Bản tin cải cách hành chính ngày 26/9/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Bình Dương triển khai thí điểm phòng họp không giấy VNPT

2. Lai Châu sẽ lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp

3. Quảng Ninh: Sáp nhập 9 đơn vị hành chính cấp xã tại 5 địa phương trước ngày 31/12

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quân đội

5. Cải cách chính sách thuế thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng nền kinh tế

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ, cải cách hành chính

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. “Thể chế, thể chế và thể chế”

8. Cảnh tỉnh và răn đe

         

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Bình Dương triển khai thí điểm phòng họp không giấy VNPT

Ngày 20/9, tại Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương, UBND tỉnh đã tổ chức lễ công bố triển khai thí điểm hệ thống phòng họp không giấy VNPT e-Cabinet và tiến hành phiên họp thường kỳ tháng 9 qua hệ thống phòng họp không giấy.

Việc triển khai thí điểm phòng họp không giấy VNPT e-Cabinet nhằm mục tiêu giảm thời gian các phiên họp, giảm tối đa việc sử dụng văn bản giấy và sử dụng 100% văn bản điện tử trong các phiên họp (trừ văn bản mật).

Theo đó, e-Cabinet giúp hỗ trợ xử lý công việc của UBND tỉnh từ trước, trong và sau phiên họp UBND tỉnh; quản lý việc gửi phiếu lấy ý kiến thành viên UBND tỉnh, nhắn tin điện thoại SMS, gửi Email thông báo đến các thành viên UBND tỉnh, các thành phần dự họp UBND tỉnh. Ngoài ra, e-Cabinet còn tự động cảnh báo, nhắc quá hạn cho thành viên UBND tỉnh và bộ phận tham mưu, giúp việc, khi có nội dung quá hạn cho ý kiến…

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Trần Thanh Liêm cho rằng, việc triển khai thí điểm và vận dụng hiệu quả hệ thống phòng họp không giấy sẽ góp phần hướng tới mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử, giúp UBND tỉnh sớm đạt mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian các phiên họp và giảm tối đa sử dụng văn bản giấy; đồng thời, yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể cần quán triệt tinh thần tiên phong, đổi mới mạnh mẽ, nắm vững các thao tác để sử dụng thành thạo hệ thống. (Vnmedia 25/9) Về đầu trang

Lai Châu sẽ lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tư pháp, công văn của UBND tỉnh Lai Châu, các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố thuộc tỉnh đã tổ chức có hiệu quả các kế hoạch, giải pháp nhằm nâng xếp hạng chỉ số Chi phí tuân thủ pháp luật (chỉ số B1) tại cơ quan, đơn vị mình.

Theo đó, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh thường xuyên tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan mình chủ trì tham mưu trình UBND tỉnh ban hành hoặc tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua có quy định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh. Tương tự, UBND cấp huyện cũng thường xuyên rà soát các văn bản do mình ban hành hoặc trình HĐND cấp huyện ban hành có quy định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh. Qua rà soát, các văn bản trên địa bàn tỉnh trong quý III/2019 không có văn bản nào phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ do gây khó khăn, cản trở điều kiện đầu tư, kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp.

UBND tỉnh cũng quan tâm chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, giải thích quy định của các văn bản pháp luật mới được ban hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp để bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các quy định pháp luật, nhất là các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh. Trong quý III, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được 329 cuộc cho gần 20 nghìn lượt người tham gia với các hình thức phong phú như sao gửi văn bản qua phần mềm quản lý; đăng tải văn bản lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, Công báo tỉnh; triển khai mô hình sinh hoạt Ngày Pháp luật; lồng ghép nội dung tại các cuộc họp cơ quan, sinh hoạt chi bộ…

Đáng chú ý, nhằm kịp thời tiếp nhận những kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp để đề ra các giải pháp mới nâng xếp hạng chỉ số B1, UBND tỉnh Lai Châu đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện một số nội dung. Cụ thể, tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; chủ động tổ chức đối thoại với doanh nghiệp liên quan đến các quy định của pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh để có biện pháp chỉ đạo, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc mà doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị.

Quán triệt Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1390/KH-UBND thực hiện các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ xem xét, thiết lập đường dây nóng, hộp thư điện tử để tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân, doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà trong giải quyết công việc.

