Bản tin cải cách hành chính ngày 24/11/2017

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Đo sự hài lòng của dân với cơ quan hành chính phải tiến hành hàng năm.. 1

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 2

2.  Quảng Ninh: Tháo gỡ khó khăn về hành chính cho người dân. 2

3.  Khánh Hòa: Sở Tài nguyên và Môi trường tập huấn cải cách hành chính. 3

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 3

4.  Cục Đường thủy tiếp nhận phản ánh vi phạm qua facebook. 3

5.  Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Khai trương Cổng Dịch vụ công trực tuyến. 4

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 5

6.  “Điền tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ là bước tiến của cải cách hành chính”. 5

7.  Lo giấy phép con, cháu mọc lên như nấm.. 6

8.  Lạm dụng dấu mật! 8

9.  Sai lỗi hành chính, doanh nghiệp kêu bị phạt hàng triệu USD.. 9


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Đo sự hài lòng của dân với cơ quan hành chính phải tiến hành hàng năm

Ngày 23/11, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị quán triệt Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (gọi tắt là đo lường sự hài lòng) giai đoạn 2017 - 2020” được phê duyệt bằng Quyết định 2640/QĐ-BNV.

Với Hội nghị này, Bộ Tư pháp là Bộ đầu tiên quán triệt Đề án 2640 và các đại biểu tham dự đã nghiêm túc thảo luận, bảo đảm tới đây sẽ triển khai Đề án một cách hiệu quả.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Phó Chánh Văn phòng Bộ Tư pháp Nguyễn Quốc Hoàn nhấn mạnh, đo lường sự hài lòng là nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua đây, các cơ quan hành chính nhà nước nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức, từ đó có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung ứng dịch vụ của mình để nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức.

Ông Hoàn chia sẻ khó khăn trong thực hiện đo lường sự hài lòng vì sự hài lòng này vốn là “chỉ số cảm xúc”, phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá của người dân. Vì vậy, việc quán triệt Đề án 2640 sẽ giúp Bộ Tư pháp hiểu rõ đối tượng tham gia, tiêu chí đo lường và những nội dung liên quan đến Bộ Tư pháp, nhất là sắp tới Bộ cũng sẽ nghiên cứu xây dựng Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp.

Thay thế Quyết định 1383 ban hành cuối năm 2012, tháng 10 vừa qua, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định 2640 phê duyệt Đề án “Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017 - 2020”. Theo quy định mới, các yếu tố đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức bao gồm 5 yếu tố cơ bản với 22 tiêu chí.

Giới thiệu về Đề án 2640, bà Nguyễn Thị Thu Hằng (Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ) so sánh, quy định mới có 22 tiêu chí, nhiều hơn ở văn bản ban hành năm 2012 khi mà sự hài lòng của người dân với cơ quan hành chính nhà nước chỉ được đánh giá dựa trên 13 tiêu chí. Đề án 2640 cũng cho phép tiến tới phân tích sự hài lòng của người dân dựa trên các thành phần nhân khẩu học qua mẫu phiếu điều tra xã hội học dành cho người dân và tổ chức với thông tin về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nơi sinh sống, loại hình tổ chức…

Đặc biệt, thời gian triển khai Đề án 1383 dư luận cho rằng có sự mâu thuẫn giữa việc đánh giá thủ tục hành chính không tốt nhưng người dân vẫn hài lòng với sự phục vụ của cơ quan Nhà nước. Để khắc phục bất cập này, theo bà Hằng, Đề án 2640 chia thành 5 mức đánh giá (từ rất hài lòng, hài lòng đến chưa hài lòng…), vừa công bằng cho các cơ quan Nhà nước, vừa giúp người dẫn dễ lựa chọn mức độ đánh giá của mình.

Hoan nghênh sự vào cuộc khẩn trương của Bộ Tư pháp, bà Hằng mong muốn việc triển khai của Bộ Tư pháp sẽ bám sát vào Đề án mới, bảo đảm sự thống nhất và trong quá trình đánh giá cùng nhau khắc phục những điểm hạn chế, phát huy những điểm mạnh của Đề án 2640.

Đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đã nêu lên một số băn khoăn. Giải đáp những câu hỏi trên, bà Hằng nhấn mạnh thêm, đo lường sự hài lòng đã có chỉ đạo của Chính phủ và Đề án 2640 cũng quy định phải đánh giá hàng năm. (Pháp Luật Việt Nam 24/11, tr5) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Ninh: Tháo gỡ khó khăn về hành chính cho người dân

 

Đã có hơn 130 thủ tục hành chính ở tỉnh Quảng Ninh được giải quyết thông qua mạng Internet. Theo đó, người dân chỉ cần một máy tính nối mạng Internet, giờ đã có thể nộp và nhận nhiều loại thủ tục hành chính ngay tại nhà.

Việc đổi mới trong cải cách thủ tục hành chính không những tiết kiệm được thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp mà còn là cơ sở để hoàn thiện chính quyền điện tử với nhiều tiện ích, minh bạch hơn.

Nếu như trước đây, để giải quyết bất kỳ thủ tục hành chính nào, người dân buộc phải trực tiếp đến cơ quan chính quyền, thông qua nhiều cấp với nhiều lần đi lại. Tuy nhiên, với cấp độ 4, người dân có thể hoàn toàn tự giải quyết ở nhà thông qua mạng Internet.

Giải quyết thủ tục hành chính ở cấp độ 4 không những tạo được sự minh bạch mà còn tiết kiệm cho người dân, đặc biệt ở những nơi xa trung tâm. Tuy nhiên theo các đơn vị hành chính công, khi giải quyết thủ tục hành chính lên cấp độ 4, tức là mọi việc đều giải quyết trên mạng nên cũng có thể phát sinh những nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác thẩm định giấy tờ.

Cũng theo đại diện các trung tâm hành chính công, hiện khó khăn nhất vẫn là vấn đề tiếp cận của người dân, khi trình độ, cở sở hạ tầng mạng vẫn chưa đồng đều, thậm chí nhiều nơi vẫn còn đang là điểm trắng về công nghệ thông tin. (Kênh VTV1 – Bản tin Thời sự lúc 16h ngày 23/11) Về đầu trang

Khánh Hòa: Sở Tài nguyên và Môi trường tập huấn cải cách hành chính

Sáng 23/11, tại thành phố Nha Trang, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Phòng Công nghiệp và Thương mại (VCCI) Khánh Hòa tổ chức hội nghị tập huấn thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI.

Theo thống kê, chỉ số tiếp cận đất đai của Khánh Hòa năm 2016 chỉ xếp thứ 59/63 tỉnh thành, 89% doanh nghiệp cho biết gặp khó khi mở rộng mặt bằng kinh doanh và các vấn đề về đất đai. Trong đó, nguyên nhân chính vẫn là thủ tục hành chính với 67% doanh nghiệp đồng tình.

Hội nghị tập trung vào một số nội dung chính về phân tích môi trường kinh doanh tại Khánh Hòa, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ làm trong lĩnh vực đất đai tại địa phương. Đồng thời, VCCI cũng đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện môi truờng kinh doanh tại Khánh Hòa như cải cách những lĩnh vực thủ tục hành chính mà doanh nghiệp gặp nhiều phiền hà nhất, minh bạch trong tiếp cận thông tin, giảm bớt gánh nặng thanh kiểm tra, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, tăng cường đối thoại với doanh nghiệp. (Đài Phát thanh – Truyền hình Khánh Hòa ngày 23/11) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cục Đường thủy tiếp nhận phản ánh vi phạm qua facebook

Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam đã ban hành quy trình xử lý thông báo vi phạm trong lĩnh vực đường thủy. Theo đó, quy định thông tin được phản ánh tới trang facebook "Cục Đường thủy nội địa Việt Nam và An toàn đường thủy" qua ứng dụng trên điện thoại di động Viwa Alert sẽ là nguồn tin chính thức được tiếp nhận, phân tích và xử lý theo quy trình chung.

