Bản tin cải cách hành chính ngày 28/01/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 1

1.  Hà Nội: Năm 2019, 100% công chức Sở Y tế được đào tạo nghiệp vụ giải quyết thủ tục hành chính  1

LĨNH VỰC CẢI CÁCH.. 2

2.  Cải thiện môi trường kinh doanh: Trên nóng, dưới cũng phải nóng. 2

3.  4 Bộ đề xuất bãi bỏ 13 quy hoạch. 4

4.  Hải quan lên tiếng về tin Cổng thông tin một cửa quốc gia bị “sập”. 4

5.  Gần 66.000 cuộc gọi của người dân đến đường dây nóng của Bộ Y tế. 5

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH.. 6

6.  Kỷ luật cán bộ về hưu: Chỉ áp dụng với cấp Thứ trưởng, Phó Chủ tịch tỉnh trở lên?. 6

7.  Không cho "hạ cánh an toàn". 8

8.  Ngành giáo dục cấm đi lễ hội trong giờ hành chính. 9

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH.. 10

9.  Để không còn “chính sách trên trời”. 10

10.  Tinh gọn bộ máy trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương. 11

11.  Nhiều cải cách về thuế của Việt Nam chưa được ghi nhận. 13

THẾ GIỚI 16

12.  Hàn Quốc lần thứ 6 đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo thế giới 16


CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Năm 2019, 100% công chức Sở Y tế được đào tạo nghiệp vụ giải quyết thủ tục hành chính

Trong năm 2019, Sở Y tế Hà Nội đặt mục tiêu 100% cơ quan, đơn vị bố trí công chức, viên chức theo đúng vị trí việc làm được phê duyệt. 100% công chức được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công vụ, trong đó, tập trung vào các cán bộ, công chức trực tiếp thụ lý giải quyết các TTHC

Đây là một trong những nội dung Kế hoạch số 309/KH-SYT về công tác cải cách hành chính năm 2019 vừa được Sở Y tế Hà Nội ban hành.

Theo đó, Sở đặt mục tiêu 100% đơn vị xây dựng kế hoạch CCHC của đơn vị mình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. 100% người đứng đầu cơ quan, đơn vị tiếp tục trực tiếp phụ trách, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện CCHC ở cơ quan, đơn vị mình quản lý. 100% các phòng thuộc cơ quan Văn phòng Sở tiến hành kiểm tra nội bộ và 40-50% số đơn vị trực thuộc tự kiểm tra. Tối thiểu 30% cơ quan, đơn vị được kiểm tra CCHC trong năm 2019. Bên cạnh đó, 100% các đơn vị trực thuộc duy trì các hình thức tiếp thu ý kiến phản ánh của người dân; thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý và phân công cán bộ có trách nhiệm trả lời ý kiến phản ánh đảm bảo kịp thời, đúng quy định.

 Đồng thời, tối thiểu 95% số hồ sơ liên quan đến TTHC được giải quyết đúng hạn và trước hạn. 80% TTHC thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; Tối thiểu 80% TTHC có quy định cung cấp trực tuyến mức độ 3, 4 có phát sinh hồ sơ cung cấp trực tuyến mức độ 3, 4. Trong đó, tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến mức độ 3 chiếm tối thiểu 40; tỷ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến mức độ 4 chiếm tối thiểu 30%. Tối thiểu 70% số TTHC có quy định tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích, trong đó, số lượng hồ sơ tiếp nhận qua dịch vụ bưu chính công ích chiếm tối thiểu 10%, số hồ sơ trả kết quả dịch vụ bưu chính công ích chiếm tối thiểu 15%.

 Bên cạnh đó, 100% các TTHC thuộc phạm vi, thẩm quyền giái quyết của cơ quan, đơn vị được thực hiện thông qua cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông được công khai, minh bạch theo quy định. 100% các cơ quan, đơn vị thực hiện hội nghị đối thoại với người dân về các vấn đề có liên quan tới giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền của cơ quan, đơn vị ít nhất 2 lần/năm. 100% hồ sơ giải quyết TTHC được cập nhật, theo dõi tình hình thực hiện thông qua hệ thống thông tin một cửa điện tử Thành phố. Sở cũng phấn đấu, 100% cơ quan, đơn vị bố trí công chức, viên chức theo đúng vị trí việc làm được phê duyệt. 100% công chức được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công vụ, trong đó, tập trung vào các cán bộ, công chức trực tiếp thụ lý giải quyết các TTHC. 100% viên chức được bồi dưỡng về đạo đức nghề nghiệp, cập nhật nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành. (Infonet.vn 28/1, N.Huyền)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải thiện môi trường kinh doanh: Trên nóng, dưới cũng phải nóng

Cắt giảm điều kiện kinh doanh và cải cách thủ tục quản lý chuyên ngành tiếp tục là 2 mục tiêu trọng tâm trong cải thiện môi trường kinh doanh năm 2019 của Chính phủ. 

Ðánh giá về tình hình thực hiện cắt giảm điều kiện kinh doanh năm 2018, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (CIEM) cho rằng, tuy có bước tiến triển, song chưa có sự đồng bộ giữa các bộ, ngành, chưa đáp ứng kỳ vọng về tính hiệu quả.

“Từ tháng 11/2018 trở lại đây, hầu như không có nghị định nào về cắt giảm điều kiện kinh doanh được ban hành. Có vẻ như các bộ đã hoàn thành chỉ tiêu thì không còn áp lực nữa. Một số nghị định vẫn chưa được ban hành thuộc Bộ Tài chính và Bộ Giao thông Vận tải, chúng tôi chờ đợi từ tháng 6/2018 có dự thảo, tháng 9 thấy có trình dự thảo, nhưng đến giờ vẫn chưa được ban hành”, bà Thảo nhận xét thẳng thắn và cho rằng, cần xây dựng cả đề án tổng thể cắt giảm danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện với 243 ngành nghề, thay vì các bộ ngành tiến hành riêng lẻ rồi trình lên Chính phủ như hiện nay.