Bên cạnh đó, ngày 27/5/2019, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 512/QĐ-UBND thành lập Tổ công tác kiểm tra công vụ để tăng cường công tác thanh, kiểm tra công vụ, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Tổ công tác có nhiệm vụ giúp UBND tỉnh kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, qua đó kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân có hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp.

Trong công tác cải cách thủ tục hành chính, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 21/8/2019 về cải thiện chỉ số Cải cách hành chính, chỉ số Hài lòng về sự phục vụ hành chính và chỉ số Hiệu quả quản trị hành chính công của tỉnh Lai Châu. Đặc biệt, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 789/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Lai Châu, hướng đến mục tiêu xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiện đại, thuận tiện. Ngày 7/9 vừa qua, Trung tâm đã khai trương và đi vào hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Tống Thanh Hải chia sẻ, việc thực hiện nâng xếp hạng chỉ số B1 là một trong các giải pháp cải thiện năng lực cạnh tranh theo chỉ số Năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0). Bộ Tư pháp đã có hướng dẫn về nâng hạng chỉ số B1, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo, nhưng trong quá trình triển khai vẫn còn một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh lúng túng khi xác định nội dung cụ thể, phạm vi của chỉ số, giải pháp cơ bản đối với trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong giảm chi phí tuân thủ pháp luật. Vì vậy, UBND tỉnh đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị tập huấn để các địa phương hiểu sâu hơn về phương pháp, cách thức xếp hạng chỉ số B1, giúp việc triển khai đạt hiệu quả.  (Baophapluat.vn 26/9, An Khê) Về đầu trang

Quảng Ninh: Sáp nhập 9 đơn vị hành chính cấp xã tại 5 địa phương trước ngày 31/12

Đó là nội dung được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh thống nhất tại Kết luận số 517 - KL/TU về phương án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương của Trung ương về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, đồng thời triển khai thực hiện Văn bản số 4309/BNV-CQĐP ngày 9/9/2019 của Bộ Nội vụ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất chủ trương sáp nhập 9 đơn vị hành chính cấp xã thuộc diện phải sắp xếp giai đoạn 2019-2021.

Cụ thể: huyện Hải Hà, thực hiện sáp nhập xã Phú Hải, xã Quảng Trung, xã Quảng Điền vào thị trấn Quảng Hà; sáp nhập xã Quảng Thắng vào xã Quảng Minh; xã Tiến Tới vào xã Đường Hoa. Huyện Bình Liêu, thực hiện sáp nhập xã Tình Húc vào thị trấn Bình Liêu nhằm nâng cấp, mở rộng, tạo không gian phát triển cho thị trấn Bình Liêu. Huyện Tiên Yên, thực hiện sáp nhập xã Đại Thành vào xã Đại Dực. Huyện Đầm Hà thực hiện sáp nhập xã Quảng Lợi vào xã Quảng Tân và TP Uông Bí, sáp nhập xã Điền Công vào phường Trưng Vương.  Thời gian hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã trước 30/12/2019.

Đến đại hội Đảng bộ cấp xã, nhiệm kỳ 2020 - 2025, việc bố trí, sắp xếp ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đảng ủy, cán bộ, công chức các đơn vị hành chính cấp xã sáp nhập cơ bản bảo đảm số lượng theo quy định và có tính tới yếu tố đặc thù sau sắp xếp đến năm 2025 theo đúng chủ trương, hướng dẫn của Trung ương. Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, việc bố trí, sắp xếp các chức danh cán bộ, công chức khối nhà nước tại các đơn vị hành chính cấp xã sáp nhập cơ bản bảo đảm số lượng theo quy định.

Đến đại hội Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã, cơ bản bố trí, sắp xếp các chức danh đang được bảo lưu chức danh và chế độ của chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và trưởng các tổ chức chính trị - xã hội tại các đơn vị hành chính cấp xã sáp nhập cơ bản bảo đảm số lượng theo quy định. Hoàn thành cơ bản việc giải quyết chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách dôi dư trước bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Về trụ sở, trước mắt sử dụng trụ sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có phù hợp với đơn vị hành chính mới sau sắp xếp.

Về giáo dục: Trước mắt giữ ổn định các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn hiện có và thực hiện lộ trình sắp xếp đảm bảo mang lại lợi ích tốt nhất cho người dân, nâng cao chất lượng dạy và học.