Ngoài ra, 3 kênh tiếp nhận thông tin chính thống khác là: email, điện thoại bàn (0243.8451.888), tin nhắn qua điện thoại di động của Cục (0942.107.474). Theo quy trình chung, các thông tin được phản ánh qua nguồn trên được tích hợp về đầu mối phần mềm Văn phòng điện tử của Cục Đường thủy nội địa Việt Nam và được phân chia, xử lý tùy theo tính chất thông tin và phạm vi trách nhiệm của các đơn vị trong hệ thống của Cục.

Quy trình trên nhằm xác định đúng thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, bộ phận, đơn vị trong việc xử lý thông tin.

Trước đó, ứng dụng điện thoại di động Viwa Alert là phần mềm do Cục Đường thủy nội địa Việt Nam xây dựng, cung cấp miễn phí, thí điểm từ tháng 8.2017. Người dùng chỉ cần xuống, khi cần phản ánh về vấn đề liên quan đến giao thông đường thủy chỉ cần chụp ảnh, dùng ứng dụng để dễ dàng gửi thông tin kèm hình ảnh đến Cục Đường thủy nội địa Việt Nam. Ứng dụng sẽ tự động xác định tọa độ, vị trí bức ảnh. (Đại Biểu Nhân Dân 24/11, tr7) Về đầu trang

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Khai trương Cổng Dịch vụ công trực tuyến

Chiều 23/11, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Lễ khai trương Cổng Dịch vụ công trực tuyến. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam dự và phát biểu.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, quá trình triển khai Cổng Dịch vụ công trực tuyến được thực hiện theo phương thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin. Việc vận hành Cổng nhằm mục tiêu nâng cao hoạt động hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và tổ chức trong việc tiếp cận thủ tục hành chính. Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và góp phần nâng cao Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam.

Cũng theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, việc xử lý hồ sơ trực tuyến đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, trong đó riêng đối với lĩnh vực quản lý lao động ngoài nước, năm 2017, số lượng hồ sơ được xử lý trực tuyến là trên 30.000, đạt trên 90% tổng số hồ sơ tiếp nhận. Đối với dịch vụ công trực tuyến Cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đến nay đã tiếp nhận, xử lý hơn 5.000 hồ sơ điện tử và được triển khai đến 40 Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố.

Cho đến nay, Cổng đã kết nối với 5 dịch vụ công trực tuyến triển khai trong năm 2016 thuộc 3 lĩnh vực: Quản lý lao động ngoài nước; An toàn lao động; Việc làm. Năm 2017, Bộ LĐTB&XH đang triển khai xây dựng 9 dịch vụ công trực tuyến và Cổng Dịch vụ công trực tuyến hiện đã sẵn sàng kết nối với các dịch vụ công trực tuyến nêu trên.

Dự kiến trong thời gian tới, Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ sẽ tiếp tục được triển khai kết nối lĩnh vực quan hệ lao động. Đến năm 2018 kết nối lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, năm 2019, kết nối toàn bộ các lĩnh vực còn lại của bộ, ngành. Cùng với đó Cổng Dịch vụ công trực tuyến của Bộ sẽ triển khai việc chia sẻ dữ liệu liên thông với các bộ, ngành và sẵn sàng liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ. (Thanh Tra 24/11; Pháp Luật Việt Nam 24/11, tr2) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

“Điền tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ là bước tiến của cải cách hành chính”

“Việc điền tên đầy đủ các thành viên trong hộ gia đình không làm phát sinh những vấn nạn rắc rối, ngược lại, điều đó còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong cùng một hộ gia đình”, luật sư Phạm Công Út trao đổi với BizLIVE.

Theo Thông tư 33/2017/TT-BTNMT có hiệu lực từ ngày 5/12/2017, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) sẽ ghi tên các thành viên trong gia đình cùng sử dụng đất.

Cụ thể, đối với hộ gia đình sử dụng đất sẽ ghi “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Dòng tiếp theo ghi “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với… (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)”.

