Bản tin cải cách hành chính ngày 19/6/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Hà Nội được tự quyết thu phí và sử dụng nguồn phí thu được

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. TP.Long Khánh, Đồng Nai: Giải quyết thủ tục hành chính đạt trên 95%

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Làm rõ đặc thù dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp

4. Dịch vụ bưu chính – hành chính công: Phát huy vai trò của bưu điện trong chính quyền điện tử

5. Chuyển đổi số: Thủ tục thông quan hàng hóa và nộp thuế chỉ tính bằng giây

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Khánh Hòa: Quy định về công chức cấp xã áp dụng từ ngày 1-7

7. Quảng Trị: Xã "buộc" người dân nộp tiền để trả nợ quán xá và xây dựng nhà văn hóa

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Xử lý trách nhiệm đến cùng

9. Chúng ta có bất lực đến thế?

TIN THẾ GIỚI

10. Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nhật Bản và vợ bị bắt vì nghi án mua phiếu bầu

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Hà Nội được tự quyết thu phí và sử dụng nguồn phí thu được

Hà Nội được điều chỉnh mức hoặc tỷ lệ thu phí đã được cấp có thẩm quyền quyết định đối với các loại phí được quy định trong Danh mục phí, lệ phí.

Với tỷ lệ 91,51% đại biểu tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội sáng 19/6.

Theo đó, HĐND TP Hà Nội được quyền quyết định một số khoản thu phí trên địa bàn (phí chưa được quy định trong danh mục phí, lệ phí); điều chỉnh mức hoặc tỷ lệ thu phí đã được cấp có thẩm quyền quyết định đối với các loại phí được quy định trong Danh mục phí, lệ phí.

Ngân sách thành phố được hưởng 100% số thu tăng thêm từ các khoản thu phí để đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và chi sự nghiệp kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế…

Nghị quyết của Hà Nội cũng cho phép thành phố được hưởng 50% khoản thu tiền sử dụng đất khi bán tài sản công gắn liền trên đất để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; được hưởng toàn bộ số thu từ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, thoái vốn Nhà nước để bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội…

Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho biết một số đại biểu Quốc hội đề nghị cân nhắc thẩm quyền quyết định thu phí, lệ phí của Hà Nội. Song Ủy ban TVQH vẫn xin giữ quan điểm này, giống như Quốc hội từng quyết cho TP.HCM.

Khi ấy, HĐND TP.HCM đã ban hành một số chính sách thu phí, lệ phí như ban hành mức thu phí sử dụng tạm thời lòng đường để đỗ ôtô, điều chỉnh tăng từ 5.000 đồng/xe/lượt lên bình quân 30.000 đồng/xe/giờ; điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước xả thải công nghiệp theo hướng xả thải càng nhiều đóng càng cao; điều chỉnh giảm mức thu học phí đến mức tối thiểu…

“Quy định này phù hợp với thực tế nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong quản lý và điều hành”, ông Hải nhấn mạnh.

Một số ý kiến khác lại đề nghị cân nhắc việc cho phép Thành phố Hà Nội được hưởng 50% khoản thu tiền sử dụng đất khi bán tài sản công, vì đây là khoản thu lớn, có thể làm mất cân đối ngân sách Trung ương.

Ông Hải dẫn quy định về quản lý tài sản công cho thấy cơ quan, đơn vị phải di dời trụ sở được sử dụng tối đa 70% (riêng lĩnh vực quốc phòng, an ninh là 100%) số thu tiền sử dụng đất và tài sản trên đất của trụ sở cũ để trang trải chi phí liên quan đến việc bán, di dời, xây dựng cơ sở vật chất tại địa điểm mới; 30% còn lại nộp vào ngân sách.

Vì vậy, việc quy định cho Hà Nội được hưởng 50% số thu nộp ngân sách Nhà nước sau khi đã trừ chi phí liên quan cũng không ảnh hưởng lớn đến cân đối ngân sách Trung ương trong ngắn hạn, nhưng có ý nghĩa động viên, khuyến khích chính quyền địa phương cùng các cơ quan, đơn vị đẩy nhanh sắp xếp các cơ sở nhà, đất nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài sản công.

Ngoài ra, thành phố sẽ có thêm nguồn lực để xử lý những vấn đề liên quan đến công tác quy hoạch đô thị, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho phù hợp.