Về y tế: Thực hiện lộ trình sắp xếp lại các trạm y tế, phân trạm phù hợp đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị, y bác sỹ nhằm cung cấp dịch vụ tốt nhất cho người dân. Những nơi đang được hưởng các chế độ, chính sách đặc thù theo chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh cần được rà soát cụ thể để có giải pháp phù hợp đảm bảo quyền lợi theo quy định trong quá trình sắp xếp. (Daidoanket.vn 26/9, Xuân Quảng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quân đội

Xác định là một trong ba đột phá, thời gian qua, toàn quân đã đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính (CCHC) trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng phục vụ CCHC.

CCHC trong Bộ Quốc phòng (BQP) đã được Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X xác định là một trong ba đột phá, do đó, hằng năm, Ban Chỉ đạo CCHC BQP luôn chủ động bám sát chương trình, kế hoạch của Chính phủ, xây dựng công tác CCHC trong Bộ, triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện hiệu quả các nội dung về CCHC.

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020; đẩy mạnh đơn giản hóa các thủ tục hành chính (TTHC) đi đôi với việc rà soát các văn bản liên quan TTHC theo từng lĩnh vực phụ trách để sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ các quy định không còn phù hợp.

Chú trọng chuyển đổi thực hiện TTHC từ phương pháp văn bản thủ công sang môi trường mạng; xây dựng Cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa BQP.

Triển khai Nghị định số 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC, BQP đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong tiếp nhận, giải quyết TTHC và công việc nội bộ trên môi trường mạng.

Ban Chỉ đạo CCHC BQP chỉ đạo, điều hành, mở rộng áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9001:2015 trong toàn quân và các sản phẩm của Đề án CCHC của BQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Chuẩn hóa quy trình giải quyết TTHC theo tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng ISO hơn 300 cơ quan, đơn vị, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ...

Điểm nhấn trong CCHC là Quân ủy Trung ương (T.Ư), BQP đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm túc Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quân ủy T.Ư về tổ chức quân đội đến năm 2021, gắn với Nghị quyết T.Ư 6, khóa XII theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả.

Điều chỉnh tổ chức lực lượng toàn quân theo lộ trình giảm 10% quân số ở cấp chiến dịch, chiến lược. Khối học viện nhà trường chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn lực cho quân đội; Đổi mới, sắp xếp lại, cổ phần hóa các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ), hệ thống trường dạy nghề, cơ sở in; Thực hiện đề án “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025” trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ...

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị để giảm khâu trung gian, tránh trùng, chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc chưa được quy định. Đến cuối năm 2018, BQP đã giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên, 7 trường trung cấp nghề và đang phối hợp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giải thể 15 trường cao đẳng nghề.

Trong đó, chỉ đạo Bộ Tư lệnh (BTL) Bộ đội Biên phòng tiến hành giải thể, điều chỉnh tổ chức, biên chế một số cơ quan, đơn vị trực thuộc.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp làm tốt công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ theo Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21/12/2013 của Quân ủy T.Ư về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo; thực hiện tốt việc chuẩn hóa cán bộ theo hệ thống tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ đã ban hành...

Mục tiêu của CCHC nhằm rút ngắn thời gian giải quyết công việc, loại bỏ các thủ tục rườm rà, lấy hiệu quả là chính. Nhằm tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC, các cơ quan, đơn vị đã gắn nội dung CCHC với thực hiện thể chế hành chính theo quy định; xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện nghiêm túc, phù hợp với nhiệm vụ thực tế; đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng, soạn thảo, ban hành văn bản bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, đáp ứng yêu cầu tổ chức, hoạt động quân sự, quốc phòng.

Chú trọng việc kiểm tra, xử lý, hợp nhất, rà soát hệ thống văn bản theo phạm vi chức năng quản lý. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân viên, hạ sĩ quan, chiến sĩ về CCHC.

Đầu tháng 9/2019, Ban Chỉ đạo CCHC BQP do Thượng tướng Lê Chiêm, Ủy viên TƯ Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo CCHC BQP làm Trưởng đoàn đã kiểm tra công tác CCHC BTL Quân khu 2 và Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh Phú Thọ.

Năm 2019, Đảng ủy, BTL Quân khu 2 đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Chính phủ, hướng dẫn của BQP về CCHC; cụ thể hóa nội dung đề án, kế hoạch CCHC của BQP phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của lực lượng vũ  trang Quân khu.