Xung quanh quy định trên, trao đổi với BizLIVE, luật sư Phạm Công Út, Đoàn Luật sư TP.HCM cho rằng, việc điền thêm tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ là một bước tiến của quá trình cải cách hành chính nhà nước. Vì tới đây, sổ hộ khẩu sẽ được xóa bỏ để chuyển sang thẻ căn cước công dân. Thẻ này chỉ tích hợp thông tin cá nhân của người đứng tên trên căn cước về địa chỉ thường trú của cá nhân đó, không tích hợp các thành viên cùng thường trú với cá nhân đó.

Vậy với quyền sử dụng đất nông nghiệp của một hộ gia đình, theo quy định của luật đất đai thì đó là quyền sử dụng chung hợp nhất của các thành viên trong một hộ gia đình; trong đó bao gồm ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, dâu, rể... tất cả được ghi danh chung trong quyển sổ đỏ, điều đó tránh được vấn nạn trong quá trình thi hành án dân sự sai.

Ví dụ, như bán đấu giá đất đối với người có trách nhiệm phải thi hành án nhưng cơ quan thi hành án dân sự không quan tâm đến các thành viên hộ gia đình, làm thiệt hại đến quyền về tài sản của các thành viên khác trong cùng một hộ gia đình.

Mặt khác, khi định đoạt quyền sử dụng đất cũng không tước đoạt quyền của các thành viên khác không thuộc hàng thừa kế thứ nhất, như cháu, chắt, dâu, rể..., mà phải có sự đồng thuận của các thành viên trong cùng hộ gia đình ấy.

Do đó, việc điền tên các thành viên hộ gia đình trong sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có hai vấn đề chúng ta cần quan tâm, đó là hộ gia đình có đất và hộ gia đình không có đất.

Hộ gia đình có đất thì có tên các thành viên hộ gia đình trong quyển sổ đỏ. Còn hộ không có đất thì không có sổ đỏ để thể hiện các thành viên trong cùng hộ gia đình, mà sổ hộ khẩu được xoá bỏ thì việc điền tên hay không điền tên trong quyển sổ đỏ không mang ý nghĩa thay thế quyển sổ hộ khẩu.

“Như vậy, trước mắt có thể thấy, việc điền tên đầy đủ các thành viên trong hộ gia đình không làm phát sinh những vấn nạn rắc rối, ngược lại, điều đó còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong cùng một hộ gia đình”, luật sư Phạm Công Út nói.

Còn đối với vấn đề quyền sở hữu đối với tài sản khác là các bất động sản, như căn hộ chung cư... thì người chủ căn hộ không cần phải có các thành viên trong cùng hộ gia đình. Vì căn hộ là tài sản sở hữu chứ không còn quyền sử dụng đất.

Do đó, ai tạo lập một hay nhiều căn hộ chung cư thì không cần phải có các thành viên trong cùng hộ gia đình, mà đó có thể là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, hoặc quyền sở hữu căn hộ chung của những người góp vốn.

“Do vậy, với quy định mới này sẽ không gây rắc rối gì trong quá trình mua bán, chuyển nhượng nhà, đất, căn hộ chung cư... mà còn có giá trị hữu hiệu trong việc bảo vệ các quyền dân sự về tài sản của mọi công dân”, luật sư Phạm Công Út khẳng định. (Bizlive.vn 24/11) Về đầu trang

Lo giấy phép con, cháu mọc lên như nấm

Đầu những năm 2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng ký Nghị định 109 bỏ hầu hết điều kiện kinh doanh, nhất là đối với ngành giao thông vận tải. Đó là bước tiến cải cách vô cùng lớn, tạo ra sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp (DN). Thế nhưng sau đó các điều kiện kinh doanh quay trở lại và cho đến nay điều kiện kinh doanh, giấy phép con… mọc như nấm.