Cũng theo ông Hải, có ý kiến đề nghị xem xét lại quy định việc sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư trong dự thảo Nghị quyết. Nhưng theo báo cáo của Chính phủ, Hà Nội là địa phương không những tự bảo đảm nguồn cải cách tiền lương và các chính sách an sinh xã hội theo quy định, mà còn dư nguồn khá lớn. Năm 2018 dư khoảng 21.400 tỷ đồng; năm 2019 dư khoảng 28.300 tỷ đồng; năm 2020 dự kiến dư khoảng 39.720 tỷ đồng.

Do vậy, việc cho phép HĐND thành phố được quyết định sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư là phù hợp. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2020 và được thực hiện trong 05 năm. (VOV.vn 19/6, Vân Anh)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP.Long Khánh, Đồng Nai: Giải quyết thủ tục hành chính đạt trên 95%

Theo Ban Chỉ đạo cải cách hành chính TP.Long Khánh, đến nay, công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn thành phố được tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Nhờ vậy, 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết được tiếp nhận, giải quyết; công khai các bước thực hiện quy trình giải quyết các thủ tục hồ sơ trực tuyến mức độ 3, mức độ 4.

Kết quả giải quyết các thủ tục hành chính từ năm 2015 đến nay đạt tỷ lệ từ 95% trở lên… góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố ngày càng tăng trưởng, phát triển. (Baodongnai.com.vn 18/6, Nam Anh)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Làm rõ đặc thù dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp

Sáng 18/6, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã chủ trì Hội đồng nghiệm thu đề án khoa học: “Xây dựng tiêu chí, mô hình, quy trình và phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp”. Đề án do T.S Nguyễn Quốc Hoàn, Chánh Văn phòng Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện.

Phát biểu tại Hội đồng nghiệm thu, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hoàn, Chánh Văn phòng Bộ Tư pháp cho biết đề án được thực hiện trong 2 năm với 14 chuyên đề, 2 bài báo, 1 báo cáo khảo sát. Nội dung đề án đặt ra 4 nhiệm vụ là xây dựng tiêu chí đo lường, xây dựng mô hình đo lường, qui trình đo lường và phương pháp đo lường.

Theo đó, nhóm nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường trên cơ sở 5 yếu tố cơ bản của quá trình cung ứng dịch vụ công và gắn với dịch vụ công đặc thù của Bộ Tư pháp. Cụ thể đề xuất 92 tiêu chí đo lường sự hài lòng, trong đó có 70 tiêu chí đề xuất mới và 22 tiêu chí đo lường theo Đề án của Bộ Nội vụ và 9 tiêu chí bổ trợ khác. Trên cơ sở 101 tiêu chí, nhóm nghiên cứu xây dựng Ngân hàng câu hỏi để đánh giá sự hài lòng.

Về mô hình, nhóm nghiên cứu xác định với dịch vụ công do Bộ tư pháp trực tiếp giải quyết, thời gian thực hiện là đo lường thường xuyên qua Cổng dịch vụ công của Bộ tư pháp. Với dịch vụ công do Bộ Tư pháp quản lý nhưng không trực tiếp giải quyết, việc đo lường tập trung vào các tiêu chí để thực hiện vai trò của Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước, tham mưu xây dựng chính sách. Việc này được thực hiện hàng năm và định kỳ khảo sát lại để kiểm chứng những cải thiện trong cung cấp dịch vụ công.

Theo Đề án, trên cơ sở đề xuất của Nhóm nghiên cứu về tiêu chí, mô hình, qui trình và phương pháp đo lường, cần sớm nghiên cứu, tham mưu trình Lãnh đạo Bộ ban hành Đề án. Việc đo lường cần thực hiện định kỳ hàng năm để thúc đẩy các cơ quan nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ công, chất lượng phục vụ người dân, đặc biệt đảm bảo yêu cầu cải cách hành chính của Chính phủ là trên 80% người dân, tổ chức hài lòng vào năm 2020.

Phản biện tại hội đồng, T.S Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý cho rằng về tổng quan, triển khai Đề án này rất phù hợp trong điều kiện hiện nay. Xu hướng chung của thế giới là hướng tới đo lường sự hài lòng với Thủ tục hành chính đặt ra. T.S Hoàng Quốc Hùng, Giám đốc Trung tâm lý lịch Tư pháp quốc gia cũng đánh giá căn cứ nêu ra trong Đề án hết sức xác đáng.

Bà Nguyễn Thị Mai, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Bổ trợ Tư pháp nhận định công trình được nghiên cứu bài bản cả về lý luận và số lượng... Hầu hết thành viên Hội đồng nghiệm thu đều ghi nhận, đánh giá cao nội dung, cấu trúc của Đề án khoa học. Ngoài ra, TS Chu Thị Hoa, Viện Khoa học pháp lý cho rằng đề án đưa ra đặc thù của dịch vụ công của ngành Tư pháp, một số dịch vụ công còn gắn với qui trình tố tụng nên đề nghị cần nghiêm túc, cẩn trọng hơn so với các dịch vụ công khác.