Đặc biệt, Quân khu 2 đã chỉ đạo Bộ CHQS 9 tỉnh xây dựng kế hoạch chuyển đổi, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015; báo cáo đề nghị BQP bổ sung 3 Ban CHQS cấp huyện (thành phố) xây dựng áp dụng theo tiêu chuẩn ISO từ năm 2020 trong giải quyết các TTHC…

Đặc biệt, tại Quân khu 2, việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên được chú trọng. Quân khu đã triển khai các quyết định điều động, bổ nhiệm đối với cán bộ cho hơn 400 người; xét duyệt, đề nghị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyển dụng, đào tạo sĩ quan dự bị gọi vào phục vụ tại ngũ gần 550 người; tiếp nhận và quyết định gần 150 trường hợp; tuyển sinh, đào tạo, bổ túc nghiệp vụ tại các trường của BQP và Quân khu hơn 1.800 người; nâng lương, thăng quân hàm, xét duyệt, giải quyết nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ cho hơn 3.070 trường hợp khác, bảo đảm chặt chẽ, dân chủ, đúng quy trình…

Trong quý IV năm 2019, Ban Chỉ đạo CCHC BQP sẽ tổ chức kiểm tra công tác CCHC của Quân khu 4, Quân khu 9. (Baophapluat.vn 26/9, Lam Hạnh) Về đầu trang

Cải cách chính sách thuế thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng nền kinh tế

Trong xu thế vận động mới của thế giới, cùng với những thách thức nội tại, yêu cầu thực tiễn Việt Nam phải thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế cho phù hợp. Qua đó cũng đòi hỏi hệ thống chính sách tài chính nói chung và chính sách thuế phải được tiếp tục hoàn thiện để vừa tạo động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, vừa phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước.

Theo các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn 2001 - 2010, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tăng trưởng theo chiều rộng, động lực tăng trưởng phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động và định hướng phát triển sản xuất theo hướng xuất khẩu.

Từ cuối năm 2008, suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến các nước, trong đó tác động trực tiếp đến hệ thống tài chính, ngân hàng và suy giảm của thị trường tiêu dùng. Trong khi đó, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn bởi sự suy yếu từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản đây là những thị trường truyền thống lại chịu tác động lớn nhất bởi khủng hoảng kinh tế.

Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, kể từ năm 2008, Nhà nước đã thực hiện chính sách tài chính, giảm nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp trên diện rộng. Theo đó, mức thuế suất phổ thông đã được giảm từ 28% xuống còn 25% từ năm 2009, 22% từ năm 2014, xuống 20% từ năm 2016, nhờ đó đã tạo điều kiện thu hút đầu tư và tích lũy, khuyến khích thành lập doanh nghiệp đầu tư sản xuất – kinh doanh.

Từ năm 2014, tiếp tục bổ sung chính sách tài chính ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, có quy mô vốn đầu tư lớn và sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới phù hợp với quy định của Luật Công nghệ cao; Luật Khoa học và Công nghệ; Luật Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 đã điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh.

Đối với Luật Phí và Lệ phí năm 2015, thực thi kể từ năm 2017, đã chuyển nhiều loại phí sang thực hiện theo cơ chế giá góp phần thu hút nguồn lực xã hội tham gia cung cấp dịch vụ công, khuyến khích đổi mới công nghệ, đa dạng hóa và giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ…

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, kể từ năm 2011 đến nay, quy mô thu ngân sách nhà nước đã tăng gấp 3,8 lần so với giai đoạn 2001 - 2010, trong đó thu nội địa khoảng 5,1 lần; thu từ dầu thô khoảng 1,3 lần và thu cân đối từ hoạt động xuất - nhập khẩu khoảng 2,9 lần. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân khoảng 24,4% GDP, trong đó thu từ thuế, phí khoảng 20,7% GDP.

Trong giai đoạn tới, cùng với quá trình hội nhập, tăng trưởng kinh tế sẽ chịu tác động tiêu cực từ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đang ngày một gay gắt, xu hướng bảo hộ thương mại, chiến tranh thương mại và chủ nghĩa dân túy đang là rào cản đà tăng trưởng chung. Trong giai đoạn tới, ngành Tài chính cần tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, cụ thể:

Một là, thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về hoàn thiện chính sách thuế nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước mà Bộ Chính trị và Quốc hội đã đặt ra tại các Nghị quyết số 07-NQ/TW và Nghị quyết số 25/2016/QH14.