Câu chuyện trên được Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), chia sẻ tại tọa đàm: “Cắt giảm điều kiện kinh doanh tại Bộ Công Thương: Tạo thuận lợi cho DN” do Chinhphu.vn tổ chức ngày 22-11.

Theo đó, ngày 20-9, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã ký ban hành quyết định cắt giảm khoảng 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh. Đây là con số được cho là lớn chưa từng có trong lịch sử, chiếm tới 55,5% tổng các điều kiện đầu tư kinh doanh hiện nay của ngành này. Các lĩnh vực có số lượng điều kiện cắt giảm lớn như khí hóa lỏng, xăng dầu, gạo, an toàn thực phẩm, bia, rượu, điện lực…

Hoan nghênh tinh thần đổi mới tư duy quản lý của lãnh đạo Bộ Công Thương, TS Nguyễn Đình Cung cho biết chính ông và các cộng sự đã rà soát lại danh mục các điều kiện cắt giảm mà Bộ Công Thương công bố và con số 675 điều kiện mà bộ này đưa ra là chính xác.

“Giảm điều kiện kinh doanh cũng là giảm yêu cầu vốn đầu tư ban đầu của DN. DN có điều kiện để tập trung vào chuyện kinh doanh thay vì mất thời gian đi lo thủ tục xin giấy phép. Tôi nghĩ rằng cắt giảm như thế này đã giảm dư địa hành DN. Hy vọng với đà này, các bộ ngành khác cũng phải thực hiện như Bộ Công Thương. Đây là sự thay đổi rất lớn và nếu bộ nào cũng làm sẽ tạo bước đột phá” - ông Cung nhận xét.

Tuy nhiên, ông Cung cũng lo ngại trong quá trình thực hiện có thể xảy ra tình trạng tái lập các điều kiện kinh doanh và nguy cơ “mọc thêm” các điều kiện mới. “Nguyên nhân là do trong suốt quá trình khi bỏ các giấy phép con, cơ quan quản lý vẫn mang tư duy và cách thức quản lý tiền kiểm. Ví dụ khi xuất hiện một loại hình kinh doanh mới, lập tức có nhu cầu quản lý. Chính tư duy tiền kiểm nên luôn nghĩ đến điều kiện kinh doanh. Nếu bỏ đi mà không có phương thức quản lý mới thì một vài sự việc xảy ra, người ta bắt đầu phục hồi lại các điều kiện cũ” - TS Cung phân tích.

Đồng quan điểm, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho rằng cần chuyển qua quản lý theo tư duy hậu kiểm dựa trên những tiêu chuẩn, quy chuẩn.

“Trước đây, đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, cơ quan quản lý đặt ra các điều kiện về cơ sở vật chất, vị trí, DN mời cơ quan chức năng đến kiểm tra, nếu thấy đủ điều kiện sẽ được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, hiện nay thay vì DN đến xin giấy phép thì họ chỉ cần làm sao đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn. Cơ quan quản lý sẽ kiểm tra đột xuất trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu DN không tuân thủ quy chuẩn sẽ bị xử lý theo chế tài quy định” - Thứ trưởng Khánh chia sẻ.

Ông Khánh cho biết thêm các bộ, ngành trung ương không thể có đủ lực lượng quản lý 63 tỉnh, TP mà từng địa phương phải chủ động vào cuộc kiểm tra, chuyển đổi từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm. Điều này vừa đảm bảo quản lý nhà nước và chi phí tuân thủ quy định ở mức chấp nhận được.

“Trước đây, địa phương yên tâm vì DN kinh doanh là được Bộ cấp giấy phép rồi. Bây giờ cần thay đổi tư duy đó, Bộ không cấp giấy phép kinh doanh ban đầu nữa mà địa phương phải là nơi kiểm soát xem DN có đáp ứng được không. Đương nhiên, các bộ sẽ đồng hành với địa phương” - Thứ trưởng Khánh nói.