Ðại diện CIEM cũng dẫn ra kết quả khảo sát không lấy làm tích cực của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI). Theo đó, có tới 57% doanh nghiệp đánh giá thủ tục xuất nhập khẩu không cải thiện, trong khi cắt giảm điều kiện kinh doanh tại một số lĩnh vực chưa thực chất khiến doanh nghiệp vẫn chưa được thụ hưởng thành quả từ cải cách.

“Mới đây, một số doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình phàn nàn với chúng tôi rằng họ phải trải qua thủ tục cấp phép hoạt động nhiều khâu nhiều cửa. Dù có vốn có tiền, nhưng không thể nào đáp ứng điều kiện kinh doanh về phát thanh truyền hình. Họ nói rằng sẽ chờ đợi thêm một thời gian nữa, nếu vẫn không được họ sẽ chuyển sang đăng ký hoạt động tại Singapore”, bà Thảo chia sẻ phản hồi của doanh nghiệp.

Liên quan đến cắt giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành, theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, năm 2018, trong khi chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 13 bậc (từ thứ 82 lên thứ 69/190 nền kinh tế) thì chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới (chỉ số về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá) lại giảm 7 bậc (từ thứ 93 xuống thứ 100/190 nền kinh tế).

“Ngoài việc cải thiện thủ tục xuất nhập khẩu chưa mạnh mẽ bằng các nước, nguyên nhân chính là do thủ tục thông quan đối với loại hàng hoá thuộc diện phải quản lý kiểm tra chuyên ngành vẫn còn rườm rà, phức tạp, nhiều thủ tục, giấy tờ gây tốn kém về thời gian, chi phí cho doanh nghiệp”, ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia tư vấn về hải quan, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan nhận xét.

Thống kê của chuyên gia này cho thấy, trong số 33 văn bản yêu cầu phải sửa đổi bị nêu đích danh tại các nghị quyết 19 của Chính phủ, đến nay vẫn còn tới 13 văn bản chưa sửa đổi, chiếm tới 39,4%.

Thậm chí, trong số này, có nhiều văn bản vẫn được xây dựng trong tình trạng cơ quan chủ trì không tuân thủ chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 19, dẫn đến có những quy định trái hoặc không phù hợp với Nghị quyết, vừa ban hành đã bị Thủ tướng yêu cầu sửa đổi.

Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) - doanh nghiệp nằm trong nhóm ngành thường xuyên phải đối diện với những khó khăn, bất cập trong các thủ tục kiểm tra chuyên ngành - cho biết, thời gian thực hiện các thủ tục chứng từ để tuân thủ các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam vẫn cao hơn gấp đôi so với mức bình quân của ASEAN.

Các chi phí bỏ ra tương đương mức doanh nghiệp phải nộp là 24,5%, cũng cao gần gấp đôi so với 12,5% của ASEAN; số biện pháp lên tới 402 biện pháp, thậm chí còn cao hơn năm 2003.

“Năm 2019, ngành dệt may đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vượt năm 2018 - vốn đã tăng 16,6% cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Trong khi thị trường năm nay được dự báo là khó khăn và nhiều thách thức hơn nên để đạt được mục tiêu này, rất cần có sự hỗ trợ thuận lợi hóa hoạt động xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp”, ông Trường nhấn mạnh.

Ðại diện Vinatex kiến nghị, cần tiếp tục cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, đặc biệt là các thủ tục kiểm tra chuyên ngành cũng như các thủ tục tuân thủ chứng từ các biện pháp phi quan thuế để giảm mạnh thời gian và chi phí, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. (Đầu Tư Chứng Khoán 28/1, Hiếu Minh)Về đầu trang

4 Bộ đề xuất bãi bỏ 13 quy hoạch

Theo Bộ KH&ĐT, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 5/2/2018 của Chính phủ, Bộ KH&ĐT được giao nhiệm vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục bãi bỏ các quy hoạch sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa cụ thể, ấn định khối lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ theo quy định tại Luật Quy hoạch. Bộ KH&ĐT đã có văn bản gửi các bộ, ngành để rà soát, tổng hợp danh mục.

Đến nay, Bộ KH&ĐT mới nhận được văn bản của Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT). Theo đó, 3 bộ nêu trên và Bộ KH&ĐT đã đề xuất bãi bỏ 13 quy hoạch.

Bộ Công Thương đề xuất bãi bỏ 4 quy hoạch: Quy hoạch phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025; Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020; Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2020; Quy hoạch phát triển ngành vật liệu nổ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Bộ Xây dựng đề xuất bãi bỏ 2 quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030.

Bộ NN&PTNT đề xuất bãi bỏ 5 quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Bộ KH&ĐT đề xuất bãi bỏ Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và Quy hoạch phát triển hệ thống sân golf Việt Nam đến năm 2020. (Baodauthau.vn 28/1, Trần Kiên)Về đầu trang

Hải quan lên tiếng về tin Cổng thông tin một cửa quốc gia bị “sập”

Tổng cục Hải quan vừa chính thức lên tiếng sau khi có thông tin cho rằng, Cổng thông tin một cửa quốc gia bị "sập" làm nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu bị tê liệt.

Theo giải thích của ngành hải quan, từ 10 giờ sáng ngày 25/1, hệ thống thông quan điện tử phiên bản 5 (TQĐT-V5) gặp sự cố do cùng lúc 2 máy chủ tại trung tâm quản lý vận hành hệ thống lỗi phần cứng dừng hoạt động.

Sau khi tập trung nguồn lực tiến hành các biện pháp kỹ thuật để thay thế máy chủ gặp sự cố, đến 21 giờ cùng ngày hệ thống đã trở lại hoạt động bình thường.

Đại diện Tổng cục Hải quan cho biết, TQĐT-V5 chỉ là hệ thống bổ trợ cho hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS chứ không phải là hệ thống một cửa quốc gia.