Hai là, đảm bảo đúng bản chất của từng sắc thuế, tính nhất quán, rõ ràng, giải quyết những vấn đề bất cập, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, giảm thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Ba là, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng và tương thích với các luật mới được Quốc hội ban hành như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Đầu tư, Bộ Luật Dân sự...

Bốn là, đảm bảo mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển, qua đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và tăng việc làm cho người lao động, chống thất thu ngân sách nhà nước, chống gian lận thương mại, chuyển giá... (Tapchitaichinh.vn 25/9, T. Anh) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ, cải cách hành chính

Ngày 25-26/9/2019, tại tỉnh Lâm Đồng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tập huấn công tác tổ chức cán bộ kế hoạch tài chính và cải cách hành chính năm 2019.

Mục đích của lớp tập huấn lần này nhằm tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của công tác tổ chức cán bộ, tài chính kế toán và cải cách hành chính cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức chuyên trách.

Phát biểu tại lớp tập huấn, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện nhấn mạnh, trong những năm qua, công tác cải cách hành chính luôn được Đảng và Nhà nước xác định là khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Chính phủ về công tác cải cách hành chính, Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) luôn coi công tác cải cách hành chính nói chung, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính, cải cách thủ tục hành chính nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của ngành.

Nhờ đó, công tác cải cách hành chính của Bộ VH-TT&DL thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực và đáng khích lệ, cụ thể như: Hệ thống chính sách, pháp luật về văn hóa, thể thao và du lịch liên tục được hoàn thiện.

Cải cách thủ tục hành chính đã được đẩy mạnh thông qua việc giảm các bước, quy trình xử lý công việc, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp đến làm việc về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, Ngành.

Bộ máy tổ chức của Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ tiếp tục được kiện toàn tinh gọn hơn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thi tuyển, thăng hạng và nâng ngạch, sử dụng biên chế, lao động của các cơ quan, đơn vị được thực hiện đảm bảo theo đúng các quy định. Công tác cán bộ thực hiện đúng kế hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, tiếp nhận và điều động cán bộ được thực hiện đúng quy trình thủ tục trên cơ sở tiêu chuẩn, tín nhiệm của đồng nghiệp và lãnh đạo tạo được sự đồng thuận cao.

Công tác xây dựng kế hoạch, dự toán của các đơn vị đã đi vào nề nếp; công tác kế hoạch - tài chính về cơ bản đã có sự gắn kết, tạo sự quản lý tập trung, thống nhất. Hoàn thành việc xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng. Phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc Bộ đảm bảo chất lượng và thời gian theo quy định, góp phần thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ của Bộ trong điều kiện nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện, cùng với việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019, Bộ đã hoàn thành liên thông 4 cấp hành chính với Chính phủ, đảm bảo 100% văn bản xử lý trên môi trường mạng. Hồ sơ thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 ngày càng tăng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện cũng cho rằng, công tác cải cách hành chính của Bộ thời gian qua vẫn còn không ít hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu, quy mô đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, của Chính phủ và mục tiêu chung của Nghị quyết số 30c/NQ-CP đặt ra.

Chính vì vậy, thông qua lớp tập huấn lần này, Bộ trưởng mong muốn với những nội dung được phổ biến sẽ được các lãnh đạo, công chức chuyên trách của các đơn vị tích cực triển khai vào công việc liên quan; qua đó từng bước nâng cao nhận thức và hiệu quả công tác tổ chức cán bộ, tài chính kế toán, cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị mình./. (Cpv.org.vn 25/9, K.T) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

“Thể chế, thể chế và thể chế”

LTS: Tiến sỹ Nguyễn sĩ Dũng, nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội có bài viết phân tích sâu sắc về thể chế và các mô  hình phát triển nhân Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam được tổ chức gần đây. Nội dung này có giá trị và có tính xây dựng trong quá trình hoàn thiện bộ máy, xây dựng thể chế ở nước ta, Diễn đàn Vì Việt Nam hùng cường/Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu.

“Cải cách thể chế, cải cách thể chế và cải cách thể chế” đang là khẩu hiệu hành động được nhiều nhà lãnh đạo đưa ra. Quả thực, về mặt nhận thức, đây là một thành tựu rất đáng được ghi nhận. Không có được nhận thức như vậy, không thể có đủ quyết tâm chính trị để thúc đẩy những cải cách về cơ bản là khó khăn và cũng đầy rủi ro.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở nhận thức về sự cần thiết phải cải cách thể chế, mà còn nằm ở nhận thức về việc phải cải cách như thế nào và xử lý những rủi ro đi kèm ra làm sao.

