giản”, “tự chủ” thì biên chế càng tăng. Ngân sách nhà nước cung cấp cho khối này thay vì giảm thì ngày càng nặng gánh hơn.

Một điểm nổi bật phải lưu ý là bất chấp những kêu gọi, quyết tâm và các chương trình cải cách hành chính, càng “tinh giản”, số lượng biên chế lại càng tăng ở tất cả các nhóm nhân sự, trong đó tăng mạnh nhất chính là nhóm viên chức.

Viên chức là những người được tuyển dụng để làm việc cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ công như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học...

Trong 10 năm, từ 2002 - 2012, trong khi số lượng công chức tăng từ 200.784 người năm 2002 lên 273.617 người (thêm 72.833 người) thì số lượng viên chức tăng từ 1.269.337 người năm 2002 lên 1.872.041 năm 2012 và đến nay là 2.161.000 người [1].

Tuy nhiên trong 2 nhóm nêu trên, sự gia tăng của lực lượng công chức là cần thiết và có thể chấp nhận được.

Cùng với sự gia tăng quy mô và tính phức tạp của nền kinh tế, các dịch vụ hành chính công gia tăng, yêu cầu điều tiết thị trường của Nhà nước gia tăng, mối quan hệ giữa Nhà nước - doanh nghiệp và công dân cũng sẽ gia tăng.

Do đó, số lượng công chức nhằm thực hiện các dịch vụ hành chính công giữa Nhà nước - người dân, doanh nghiệp tăng thêm là xu thế hợp lý. Thậm chí nếu tính về tỉ lệ số lượng công chức hành chính (thời điểm 2012) so sánh với dân số chỉ ở mức 0,6% còn là một tỉ lệ thấp so với các quốc gia khác (chẳng hạn tỉ lệ này ở Mỹ là 2,4%).

Điều đáng lo ngại nhất chính là sự tăng mạnh của nhóm viên chức trong khu vực sự nghiệp. Đối với nhóm này, mục tiêu tinh giản không những không đạt được mà “biên chế” càng ngày lại càng phình lên. Do đó, lựa chọn cải cách khối sự nghiệp công là lựa chọn đúng đắn.

Trong đó xác định bảy nhóm đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực: kinh tế; giáo dục - đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ làm lĩnh vực ưu tiên cho cải cách như nghị định số 16/2015/NĐ-CP đề ra là lựa chọn đúng.

Tuy nhiên, sự thất bại của các nỗ lực giảm biên chế cho thấy cách tiếp cận giải quyết bằng cơ chế “tự chủ ngân sách” mới chỉ là giải pháp tình thế nhằm giải quyết phần nổi vấn đề.

“Tự chủ” nhưng nếu số lượng các đầu mối - các đơn vị sự nghiệp công lập - vẫn tăng, số lượng viên chức vẫn tăng đều đặn như suốt thời gian dài vừa qua thì “vấn đề khu vực sự nghiệp công” vẫn còn nguyên đó. “Tự chủ” không làm khu vực dịch vụ công nhỏ đi, không làm tiết kiệm ngân sách.

Tự chủ - đơn giản chỉ giúp ngân sách tạm thời không bị nặng gánh thêm. Còn bộ máy, còn con người - tức là vẫn tiêu tốn ngân sách - hãy còn nguyên đó.

Do đó, cái gốc của vấn đề là xác định lại vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công. Câu hỏi căn bản là dịch vụ công gì, ở địa bàn nào bắt buộc Nhà nước phải cung cấp. Trên nguyên tắc đó, dịch vụ nào không cần Nhà nước làm cần kiên quyết cắt bỏ, chứ không chỉ là giao “tự chủ”. (Tuổi Trẻ cuối tuần 3/5) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hòa Bình: Cán bộ “om” hồ sơ khiến doanh nghiệp khốn đốn

Mới đây, Báo Pháp luật Việt Nam nhận được thông tin từ người dân tại xóm Đông Lạnh, xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình , tỉnh Hòa Bình phản ánh về việc bị nguyên lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình nhũng nhiễu, hạch sách trong quá trình người dân thực hiện thủ tục hành chính.

Theo đó, ông Trần Đức Thịnh trú tại Xóm Đông Lạnh - xã Hòa Bình - thành phố Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình là chủ một cơ sở sản xuất đũa tố cáo ông Lê Quang Huân ( trước đây giữ chức vụ Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường – thành phố Hòa Bình, hiện tại đang giữ chức vụ Chủ tịch UBND phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình), đã có hành vi nhũng nhiễu, hạch sách, om hồ sơ của ông Trần Đức Thịnh.

Cũng theo ông Thịnh, việc ông Lê Quang Huân “om” hồ sơ đã khiến gia đình ông Thịnh rơi vào tình cảnh vô cùng khó khăn, xưởng sản xuất chỉ có thể hoạt động theo quy mô hộ gia đình với 1/3 công suất, số trang thiết bị đã mua sắm trước đó vẫn trong tình trạng đắp chiếu, trong khi đó, hàng tháng, gia đình ông vẫn phải trả khoản lãi vay gần 10 triệu đồng.

Sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh của bạn đọc, phóng viên đã có buổi làm việc với Phòng TNMT thành phố Hòa Bình. Đại diện đơn vị này xác nhận, vào thời điểm năm 2014, ông Lê Quang Huân là Phó phòng TNMT thành phố Hòa Bình phụ trách lĩnh vực môi trường và là người thụ lý hồ sơ của ông Trần Đức Thịnh.

Cùng với đó, Đại diện phòng TNMT TP Hòa Bình cho biết, đối với đề án bảo vệ môi trường đơn giản như của ông Thịnh thì sau khi hoàn tất các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, người dân nộp đề án tại bộ phận một cửa của UBND Thành phố Hòa Bình và chờ trong 10 ngày làm việc, nếu đề án đủ điều kiện là có thể tới bộ phận một cửa để lấy lại xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản. Đồng thời, thủ tục này người dân không hề mất phí.

Quay trở lại sự việc ông Huân bị tố cáo là nhũng nhiễu, om hồ sơ của doanh nghiệp, theo quy định, sau khi được luân chuyển công tác tại đơn vị khác, ông Huân phải bàn giao lại toàn bộ văn bản cho phòng TN&MT. Thế nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông Huân lại mang bản xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản của ông Thịnh về đơn vị công tác mới. Thật khó hiểu khi bản đề án này đã được lãnh đạo UBND Thành phố Hòa Bình ký xác nhận, nhưng ông Huân lại không hề cung cấp cho người dân và phải 2 năm sau mới cung cấp khi văn bản này đã không thể có hiệu lực. (Pháp Luật Việt Nam 3/5) Về đầu trang

Nghệ An: Xuống tận xã, phường làm thủ tục cấp chứng minh nhân dân

Thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng hình ảnh người chiến sỹ Công an trên quê hương Bác Hồ bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” và Chương trình "Thứ bảy vì dân", từ ngày 15/4, Công an thị xã Thái Hòa tiến hành xuống các phường, xã làm thủ tục cấp chứng minh nhân dân cho nhân dân.

Theo đó, Đoàn thanh niên Công an thị xã phối hợp với Đội quản lý hành chính về trật tự xã hội trực tiếp xuống địa bàn các xã, phường để tiến hành làm các thủ tục cấp chứng minh nhân dân cho người dân. Đặc biệt, Đoàn đã đến từng nhà làm thủ tục cấp chứng minh nhân dân miễn phí cho người già, ốm đau và có hoàn cảnh khó khăn. Hiện, Công an thị xã đã triển khai thực hiện được 4/10 đơn vị phường, xã.

Đây là hoạt động thường xuyên, mang nhiều ý nghĩa, được chính quyền địa phương, nhân dân ghi nhận và ủng hộ, xây dựng hình ảnh đẹp của cán bộ, chiến sĩ Công an thị xã Thái Hòa. (Công An Nghệ An Online 3/5) Về đầu trang

Sơn La: Rà soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm hành chính công

Sáng ngày 02/5, đồng chí Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì cuộc họp rà soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo Quyết định 850 ngày 7/4/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt danh mục thủ tục hành chính tiếp nhận và trả kết quả tại Trung tâm hành chính công tỉnh. Đồng chí Nguyễn Quốc Khánh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo các Sở, ban, ngành của tỉnh đã tham dự cuộc họp.

Theo Quyết định 850 của Chủ tịch UBND tỉnh, các sở, ngành có trên 1 nghìn thủ tục hành chính. Qua rà soát xác định có 253 thủ tục hành chính trình qua Văn phòng UBND tỉnh, còn lại thuộc thẩm quyền của các đơn vị sở, ngành của tỉnh. Tại cuộc họp, các đại biểu đã thảo luận về phương pháp, cách thức, thời gian tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính và trả kết quả.

Các sở, ngành cũng cơ bản nhất trí thực hiện rà soát, đối chiếu lại bộ thủ tục hành chính của các sở, ngành đã công bố và danh mục thủ tục hành chính theo Quyết định 850 của UBND tỉnh, trong đó tập trung thực hiện rà soát, thống kê, xác định rõ số lượng thủ tục hành chính và thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm hành chính công.

Cụ thể là đối với thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền Chủ tịch UBND tỉnh và thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền UBND tỉnh do Phó chủ tịch UBND tỉnh ký không quá 5 ngày làm việc. Đối với các thủ tục hành chính phải trình các cơ quan có thẩm quyền thì Văn phòng UBND tỉnh cùng với các sở, ngành rà soát, thống kê, thảo luận, thống nhất từng loại thủ  tục hành chính, từng thời gian cụ thể để đưa vào phần mềm quản lý sau 1 tháng khai trương.