Hệ thống TQĐT-V5 thực hiện các chức năng chính là hỗ trợ cán bộ hải quan ghi nhận biên bản bàn giao hàng hóa trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển giữa các địa điểm chịu sự giám sát hải quan.

Hệ thống này cũng hỗ trợ cán bộ hải quan cập nhật dữ liệu các tờ khai giấy đăng ký bằng phương pháp thủ công.

Với các chức năng trên, phía hải quan thừa nhận, hệ thống TQĐT-V5 gặp sự cố sẽ gây khó khăn cho cán bộ hải quan trong việc theo dõi hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan.

Tuy nhiên, trong trường hợp hệ thống sự cố cán bộ hải quan sẽ thực hiện bằng phương pháp thủ công và cập nhật lại dữ liệu sau khi hệ thống phục hồi.

Phía Hải quan khẳng định, trong thời gian hệ thống gặp sự cố, hoạt động kết nối trao đổi thông tin với các bộ, ngành vẫn được thực hiện thông qua hệ thống một cửa Quốc gia và một cửa ASEAN. (VietnamPlus.vn 28/1, Xuân Dũng)Về đầu trang

Gần 66.000 cuộc gọi của người dân đến đường dây nóng của Bộ Y tế

Năm 2018, gần 66.000 cuộc gọi của người dân đến đường dây nóng của Bộ Y tế. Trong đó Bộ đã xử lý khiển trách, kỷ luật 182 trường hợp.

Bộ Y tế cho biết, năm 2018, Tổng đài trực đường dây nóng của Bộ Y tế  1900-9095 đã tiếp nhận tổng số 65.702 cuộc gọi đến đường dây nóng, trong đó 11.336 cuộc gọi phản ánh đúng phạm vi, chiếm tỷ lệ 17,25%. Sau khi xác minh, kiểm tra, ngành y tế đã cắt thi đua 91 trường hợp, điều chuyển sang bộ phận khác 18 trường hợp, khiển trách 171 trường hợp, xử lý kỷ luật 7 trường hợp, cho nghỉ việc 4 trường hợp. Bên cạnh đó, qua đường dây nóng, Bộ cũng khen thưởng 126 trường hợp.

Hầu hết các ý kiến của người dân đều được chuyển đến các cơ quan chức năng để trả lời theo đúng thẩm quyền và kịp thời. Nhiều ý kiến của người dân được lãnh đạo các cơ sở y tế trực tiếp giải thích cặn kẽ, chu đáo,...

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, cũng nhờ những góp ý qua kênh này, Bộ cải tiến quy trình khám chữa bệnh với 590 trường hợp, cải thiện cơ sở vật chất 259 cơ sở.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, hiện nay tình trạng cung ứng dịch vụ y tế Việt Nam đang có nhiều bất cập. Nhiều bệnh viện tuyến trên loay hoay xử lý việc quá tải mà không tập trung nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thay đổi thái độ phục vụ làm hài lòng người bệnh. Bên cạnh đó, người dân chưa tin tưởng đến khám, chữa bệnh tại trạm y tế. Nhiều người khi bệnh nặng mới đến cơ sở y tế nên tỉ lệ chuyển tuyến, vượt tuyến còn khá phổ biến.

“Có một thực trạng là hiện nay các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh đang "dàn hàng ngang" với các bệnh viện huyện, xã để khám chữa các bệnh nhẹ. Đáng nhẽ, các bệnh viện trung ương, tỉnh cần từ chối các bệnh nhẹ, đưa bệnh nhân về khám bệnh đúng tuyến, tập trung nghiên cứu, cứu chữa các bệnh nhân nặng, nâng cao chất lượng dịch vụ”- Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết.

Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu, thời gian tới, các bệnh viện tuyến trên, tuyến Trung ương cần loại bỏ tình trạng “tham bát bỏ mâm”, tập trung vào các dịch vụ cao. Đồng thời, tập trung vào việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, thay vì đợi khi có bệnh mới đi khám thì đã quá muộn; Chủ động phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm. (VOV.vn 28/1, Thy Hạt)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Kỷ luật cán bộ về hưu: Chỉ áp dụng với cấp Thứ trưởng, Phó Chủ tịch tỉnh trở lên?

Theo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức mà Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến, để xử lý cán bộ vi phạm khi đương chức nhưng nay đã về hưu, một trong 2 phương án đề nghị chỉ xử lý chức vụ lãnh đạo từ cấp thứ trưởng hoặc tương đương trở lên ở trung ương và cấp phó chủ tịch tỉnh hoặc tương đương trở lên ở địa phương.

2 phương án trình Chính phủ

Về xử lý kỷ luật, theo Bộ Nội vụ, các ý kiến đều tán thành với việc bổ sung quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc đã chuyển công tác nhưng có hành vi vi phạm trong thời gian công tác, nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cân nhắc về phạm vi áp dụng đối với đối tượng này, theo đó chỉ nên áp dụng quy định đối với những người giữ chức vụ, quyền hạn nhất định mà không quy định chung đối với tất cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc chuyển công tác.

Ban soạn thảo xin ý kiến Chính phủ về 2 phương án: Phương án 1: Quy định xử lý kỷ luật đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong quá trình công tác nay đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mà không còn là cán bộ, công chức, viên chức. Phương án 2: Quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên ở trung ương và cấp phó chủ tịch tỉnh và tương đương trở lên ở địa phương có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong quá trình công tác nay đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mà không còn là cán bộ, công chức.

Theo Bộ Nội vụ, việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, theo quy định của Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức thì thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm đến khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật.

Quy định thời hiệu như vậy thực tế là quá ngắn, không bảo đảm tính nghiêm khắc đối với việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm. Một số trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về Đảng (hoặc đã bị xử lý hình sự nhưng cho hưởng án treo) khi xét kỷ luật theo quy định của Luật thì đã hết thời hiệu.