Để trả lời câu hỏi cải cách thể chế như thế nào thì quan trọng nhất là lựa chọn mô hình thể chế. Các mô hình thể chế đưa lại thành công và thịnh vượng không thiếu ở trên thế giới. Vấn đề là phải lựa chọn cho được mô hình phù hợp với Việt Nam.

Nước Mỹ, nước Úc, nước Canada, nước New Zealand đều đã từng là thuộc địa của nước Anh và đều đã rất thành công khi áp dụng mô hình thể chế của Anh cho đất nước mình. (Nước Mỹ có mô hình tổ chức nhà nước hơi khác, nhưng về cơ bản, các mô hình thể chế khác đều chịu ảnh hưởng của Anh). Nhiều người cho rằng di sản lớn nhất của nước Anh là mô hình thể chế của nước này. Các nước cựu thuộc địa của Anh đã được tận hưởng được mô hình thể chế của Anh nên đều rất phát triển. Tuy nhiên, nếu nhận xét nói trên đúng cho nước Mỹ, nước Úc, nước Canada, nước New Zealand, thì có vẻ lại không hoàn toàn đúng cho Ấn độ, Pakistan và nhiều nước châu Á-Phi từng là thuộc địa của Anh khác.

Tại sao mô hình thể chế của nước Anh lại chỉ phát huy tác dụng ở một số nước, còn ở một số nước khác thì không? Câu trả lời nằm ở nền tảng văn hóa của các nước. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, các nước Mỹ, Úc, Canada, New Zealand có nền tảng văn hóa tương đồng với nước Anh. Người Anh đã không chỉ xuất khẩu thể chế, mà còn di dân và xuất khẩu văn hóa tới những nước trên. Trong lúc đó, nước Anh đã không thể xuất khẩu văn hóa của mình sang Ấn Độ, Pakistan và các nước cự thuộc địa khác. Chính vì thế mô hình thể chế của nước Anh ít phát huy tác dụng ở các nước nói trên. Điều dễ nhận thấy ở đây là: một mô hình thể chế chỉ phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa tương đồng và ít phát huy tác dụng ở các nước có nền tảng văn hóa khác biệt.

Tương tự cũng là điều chúng ta có thể nói về mô hình thể chế của nhà nước phúc lợi. Các nhà nước phúc lợi Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Phần lan, Na Uy…) là mô hình thể chế có thể được coi là thịnh vượng và tốt đẹp nhất đang tồn tại trên thế giới hiện nay. Ở các nước này, người dân sinh ra đã được nhà nước chăm lo đầy đủ về mọi mặt. Cuộc sống của họ hết sức an toàn, đầy đủ và hạnh phúc. Thế nhưng tại sao một mô hình thể chế tốt đẹp (Có người còn coi là mô hình thể chế chủ nghĩa xã hội nhất) lại không thể nhân rộng ra được ngoài vùng Bắc Âu? Lý do là vì thiếu nền tảng văn hóa của Bắc Âu không thể vận hành được một mô hình như vậy. “Biết thế nào là đủ” là một nét văn hóa rất đặc biệt của những người dân Bắc Âu. Những người dân này sẵn sàng đóng thuế cho nhà nước đến 70-75% thu nhập của mình mà không hề tâm tư, suy bì. Bất cứ ở một nơi nào khác trên thế giới, mức thuế như trên sẽ triệt tiêu động lực làm việc, còn ở các nước Bắc Âu thì lại không. Ví dụ từ các nước Bắc Âu một lần nữa khẳng định nền tảng văm hóa là rất quan trọng để một mô hình thể chế có thể thành công.

Về mặt vị trí địa lý, Việt Nam thuộc về nhóm các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, về mặt văn hóa, chúng ta lại thuộc về các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên). Ăn cơm bằng đũa, viết chữa tượng hình (Việt Nam đã từng có chữ nôm là chữa tượng hình) chỉ là một vài biểu hiện ra bên ngoài của văn hóa Đông Bắc Á. Cái nằm sâu bên trong ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách hành xử của cư dân ở vùng này là tinh thần và tư tưởng Nho giáo. Một trong những đặc điểm nổi bật của các nước này là truyền thống khoa bảng. Học hành, thi cử để làm quan là con đường phấn đấu được coi trọng nhất. Đây cũng là nền tảng văn hóa để nhà nước có thể tuyển dụng được những người tài giỏi nhất cho nền quản trị công.