Tán đồng với phương án hậu kiểm nhưng Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung lưu ý công chức quản lý nhà nước địa phương có thể chưa hiểu hết bởi thay đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm là thay đổi về bản chất. “Đặc biệt tôi sợ nguy cơ xảy ra tình trạng trước sự thay đổi thì một số người lo mất quyền lợi. Thông thường họ sẽ có phản ứng chống lại và xảy ra thất bại hoặc cố tình gây ra thất bại. Rồi xu hướng ban hành điều kiện kinh doanh sẽ trở lại” - ông Cung cảnh báo. (Pháp Luật TPHCM 24/11) Về đầu trang

Lạm dụng dấu mật!

Câu chuyện lạm dụng dấu mật một lần nữa lại được “xới” lên khi Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Bí mật nhà nước!

Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước diễn biến rất phức tạp. Tình trạng không công khai, lạm dụng yêu cầu bảo mật thông tin để không công khai hoặc công khai những nội dung không cụ thể, thiếu minh bạch, công khai trong phạm vi hẹp, chậm công khai theo quy định của pháp luật, nhất là kết luận thanh tra, công tác tổ chức cán bộ, công tác quy hoạch, lập dự án theo quy định của pháp luật còn diễn ra khá phổ biến. Việc này ảnh hưởng đến nhà nước, tổ chức công dân, đến công tác phòng, chống tham nhũng rất lớn, đồng thời có thể đẩy người dân, một số hoạt động nghề nghiệp vào tình trạng dễ bị quy chụp.

Là người không ít lần đã phải lên tiếng về tình trạng đóng dấu mật tràn lan, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nhận định, có những văn bản mật của những cơ quan quan trọng đã được chụp đưa lên mạng. Điều này đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của Nhà nước, của quốc gia và các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ngược lại, cũng có tình trạng lạm dụng mật, đóng dấu mật vào những văn bản không mật. Thậm chí, có cơ quan đóng mật vào cả danh sách vụ trưởng hiện hành. Có những bộ đóng dấu mật cả vào chất vấn của ĐBQH, trong khi đó không có thông tin mật khiến cho ĐBQH không thể trả lời cử tri về thông tin mà mình chất vấn được.

Có nhiều nguyên nhân được chỉ ra, trong đó có việc chưa có quy định pháp lý về việc xác định tuyệt mật, tối mật hay mật nên dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Nhiều cơ quan đóng dấu mật nên cơ quan thẩm tra các báo cáo của QH đôi khi rơi vào tình huống “cũng rất lo”, trong khi những văn bản ấy sau khi đối chiếu với các quy định thì đại đa số là không mật. Bà Nga cũng thẳng thắn, danh mục mật của ngành tư pháp rất chậm sửa đổi, vẫn áp dụng từ năm 2004 đến nay làm cho đại biểu rất khó khăn khi tiếp cận văn bản. Trên cơ sở đó, bà Nga đề nghị Chính phủ, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao cập nhật thông tin của các luật mới để tạo thuận lợi cho đại biểu.

Phải khẳng định rằng, việc đặt ra các mức độ mật và bảo vệ bí mật là cần thiết, bởi nói như đại biểu Nguyễn Tiến Sinh (Hòa Bình), bảo vệ bí mật nhà nước cũng là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quốc gia. Tuy nhiên, cần phải có tiêu chí để phân loại về mức độ mật để tránh đóng dấu mật tràn lan, tùy tiện.

Một trong những yêu cầu quan trọng mà cử tri và người dân mong muốn khi Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được ban hành là phải giải quyết hài hòa 2 yêu cầu: Một mặt phải bảo đảm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mặt khác, bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, báo chí và hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong các lĩnh vực. Tất nhiên để bảo đảm hài hòa được cả hai yêu cầu này là một vấn đề rất khó nhưng đó là yêu cầu đặt ra, cần phải giải quyết trong thời điểm hiện tại.