Theo Bộ Nội vụ, về đối tượng áp dụng của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức vẫn quy định công chức bao gồm cả những người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp 2 công lập.

Quy định này trên thực tế đã phát sinh một số vướng mắc trong quá trình thực hiện, theo đó viên chức được bổ nhiệm vào bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập hầu hết không muốn chuyển sang giữ ngạch công chức. Trong khi đó các trường hợp công chức được điều động sang làm lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập thì đương nhiên vẫn giữ ngạch công chức.

“Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong việc thực hiện chế độ, chính sách và áp dụng cơ chế quản lý đối với đối tượng này”, Bộ này nêu.

Về việc xây dựng vị trí việc làm và thực hiện việc quản lý công chức, viên chức theo vị trí việc làm, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức để xác định biên chế, số lượng người làm việc và bố trí, sử dụng công chức, viên chức.

Tuy nhiên, do chưa xác định rõ việc xây dựng vị trí việc làm là bắt buộc, đồng thời còn có sự đồng nhất giữa vị trí việc làm và biên chế, số lượng người làm việc nên việc triển khai các quy định liên quan đến vị trí việc làm trong thời gian vừa qua gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Cụ thể là, danh mục vị trí việc làm ở các cơ quan, tổ chức hành chính chưa đồng bộ với việc mô tả vị trí việc làm; bản mô tả, phân tích quy trình giải quyết công việc chưa được hướng dẫn cụ thể để triển khai. Từ đó dẫn tới việc xác định vị trí việc làm và số lượng vị trí việc làm chưa chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Việc xây dựng khung năng lực vị trí việc làm còn định tính, vì vậy, hiện nay hầu hết đều dựa vào quy định tiêu chuẩn ngạch, bậc công chức để làm căn cứ xác định khung năng lực vị trí việc làm. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của xác định vị trí việc làm.

Cũng theo Bộ Nội vụ, hiện chưa có tiêu chí đánh giá về khối lượng công việc để làm căn cứ tính toán xác định khoa học số lượng người ở mỗi vị trí việc làm hoặc để xác định một người có thể kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau. Từ đó dẫn đến khó khăn trong quá trình xác định biên chế công chức và số lượng viên chức theo vị trí việc làm.

Hơn nữa, cơ chế tuyển dụng công chức, viên chức hiện nay vẫn chưa thực sự gắn với vị trí việc làm, chưa xây dựng được cơ chế để tuyển chọn được người có tài năng, đáp ứng được ngay các yêu cầu của vị trí việc làm; chưa gắn thẩm quyền của người trực tiếp sử dụng công chức với thẩm quyền quyết định tuyển dụng.

Ngoài ra, quy định tuyển dụng theo quy trình thi tuyển hoặc xét tuyển hiện nay cũng bộc lộ một số hạn chế, chưa có độ “mở” cần thiết để có thể tuyển dụng được đúng người phù hợp với công việc, đặc biệt là trong công tác tuyển dụng, thu hút nhân tài, tạo cơ chế liên thông giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Về chính sách thu hút nhân tài chưa có trọng tâm, chưa trọng điểm và chưa có chiến lược dài hạn về đào tạo, thu hút, sử dụng nhân tài. Các quy định về thu hút nhân tài chủ yếu mới chỉ ưu tiên về tuyển dụng đầu vào, chưa tạo được cơ chế, môi trường làm việc độc lập, cạnh tranh, sáng tạo để người tài có điều kiện phát huy tài năng. (Motthegioi.vn 28/1, Lam Thanh)Về đầu trang

Không cho "hạ cánh an toàn"

Không khỏi băn khoăn khi có những ý kiến cho rằng khi xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (CB, CC, VC) đã rời cương vị nhưng có vi phạm khi còn đương chức chỉ áp dụng với cấp thứ trưởng và tương đương trở lên.

Ý kiến như vậy được đưa ra trong quá trình góp ý cho dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CB, CC và Luật VC đang được Bộ Nội vụ lấy ý kiến công khai, rộng rãi. Tuyệt đại đa số các ý kiến đều tán thành với việc bổ sung quy định xử lý kỷ luật đối với CB, CC, VC đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc đã chuyển công tác nhưng có hành vi vi phạm trong thời gian công tác.

Tuy nhiên, điều gây băn khoăn và khó hiểu là có ý kiến đề nghị cân nhắc về phạm vi áp dụng đối với đối tượng trên, chỉ nên áp dụng quy định đối với những người giữ chức vụ, quyền hạn nhất định mà không quy định chung đối với tất cả đội ngũ CB, CC, VC đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc chuyển công tác. Cụ thể hơn là chỉ quy định xử lý kỷ luật đối với CB, CC giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên ở trung ương; cấp phó chủ tịch tỉnh và tương đương trở lên ở địa phương.

Đúng là khó có thể tán đồng với những ý kiến như trên. CB, CC, VC nghỉ hưu, nghỉ việc, chuyển công tác một khi đã phát hiện có vi phạm khi trước đó thì đương nhiên phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định, chứ sao lại chỉ ở cấp thứ trưởng và tương đương mới bị xử lý kỷ luật. Vậy với những cấp thấp hơn thì sao? Chưa biết những ý kiến này có giải thích gì khi đưa ra đề nghị về phạm vi xử lý kỷ luật ở cấp thứ trưởng và tương đương trở lên. Có thể nếu quy định xử lý kỷ luật đối với tất cả CB, CC, VC có hành vi vi phạm trong quá trình công tác nay đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu sẽ phải thụ lý và giải quyết một số lượng khá lớn. Cũng có thể những vi phạm ở cấp thấp hơn thì hậu quả gây ra không quá nghiêm trọng... Tuy nhiên, nếu quy định chỉ cấp nào trở lên mới bị xử lý sẽ mặc nhiên tạo ra những trường hợp ngoại lệ, bất công. Cùng vi phạm, sao có người bị xử lý, người không?