Mô hình thể chế được hầu hết các nước Đông Bắc Á lựa chọn là nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state). Mô hình thể chế này đã đưa lại sự phát triển kỳ điệu cho cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan và gần đây là cả Trung Quốc. Sự thành công của các nước này cho thấy mô hình nhà nước kiến tạo phát triển rất phù hợp với nền tảng văn hóa của các nước Đông Bắc Á. Mà như vậy thì mô hình này có nhiều khả năng sẽ phù hợp với Việt Nam hơn cả.

Điều đáng nói ở đây là rất nhiều nước ở các vùng miền khác trên thế giới đã cố gắng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, nhưng đều đã không thành công. Trường hợp ngoại lệ , có lẽ, chỉ là Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất.

Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” được nhà nghiên cứu Chalmers Johnson đưa ra từ những năm tám mươi của thế kỷ trước khi ông nghiên cứu về sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Ông nhận thấy rằng trong sự phát triển thần kỳ ấy có vai trò rất quan trọng của nhà nước. Nhà nước Nhật Bản đã không chỉ tạo ra khuôn khổ cho sự phát triển, mà còn định hướng và thúc đẩy sự phát triển đó. Sau này, ngoài Nhật Bản ra, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc... đều được xem là những nhà nước kiến tạo phát triển.

Đặc trưng hết sức cơ bản của mô hình nhà nước này là nhà nước trực tiếp đề ra một kế hoạch phát triển công nghiệp (với những tham vọng lớn) và đầu tư mãnh mẽ về cơ chế, chính sách và nhiều khuyến khích khác để thúc đẩy công nghiệp phát triển. Theo các nhà nghiên cứu, đây là mô hình nhà nước nằm ở giữa nhà nước điều chỉnh Anh-Mỹ (theo chủ thuyết thị trường tự do) và nhà nước kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống).

Nhà nước kiến tạo phát triển không đứng ngoài thị trường, nhưng cũng không làm thay thị trường. Mà nhà nước kiến tạo phát triển chủ động can thiệp mạnh mẽ vào thị trường để thúc đẩy phát triển và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã được đề ra. Để đạt được mức tăng trưởng GDP gấp đôi, một nhà nước điều chỉnh (như Mỹ) sẽ phải mất đến 50 năm, trong lúc đó một nhà nước kiến tạo phát triển (như Trung Quốc) chỉ mất 10 năm.

Những nét đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển được tác giả Chalmers Johnson đưa ra là:

1. Một bộ máy hành chính gọn nhẹ, nhưng tinh hoa và hiệu quả.

2. Bộ máy hành chính được trao quyền đầy đủ để đưa ra những sáng kiến và vận hành hiệu quả.

3. Nhà nước thông qua các thiết chế tài chính và các hướng dẫn hành chính để can thiệp vào thị trường.

4. Có Bộ thương mại quốc tế và công nghiệp như một thiết chế mạnh điều phối chính sách phát triển công nghiệp.

Cũng nghiên cứu về nhà nước kiến tạo phát triển, tác giả Adrian Leftwith lại đưa ra những đặc điểm sau đây:

1. Một tầng lớp công chức hành chính tinh hoa hộ trợ cho nhà nước. Các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp công chức ưu tú này.

2. Nhà nước có tính độc lập, tự chủ cao trước các nhóm lợi ích và luôn luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết.

3. Nhà nước điều phối kinh tế thông qua một số thiết chế chuyên biệt (ví dụ như Bộ thương mại quốc tế và công nghiệp) có thực quyền.

4. Xã hội dân sự yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát xã hội dân sự rất chặt chẽ, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.

5. Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong thời kỳ đầu.

6. Các quyền dân sự bị hạn chế, đặc biệt là trong thời kỳ đầu. Nhà nước mang tính chuyên chế cao, nhưng lại có được sự chính danh và sự ủng hộ của dân chúng cao nhờ tạo được sự tăng trưởng kinh tế cao và sự phân phối thu nhập tương đối công bằng.

Nhiều người cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước kế hoạch hóa tập trung.   (Vietnamnet.vn 26/9) Về đầu trang

Cảnh tỉnh và răn đe

Lần đầu tiên một Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền được Bộ Chính trị ban hành, lại đúng vào thời điểm khi đại hội Đảng các cấp chuẩn bị triển khai.