Đồng chí Cầm Ngọc Minh nhấn mạnh, trong thời gian đầu thực hiện không tránh khỏi lúng túng, thiếu sót, vì vậy các ngành tiếp tục rà soát, bàn các giải pháp và rút kinh nghiệm thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tránh phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp.

Đối với các thủ tục hành chính liên quan đến trách nhiệm của Văn phòng UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh, các thành viên UBND, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, các đơn vị phải thẩm định, trình không quá 5 ngày. Đây là điều kiện bắt buộc đối với các sở, ngành và chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh và giám đốc sở ngành phải chịu trách nhiệm nếu hồ sơ không đạt yêu cầu. (Đài Phát thanh – Truyền hình 3/5) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Liên tục nâng cấp nhiều ứng dụng thuế điện tử

Những năm gần đây, ngành Thuế liên tục nâng cấp các ứng dụng thuế điện tử đảm bảo sự tiện lợi, thân thiện với người dùng.

Hệ thống quản lý thuế tập trung TMS là hệ thống công nghệ thông tin chính thức và duy nhất hỗ trợ cơ quan Thuế các cấp quản lý các loại thuế. TMS không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc đầu tư trang thiết bị mà còn tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế khi tiến hành khai thác, tổng hợp các số liệu sẽ nhanh chóng, chính xác.

Do vậy, ngành Thuế đã liên tiếp thực hiện nâng cấp, hoàn thiện hệ thống quản lý thuế này và tiếp tục xử lý các vướng mắc về quy định nghiệp vụ về kê khai, nộp thuế, hạch toán kế toán thuế làm thiếu dữ liệu. Đồng thời, cơ quan Thuế đã thực hiện kiểm thử ứng dụng trước khi triển khai trên cơ sở các yêu cầu nghiệp vụ đã được phân tích (thay đổi quy tắc hạch toán tờ khai thuế Giá trị gia tăng, các công cụ hỗ trợ chuyển đổi, mẫu sổ thuế mới).

Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, TMS đã tạo cơ sở nền tảng để đảm bảo tính thống nhất về nghiệp vụ, quy trình xử lý trong cả nước. Dữ liệu thông tin được hạch toán đầy đủ, chính xác của TMS đã đáp ứng cơ bản các nghiệp vụ quản lý thuế cốt lõi, đặc biệt đáp ứng yêu cầu thí điểm chế độ kế toán thuế nội địa, hỗ trợ tổng hợp và cung cấp dữ liệu quản lý thuế nhanh và tạo điều kiện để mở rộng các dịch vụ điện tử cung cấp cho người nộp thuế.

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống TMS, ngành Thuế cũng đang triển khai các công việc phục vụ nâng cấp cổng thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ thuế điện tử cho người nộp thuế như: Xây dựng các yêu cầu nghiệp vụ về đăng ký thuế, kê khai thuế, hoàn thuế, nộp thuế và các Thông báo cơ quan Thuế gửi người nộp thuế bằng điện tử. Nhất là công tác khai thuế và nộp thuế điện tử đã phát huy được thế mạnh qua việc trong tháng quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế Thu nhập cá nhân vừa qua. Số liệu thống kê của cơ quan Thuế cho thấy có đến gần 99% người nộp thuế đã thực hiện khai và nộp thuế điện tử, nhờ vậy công tác quyết toán thuế trực tiếp tại các Cục Thuế đã được giảm tải đáng kể.

Hiện Tổng cục Thuế đang đề xuất triển khai, nâng cấp ứng dụng về thông báo 2 bước về tình hình xử lý hồ sơ khai thuế của người nộp thuế tại cơ quan Thuế theo quy định tại Thông tư số 110/2015/TT-BTC về hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Về hoàn thuế Giá trị gia tăng điện tử, theo Tổng cục Thuế, ngành Thuế đang tiếp tục triển khai áp dụng thí điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết hoàn thuế Gía trị gia tăng bằng phương thức điện tử tại 11 Cục Thuế tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Kon Tum, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc, Bình Thuận, Thái Nguyên. Sang tháng 5, ứng dụng này sẽ được mở rộng ra toàn quốc.

Đáng chú ý, thực hiện cải thiện môi trường kinh doanh, góp phần thúc đẩy Chính phủ điện tử, Tổng cục Thuế đang tích cực phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện cấp mã số thuế tự động cho doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp sau thành lập. Cơ quan Thuế đã thực hiện lấy ý kiến các Cục Thuế địa phương qua thư điện tử của ngành về tổng hợp kết quả triển khai thực hiện rà soát dữ liệu doanh nghiệp năm 2016 và các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện rà soát, chuẩn hóa, đồng bộ dữ liệu.

Thời gian tới, việc cấp mã số thuế sẽ được thực hiện trên nền tảng điện tử, nhanh gọn và đơn giản hơn, giảm phiền hà cho doanh nghiệp. (Hải Quan 1/5)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.055.016 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này