Trước đây, dư luận từng lên tiếng và rất bất bình khi thấy CB, CC, VC được xem là " hạ cánh an toàn " khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác bất chấp trước đó có những vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng lúc đương chức. Chính điều này đã làm giảm đáng kể sự răn đe đối với những CB, CC, VC lúc đương chức, khiến nhũng nhiễu, tiêu cực, tham ô thêm trầm trọng.

Nếu ai cũng ý thức được rằng nếu vi phạm chắc chắn sẽ bị xử lý nghiêm minh dù đã "hạ cánh" hay chuyển công tác thì họ tất phải suy nghĩ, chùn tay trước hành vi vi phạm. Thêm nữa, không nên có những quy định làm giảm sự răn đe với cấp thấp hơn khi đương chức. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước từng nhấn mạnh phải tập trung xử lý vấn đề tham nhũng vặt bởi "như ghẻ ruồi rất khó chịu" và nếu không ngăn chặn nạn tham nhũng vặt sẽ làm hư hỏng cán bộ.

Nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước trong phát biểu mới đây đã khẳng định quyết tâm chống tham nhũng là "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai". Vậy vì sao lại chỉ có cấp thứ trưởng trở lên mà không phải tất cả CB, CC, VC nếu vi phạm, dù lúc nào hay ở đâu, mới bị xử lý kỷ luật? Sao lại để có những trường hợp có thể đã "hạ cánh" là "an toàn" như vậy? (Người Lao Động 28/1, Phạm Dương)Về đầu trang

Ngành giáo dục cấm đi lễ hội trong giờ hành chính

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Hải An vừa ký công văn gửi lãnh đạo các sở, trường lưu ý về việc chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 của ngành giáo dục.

Theo đó, ngành giáo dục yêu cầu thực hiện nghiêm việc không dùng ngân sách tổ chức đi thăm, chúc Tết, tặng quà đối với các lãnh đạo cơ quan, đơn vị các cấp; không sử dụng phương tiện, tài sản công vào các hoạt động mang tính cá nhân trong dịp Tết, Lễ hội; không đi lễ hội trong giờ hành chính…; Dành thời gian đi thăm hỏi các gia đình chính sách, các hộ nghèo, các gia đình bị ảnh hưởng của thiên tai, bão, lũ.

Bộ yêu cầu, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương đối với người đứng đầu các cấp, các ngành, các cơ quan đơn vị và kỷ luật, kỷ cương hành chính. Bên cạnh đó, thúc đẩy có hiệu quả ý thức của cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên về công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm; nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông, các quy định về an toàn giao thông; các quy định về an toàn khác trong dịp Tết, cũng như các hoạt động tri ân, tình nghĩa. (Vietnamnet.vn 28/1, Song Nguyên)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Để không còn “chính sách trên trời”

Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây đã quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét kỷ luật cán bộ liên quan để xảy ra “lùm xùm” khi soạn thảo dự thảo Thông tư ban hành Quy chế công tác học sinh, sinh viên đối với các ngành đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp hệ chính quy. Quyết định này của Bộ được đánh giá là động thái tích cực nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cá nhân khi được giao xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo dự thảo Thông tư của Bộ, sinh viên ngành đào tạo giáo viên hoạt động mại dâm đến lần thứ tư sẽ bị buộc thôi học. Ngay lập tức quy định này vấp phải phản ứng mạnh mẽ từ phía dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định như dự thảo là không đúng với quy định pháp luật, gây phản cảm. Với tinh thần cầu thị, lắng nghe những ý kiến đóng góp, sau đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thu hồi dự thảo này. Theo giải thích của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong quá trình cập nhật các phiên bản dự thảo để đưa lên Cổng thông tin điện tử xin ý kiến rộng rãi của nhân dân, Ban soạn thảo đã sơ suất, chưa cập nhật dự thảo phù hợp nhất. Đồng thời, đại diện Bộ hứa, sẽ xem xét kiểm điểm trách nhiệm của Ban soạn thảo và cá nhân có liên quan.

Vấn đề này đã từng làm “nóng” nghị trường khi đại biểu Quốc hội Phạm Thị Minh Hiền (Phú Yên) chất vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ về trách nhiệm cá nhân khi để xảy ra sự việc đáng tiếc này. Cũng theo bà Hiền, dù mới chỉ là dự thảo Thông tư nhưng có nội dung gây phản cảm, thiếu cơ sở và đi ngược lại mục tiêu giáo dục, truyền thụ nhân cách. Nhiều cử tri đã bày tỏ sự lo lắng, nghi ngờ về năng lực, tâm lực, uy lực của bộ máy quản lý giáo dục hiện nay, bà Hiền thẳng thắn.

Không chỉ có có Bộ Giáo dục và Đào tạo, trước đây, khi xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Y tế và Bộ Giao thông - Vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô. Trong đó, có quy định về cân nặng, thể lực, chiều cao, vòng ngực của người lái xe. Với những tiêu chuẩn đặt ra như dự thảo thông tư khi ấy được hiểu là người “ngực lép” không được lái xe. Rất may, với sự vào cuộc kịp thời của truyền thông và dư luận, quy định này đã bị “khai tử” trước khi ban hành Thông tư.

Để xảy ra những quy định “trên trời” này có nguyên nhân từ trình độ, năng lực, sự thiếu chuyên nghiệp, thiếu thực tiễn của cán bộ làm công tác xây dựng văn bản quy pháp luật. Ngoài ra, có một số bộ, ngành chưa thực sự quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng của công tác hoàn thiện thể chế. Sau những sự cố, vi phạm xảy ra đã có nhận lỗi của những người có trách nhiệm. Nhưng dường như, tất cả chỉ được “núp bóng” dưới trách nhiệm tập thể chung chung: “Chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm sâu sắc”; “rất lấy làm tiếc… Thậm chí, có những lời hứa mạnh mẽ là sẽ xử lý trách nhiệm các cá nhân liên quan. Tuy vậy, cho đến nay, vẫn chưa có cá nhân, tổ chức nào bị xử lý kỷ luật.