Muốn vậy, trong dự thảo Luật Bí mật nhà nước, chúng ta cần khoanh định và phân định lại cho rõ những vấn đề gì, thông tin gì thuộc loại bí mật nhà nước. Bởi nếu quy định không cụ thể sẽ có thể ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của người dân. (Đại Biểu Nhân Dân 24/11, tr2) Về đầu trang

Sai lỗi hành chính, doanh nghiệp kêu bị phạt hàng triệu USD

Mới đây, ông Shivam Misra, Chủ tịch Tiểu ban Rượu vang - rượu mạnh EuroCham, cho biết, việc lật lại hồ sơ kiểm toán hải quan để truy thu thuế các doanh nghiệp nhập khẩu của cơ quan thuế Việt Nam đã khiến nhiều doanh nghiệp bị phạt oan.

Cụ thể như vừa qua, Tổng cục Hải quan tiến hành kiểm toán lại hồ sơ khai báo nhập khẩu và ra quyết định phạt nhiều doanh nghiệp. Chẳng hạn, Diageo Việt Nam bị phạt đến hàng triệu USD vì lỗi kê khai sai về thủ tục hành chính. “Điều đáng nói là, việc khai sai không làm giảm mức thuế nhập khẩu mà Diageo Việt Nam phải chịu!”, ông Shivam cho biết.

Nguyên nhân dẫn đến sai sót, theo ông Shivam, là do mẫu kê khai thuế liên tục thay đổi và có nhiều điểm trong tờ khai thuế không phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nước ngoài.

“Đây hoàn toàn là lỗi hành chính, chứ không phải doanh nghiệp cố tình gian lận thuế. Các sai sót cũng không làm ảnh hưởng đến giá trị tính thuế. Hơn nữa, hàng hóa đã bán hết, nếu bị phạt thuế từ số hàng này sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp!”, vị này nhận định.

PGS. TS. Nguyễn Văn Việt, Chủ tịch Hiệp hội Bia, Rượu, Nước giải khát Việt Nam (VBA), cho biết việc thay đổi trong thời gian ngắn của các chính sách, đặc biệt là chính sách thuế, đang khiến các doanh nghiệp mất nhiều chi phí cho việc tuân thủ.

Chẳng hạn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt được Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành vào tháng 10/2015 và lập tức có hiệu lực thi hành từ 01/01/2016. Theo đó, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm bia - rượu tăng từ mức 55% năm 2015 lên mức 60% vào năm 2017; và sẽ tiếp tục tăng lên 65% vào năm 2018.

“Việc tăng thuế cao trong thời gian ngắn có nguy cơ gây tổn hại đến thị trường. Người tiêu dùng sẽ khó tiếp cận các sản phẩm chính hãng được bán với giá cao do thuế tiêu thụ đặc biệt tăng và đây chính là cơ hội cho hàng gian, hàng giả với giá cả và chất lượng thấp xâm nhập vào thị trường, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng”, ông Việt khẳng định.

Ông Vũ Xuân Hưng, Phó phòng Pháp chế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại TP.HCM (VCCI-HCM) cho biết, theo khảo sát của VCCI, có 41% doanh nghiệp gặp phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính thuế. Trong đó, các doanh nghiệp FDI vẫn là nhóm có tỷ lệ gặp phiền hà cao nhất, 53%, kế đến là các doanh nghiệp dân doanh, với tỷ lệ 41%. Các doanh nghiệp do nhà nước năm giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ có gặp phiền hà là 30%.     

Ông Hưng cũng cho biết, hơn 60% doanh nghiệp được khảo sát kiến nghị rằng, cần tăng cường công khai minh bạch các chính sách thuế và đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến thuế.

Hiện tại, thời gian thực hiện thủ tục xuất khẩu của Việt Nam là 108 giờ, cơ quan chức năng đặt mục tiêu giảm xuống còn 70 giờ vào cuối năm 2017. Thời gian thực hiện thủ tục nhập khẩu là 138 giờ và mục tiêu sẽ giảm còn 90 giờ. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tại Việt Nam cũng kéo dài, lên đến 400 ngày. Ngành thuế đặt mục tiêu sẽ kéo giảm thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng xuống còn dưới 300 ngày. (Danviet.vn 24/11)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.053.495 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này