Quy định này nhận được nhiều sự quan tâm từ dư luận và kỳ vọng sẽ góp phần ngăn chặn được tình trạng lộng quyền, lạm quyền trong công tác cán bộ và có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe những tổ chức, cá nhân đang có ý định chạy chức, chạy quyền.

Không phải ngẫu nhiên thực trạng “chạy chức”, “chạy quyền” lại được đề cập liên tục trong các quy định của Đảng trong thời gian gần đây. Bởi tình trạng này không chỉ là “nguy cơ” mà đã là thực tế diễn ra khá nhiều, với các hình thức, mức độ khác nhau, bằng các thủ đoạn, mánh lới, lợi ích nhóm đủ loại.

Có thể nói rằng, chưa bao giờ dư luận lo ngại, bức xúc về vi phạm trong bổ nhiệm cán bộ như vừa qua. Chồng bổ nhiệm vợ, bố bổ nhiệm con, anh bổ nhiệm em… dù không đủ tiêu chuẩn. Thế mới có hiện tượng “cả họ làm quan” hay muốn được bổ nhiệm, cất nhắc phải có các yếu tố như “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”…

Chạy chức, chạy quyền đã tràn qua nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tượng, kết nối thành bè cánh, phe nhóm, miếng mảng... hết sức tinh vi, bài bản. “Chạy” bằng vật chất, “chạy” bằng phi vật chất, trao đổi, hợp thương kiểu “ông có chân giò, bà thò chai rượu”, “có qua có lại”...

Nhiều vụ việc đã được nhắc tên như các điển hình về chạy chức, chạy quyền như vụ Trịnh Xuân Thanh, không nằm trong quy hoạch, không đúng quy trình công tác cán bộ, mà là sự “gửi gắm”... Hay ông Lê Phước Thanh (từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam) có biểu hiện ưu ái, vun vén cho gia đình trong việc quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, điều động và quyết định bổ nhiệm con trai là ông Lê Phước Hoài Bảo… Rồi còn hàng loạt vụ việc vừa qua đã bị lật tẩy, bị xử lý kỷ luật, cho thấy chạy chức, chạy quyền, lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ đã ở mức báo động.

Để bịt những khe hở, lỗ hổng trong công tác cán bộ, tạo cơ chế để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền một cách hiệu quả, Quy định lần này được kỳ vọng sẽ tạo ra sự răn đe và cảnh tỉnh mạnh mẽ. Quy định đã chỉ rõ các cơ chế kiểm soát quyền lực; nhận diện 6 hành vi chạy chức, chạy quyền; 8 hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức cũng như quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong chống chạy chức, chạy quyền, đồng thời đưa ra những hình thức xử lý mạnh mẽ.

Như nhiều ý kiến nhận định, quy định đã phần nào trả lời được câu hỏi “ai chạy, chạy ai”, “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế thế nào”. Cùng với các quy định, đề án đã có, Quy định sẽ tăng sức mạnh của kỷ luật Đảng, vai trò giám sát của Nhân dân, tạo ra "chiếc phanh" cơ chế, "cái lồng" kiểm soát hiệu quả.

Tuy nhiên, việc ngăn chặn, đẩy lùi nạn chạy chức, chạy quyền là công việc gian truân, đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ, chứ riêng quy định này sẽ không triệt tiêu ngay được. Bởi như nhiều phân tích đã chỉ ra, quy định cũng không thể “lường” hay “quét” hết được các biến đổi không ngừng của thực tiễn.

Như liên quan đến việc chống đưa người thân vào những vị trí quan trọng, quy định cũng mới đề cập đến quan hệ ruột thịt gần, nhưng thực tế vẫn còn đủ tình trạng thân quen, thậm chí là đồng hương, bạn bè cũng được cất nhắc vào những vị trí quan trọng. Và những người được cất nhắc ấy coi mối quan hệ đó như cái bình phong, hình thành những “ông giời con” ở cơ sở, tự kiêu, tự đại, tự mãn và tiếp tục nối dài đường dây “chạy”.

Bởi thế, cùng với quy định rất kịp thời đã có, vấn đề thực thi cũng được nhiều người lưu tâm. Trong đó, giải pháp quan trọng nhất là phải công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Bởi đây là yếu tố đặc biệt nhất để đảm bộ máy trong sạch, đảm bảo quyền lực được trao đúng người và giám sát cán bộ trong quá trình thực thi quyền lực. (Kinhtedothi.vn 26/9, Trần Hà) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.036.071 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này