Còn nhớ, khi còn là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, bà Lê Thị Nga đã từng rất bức xúc về tình trạng này. Bà Nga cho rằng, hàng chục năm nay chưa thấy một cán bộ lãnh đạo nào, công chức nào bị giáng chức, buộc thôi việc hay bồi thường do lỗi đề xuất, thẩm định, ban hành văn bản sai trái.

Báo cáo của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ cuối năm 2018 cho biết, năm 2017 có tới 5.639 văn bản trái pháp luật được các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương ban hành. Đây là con số rất đáng suy nghĩ. Bởi lẽ, việc ban hành và thi hành văn bản trái luật làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch. Đồng thời, ảnh hưởng đến trật tự, kỷ cương trong ban hành, thi hành văn bản quy phạm pháp luật; giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Ngoài ra, việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây tốn kém thời gian, công sức của cơ quan nhà nước và nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đến thời điểm này, dù chưa đưa ra mức xử lý trách nhiệm cụ thể, song việc quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo là sự khởi đầu về quyết tâm xử lý trách nhiệm cá nhân khi để xảy ra sai sót, vi phạm trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Cử tri, nhân dân chờ đợi kết quả xử lý trách nhiệm cá nhân một cách nghiêm khắc của Bộ để làm gương. Khi trách nhiệm kỷ luật không còn chung chung, gắn với từng cá nhân cụ thể, sẽ không còn xảy ra tình trạng: “chính sách ở trên trời”. (Đại Biểu Nhân Dân 28/1, tr2, Lê Hùng)Về đầu trang

Tinh gọn bộ máy trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương

Chính sách tiền lương trong khu vực công ở Việt Nam hiện còn phức tạp, nặng tính bình quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa tạo động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Từ những nội dung cơ bản về cải cách chính sách tiền lương (CCCSTL) đối với khu vực công, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XII (ban hành ngày 21-5-2018) về CCCSTL đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp có nhiều điểm mới quan trọng, như: lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương). Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp). Xác định mức tiền lương thấp nhất áp dụng trong khu vực công bảo đảm tương quan hợp lý với khu vực doanh nghiệp. Ban hành hệ thống bảng lương mới (quy định bằng số tiền tuyệt đối, thay cho việc quy định hệ số lương nhân với mức lương cơ sở) theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, trên cơ sở mở rộng quan hệ tiền lương tiệm cận với khu vực thị trường, chuyển xếp lương cũ sang lương mới bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng…

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến quan hệ tích lũy và tiêu dùng, đến cân đối kinh tế vĩ mô, gắn với thị trường lao động và đời sống của hàng triệu người hưởng lương và phụ cấp. Trong khu vực công ở Việt Nam, tiền lương là nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách nhà nước. Trong lần CCCSTL này, đã hướng tới tương quan hợp lý với khu vực thị trường, nhằm thu hút và giữ chân người tài để giúp khu vực công hoạt động hiệu quả hơn; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, phòng, chống tham nhũng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động của quốc gia, nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, CCCSTL phụ thuộc vào khả năng ngân sách nhà nước, đồng thời là vấn đề rất hệ trọng, phức tạp, nhạy cảm, ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết, đòi hỏi cân nhắc kỹ nhiều mặt, cả về nội dung cải cách và lộ trình thực hiện cho phù hợp nhằm tạo sự thống nhất và quyết tâm cao trong quá trình thực hiện.

Nghị quyết số 27-NQ/TW nêu rõ, một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến chính sách tiền lương mặc dù trải qua nhiều lần cải cách, vẫn bộc lộ hạn chế, bất cập, là do tổ chức bộ máy hành chính rất cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Số lượng đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập tăng nhanh trong những năm qua, làm cho đối tượng hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước quá lớn, ngày càng tăng, nhất là biên chế viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố, dẫn đến tổng quỹ lương và phụ cấp ngày càng lớn. CCCSTL là yêu cầu khách quan, nhưng trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, cần gắn lộ trình này với thực hiện hiệu quả tinh giản biên chế và mấu chốt là công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn. Đây cũng là nội dung quan trọng được nêu trong các văn kiện của nhiều kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, được bàn thảo trong nhiều Hội nghị Trung ương khi thảo luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, về cải cách tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng.

Từ những nội dung cơ bản về CCCSTL đối với khu vực công, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, điều kiện quan trọng cho việc CCCSTL là triển khai hiệu quả các Nghị quyết T.Ư 6 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc thực hiện cần bảo đảm phù hợp tình hình kinh tế, khả năng ngân sách nhà nước gắn với tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy nhằm nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận ở các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội. Qua đó, thúc đẩy trở lại quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, chất lượng hoạt động sự nghiệp dịch vụ công phục vụ nhân dân.

Theo đề án đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế của các địa phương trong cả nước, nếu làm tốt công tác này, hằng năm mỗi nơi tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng tiền chi lương. Thời gian qua, công tác này tuy có chuyển động tích cực, mạnh mẽ, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Vì thế, phải gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị và người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập với việc thể chế hóa và thực hiện các Nghị quyết T.Ư 6 (khóa XII), quyết liệt sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tạo nguồn bền vững cho CCCSTL. Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, cần tiếp tục sửa đổi cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị để tránh sự chồng lấn và nhằm thu gọn đầu mối; thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết T.Ư 6 (khóa XII) là đối với cơ quan, ngành dọc ở các địa phương tổ chức theo vùng, không nhất thiết tổ chức trên địa bàn của các tỉnh. Nếu nơi nào đã sắp xếp lại các đơn vị thì đề án vị trí việc làm phải xây dựng lại cho phù hợp điều kiện và chức năng, nhiệm vụ mới, trên cơ sở đó sẽ xác định về vấn đề biên chế. Cương quyết thực hiện chỉ tiêu tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị, giao ngân sách đồng thời với giao tinh giản biên chế, sớm sửa đổi các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập, giải thể, sáp nhập các đơn vị hành chính và tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và giải thể các đơn vị sự nghiệp, xây dựng cơ chế để tăng cường tự chủ tại những nơi này... Kết quả thực hiện các nội dung này sẽ quyết định mức độ và lộ trình CCCSTL. (Nhân Dân 28/1, Vĩnh Khang)Về đầu trang

Nhiều cải cách về thuế của Việt Nam chưa được ghi nhận

Ngân hàng Thế giới (WB) xếp Việt Nam ở vị trí 69/190 nền kinh tế về môi trường kinh doanh năm 2019, tụt một bậc so với năm trước. Nguyên nhân chính là Chỉ số nộp thuế (Paying Taxes) tụt tới 45 bậc. “Chỉ số nộp thuế bị đánh tụt hạng là do nhiều cải cách của Việt Nam chưa được ghi nhận”, bà Hoàng Thị Lan Anh, Phó trưởng ban Cải cách và Hiện đại hóa (Tổng cục Thuế) giải thích.

Rất nhiều người bất ngờ khi Báo cáo Môi trường kinh doanh 2019 (DB2019) do WB thực hiện đã đánh tụt thứ hạng Chỉ số nộp thuế của Việt Nam từ vị trí thứ 86 năm 2018, xuống vị trí 131/190 nền kinh tế của năm 2019. Bà đánh giá sao về điều này?

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong DB2019, WB chấm Chỉ số nộp thuế của Việt Nam đạt 62,87 điểm, tăng 1,75 điểm so với DB2018 (đạt 61,12 điểm sau khi WB tính toán lại). Đây là năm thứ 5 liên tiếp, các cải cách về thuế được ghi nhận trong Báo cáo Môi trường kinh doanh.

Đánh giá về Chỉ số nộp thuế, WB căn cứ vào 4 tiêu chí, gồm số giờ nộp thuế; số lần nộp thuế trong năm; tổng mức thuế suất trên lợi nhuận; chỉ số sau kê khai - đánh giá việc hoàn thuế giá trị gia tăng và thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp. 4 tiêu chí thành phần này có mức độ quan trọng như nhau trong xếp hạng Chỉ số nộp thuế và việc đánh giá được dựa trên các quy định đã ban hành và đi vào thực hiện trong năm 2017 (độ trễ của chính sách là 2 năm). Theo đánh giá của WB, năm 2019, hầu hết các chỉ số này đều có sự cải thiện so với năm trước đó, nhờ những nỗ lực của Việt Nam trong cải thiện thủ tục nộp thuế.

Nhưng thực tế thì Chỉ số nộp thuế của Việt Nam vẫn tụt tới 45 bậc, thưa bà?

Như tôi đã nói, Chỉ số nộp thuế căn cứ vào 4 tiêu chí có mức độ quan trọng như nhau. Về thời gian nộp thuế, DB2019 vẫn tính tổng số thời gian nộp thuế của Việt Nam là 498 giờ, trong đó thuế 351 giờ, bảo hiểm xã hội là 147 giờ, không thay đổi so với DB2018. Số lần nộp thuế được ghi nhận là 10 lần (trong đó có một lần tính cho bảo hiểm xã hội), giảm được 4 lần so với năm 2018 nhờ việc áp dụng kê khai, nộp thuế bằng phương thức điện tử.

Tổng mức thuế suất trên lợi nhuận là 37,8% (trong đó thuế chỉ có 13,3%, còn bảo hiểm xã hội 24,5%), giảm 0,3% do giảm mức đóng góp của doanh nghiệp vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng được thực hiện kể từ ngày 1/6/2017.

Trong 4 tiêu chí để xếp hạng, thì một tiêu chí không thay đổi, 2 tiêu chí có sự cải thiện so với  DB2018. Như vậy, nguyên nhân cơ bản dẫn tới Chỉ số nộp thuế năm 2019 tụt hạng là do tiêu chí thứ tư - Chỉ số sau kê khai.

Bà có thể nói rõ hơn?

Chỉ số sau kê khai (Post Filling) là chỉ số mới được đưa vào chấm điểm từ năm 2017, đánh giá dựa trên các yếu tố thành phần là hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp doanh nghiệp có số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra và thanh tra/kiểm tra do doanh nghiệp kê khai sai thuế thu nhập doanh nghiệp.

Trong DB2019, Chỉ số sau kê khai đạt 49,08 điểm, giảm 46,63 điểm so với DB2018, dẫn đến làm giảm thứ hạng của Chỉ số nộp thuế của Việt Nam. Nguyên nhân là do Luật 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế (có hiệu lực từ 1/7/2016) quy định, trường hợp doanh nghiệp có lũy kế thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết (không phải dự án đầu tư hoặc xuất khẩu) không được hoàn thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó, theo quy định cũ thì trước đây trường hợp này được hoàn thuế sau 12 tháng hoặc 4 quý, nên theo phương pháp tính của WB, thì Chỉ số hoàn thuế là điểm 0 cho cả 2 tiêu chí là thời gian làm hồ sơ hoàn thuế và thời gian nhận được tiền hoàn thuế.

Bà nói rằng, ngoài nguyên nhân kể trên, Chỉ số nộp thuế của Việt Nam trong DB2019 bị đánh tụt hạng còn do nhiều cải cách của Việt Nam chưa được ghi nhận. Cụ thể thế nào, thưa bà?

Số giờ nộp thuế của Việt Nam được WB xác định là 498 giờ, không giảm so với năm 2018. Nguyên nhân là do một số cải cách về thể chế, chính sách và thủ tục hành chính thuế đã có hiệu lực thực hiện từ năm 2015-2016, nhưng chưa được ghi nhận. Chẳng hạn như việc bỏ Bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra, kèm theo Tờ khai thuế giá trị gia tăng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. Hiện tại, doanh nghiệp không phải gửi Bảng kê hóa đơn cho cơ quan thuế, nhưng trong DB2019 vẫn tính thời gian doanh nghiệp phải lập Bảng kê hóa đơn mất 90 giờ…

Về thời gian nộp thuế được WB ghi nhận trong DB2019 là 498 giờ (trong đó thuế 351 giờ, bảo hiểm xã hội 147 giờ) - không thay đổi so với DB2017 và DB2018. Nhưng phân tích cụ thể hơn thì thấy, trong tổng số thời gian nộp thuế 351 giờ, thì có đến 334 giờ doanh nghiệp dành cho việc tính toán số liệu và chuẩn bị tờ khai. Thời gian dành cho việc nộp tờ khai và nộp thuế chỉ có 17 giờ/năm là do ngành thuế đã triển khai hàng loạt dịch vụ khai thuế, nộp thuế bằng phương thức điện tử, kết quả là hiện có 99,92% tổng số doanh nghiệp thực hiện khai thuế điện tử và 97,8% số doanh nghiệp đã đăng ký nộp thuế điện tử.

DB2019 xác nhận doanh nghiệp mất 9 lần nộp thuế (giảm 4 lần so với DB2018), trong đó có 5 lần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, kể từ 1/1/2015, doanh nghiệp chỉ phải khai thuế thu nhập doanh nghiệp một lần trong năm (quyết toán năm) thay vì 5 lần như trước đây (tạm khai theo quý và khai quyết toán năm).

Trong năm 2017, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực thu và cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế, nhưng cũng chưa được ghi nhận.

Những cải cách về thể chế, chính sách và thủ tục hành chính thuế của Việt Nam sẽ được WB ghi nhận khi công bố DB2020 hoặc các năm sau. Nhưng thưa bà, để giảm thời gian nộp thuế xuống còn 171 giờ/năm theo yêu cầu của Chính phủ thì những cải cách trên vẫn chưa đủ?

Chính vì vậy, cần phải sửa đổi Luật Quản lý thuế để hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý thuế, đảm bảo thực hiện quản lý thuế dựa trên rủi ro, đơn giản hóa các quy trình thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và phù hợp thông lệ quốc tế. Tổng cục Thuế tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp vướng mắc, tồn tại về cơ chế chính sách thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, các quy định về hóa đơn bán hàng, chế độ kế toán doanh nghiệp... để kiến nghị, trình các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa các quy định, thu hẹp khoảng cách giữa thuế và kế toán để giảm giờ cho doanh nghiệp.

Ngành thuế tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện các chương trình cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, trong đó tập trung vào giải pháp cung cấp dịch vụ thuế điện tử (đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế) và chuẩn bị các điều kiện để triển khai hóa đơn điện tử vào năm 2020. (Đầu Tư 28/1, Mạnh Bôn)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Hàn Quốc lần thứ 6 đứng đầu bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo thế giới

Bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo thế giới năm 2019 do Bloomberg thực hiện đã một lần nữa xướng tên Hàn Quốc ở vị trí đầu bảng, tiếp theo là Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu.

Giành được nhiều sự quan tâm trong bảng xếp hạng có lẽ là nước Mỹ. Một năm sau khi lần đầu tiên bị  “đánh bật” khỏi top 10 vì những tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, nền kinh tế lớn nhất thế giới nay đã có bước nhảy vọt khi tăng đến 3 bậc và leo lên vị trí số 8 nhờ vào nỗ lực rút ngắn vòng đời sản phẩm. Bên cạnh đó, việc môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng làm thay đổi cách thức làm việc của các nhà quản lý thuộc quốc gia này.

Trong khi đó, ở vị trí số 2, Đức đã tiến sát đến gần vị trí của Hàn Quốc trong các lĩnh vực sản xuất và nghiên cứu nhờ sự phát triển của một loạt "đại gia" công nghiệp như Volkswagen AG, Robert Bosch GmbH và Daimler AG.

Điểm đáng nói là mặc dù Hàn Quốc vẫn tiếp tục kéo dài chuỗi thành tích (là “nhà vô địch” sáu lần) song khoảng cách dẫn đầu của họ đã bị thu hẹp một phần vì lĩnh vực hoạt động sáng chế có điểm số thấp hơn.

Trong khi đó, hoạt động sáng chế lại là yếu tố giúp Trung Quốc và Israel ghi điểm trên bảng xếp hạng. Trong đó, Israel đã tăng vọt đến 5 bậc và được hạng 5, lần lượt “bỏ xa” các đối thủ là Singapore, Thụy Điển và Nhật Bản.

Vương quốc Anh đã giảm một bậc xếp hạng xuống thứ 18, ghi dấu lần đầu tiên bị Trung Quốc “qua mặt”. Mặc dù đứng thứ 2 về các hoạt động sáng chế liên quan đến nghiên cứu và phát triển, trong đó có những cái tên phải kể đến như Huawei Technologies Co. và BOE Technology Group, nhưng nền kinh tế này vẫn thua xa hầu hết các công ty sáng tạo về năng suất tổng thể.

Trong khi đó, Thụy Điển - á quân năm 2018 - nay tụt xuống vị trí thứ 7, trong khi Tunisia và Ukraine là hai cái tên “lép vế” nhất với các vị trí đều nằm ngoài top 50. Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE) ghi dấu vị trí cao nhất từng đạt được là xếp hạng thứ 46, còn Brazil trở lại vị trí thứ 45 sau khi không được xếp hạng vào năm ngoái.

Ngoài ra, trong số những quốc gia mới được xếp hạng còn có một số nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Mexico, Việt Nam và Saudi Arabia. Nam Phi vẫn là quốc gia vùng miền nam Sahara (châu Phi) duy nhất được xếp hạng trong bảng xếp hạng này. (TTXVN/Tin Tức 27/1, Phương Nga)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.040.869 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này