Sau khi nghe các ý kiến phản biện, nhận xét của Ủy viên Hội đồng…, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cho rằng Ban chủ nhiệm đề tài đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ được giao, đề cương được phê duyệt, quá trình thực hiện Dự án nghiêm túc. Chất lượng nghiên cứu nhìn đã đáp ứng được yêu cầu theo quy định. Quá trình nghiên cứu để xây dựng Đề án, Ban chủ nhiệm đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp, huy động được lực lượng cán bộ tham gia nghiên cứu đông đảo.

Thứ trưởng chũng chỉ ra những ưu điểm của Đề án, đặc biệt là các đề xuất giải pháp thực hiện Đề án, kiến nghị cụ thể. Kết quả nghiên cứu của đề án với tính chất là một công trình xây dựng khoa học, thể hiện hoạt động nghiên cứu công phu nghiêm túc của Nhóm nghiên cứu...

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua ý kiến của phản biện, của Hội đồng, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị Ban chủ nhiệm tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện một số nội dung: Phương pháp, tiêu chí, mô hình, quy trình đo lường sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực của Bộ Tư pháp. “Cần làm rõ tính đặc thù của các dịch vụ công, từ đó có những đề xuất, cách thực hiện phương pháp tổ chức thực hiện. Việc chúng ta áp dụng kết quả nghiên cứu này với Bộ Tư pháp và các Bộ ngành khác có khác nhau gì khác không?. Báo cáo cần chỉ rõ”, Thứ trưởng Tịnh nói. (Baophapluat.vn 18/6, Hồng Mây)Về đầu trang

Dịch vụ bưu chính – hành chính công: Phát huy vai trò của bưu điện trong chính quyền điện tử

Mạng lưới bưu điện đã thể hiện rõ vai trò cánh tay nối dài của các cơ quan hành chính nhà nước. Mục tiêu xa hơn nữa, bưu điện sẽ là nhân tố tích cực và quan trọng của chính quyền điện tử, chính phủ điện tử.

Minh chứng rõ hơn cho nhận định bưu điện đã thể hiện được vai trò là cánh tay nối dài của các cơ quan hành chính nhà nước, đưa các dịch vụ hành chính công đến gần với người dân hơn, ông Đỗ Văn Tư, Giám đốc Bưu điện tỉnh Hưng Yên cung cấp những số liệu cụ thể tại địa phương này: Số lượng hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC) phát sinh qua dịch vụ bưu chính công ích tăng dần qua các năm: Năm 2018 trên 70.000 hồ sơ, năm 2019 đạt trên 100.000 hồ sơ. Trong 4 tháng đầu năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành hướng dẫn người dân tăng cường thực hiện các TTHC công trực tuyến, lượng hồ sơ phát sinh qua bưu điện đã đạt trên 50.000 hồ sơ.

Khi mới bắt đầu triển khai, cán bộ nhân viên bưu điện chưa có khả năng chuyên sâu về nghiệp vụ nên việc giải đáp thắc mắc, hỗ trợ người dân về các TTHC còn hạn chế. Công tác truyền thông cũng chưa được đẩy mạnh nên việc người dân biết và sử dụng dịch vụ công qua bưu điện chưa nhiều. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường công tác đào tạo cho lực lượng nhân viên bưu điện về kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ người dân tốt hơn. Bên cạnh đó, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, cố gắng 100% điểm phục vụ của bưu điện đủ điều kiện để tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả TTHC. Chúng tôi cũng sẽ đẩy mạnh công tác truyền thông bao phủ toàn tỉnh để người dân, tổ chức, doanh nghiệp nắm bắt được dịch vụ của bưu điện và tích cực tham gia. Qua đó, bưu điện ngày càng thể hiện rõ nét hơn vai trò là cánh tay nối dài của cơ quan hành chính nhà nước, đưa dịch vụ công đến người dân được tốt nhất”, Giám đốc Đỗ Văn Tư thẳng thắn chia sẻ.

Trước khi có Quyết định số 45/2016 của Thủ tướng Chính phủ, người dân và doanh nghiệp chỉ có 2 lựa chọn khi muốn thực hiện dịch vụ công: Đến trực tiếp trung tâm dịch vụ hành chính công; Thực hiện qua cổng dịch vụ công của quốc gia hoặc của các bộ, ngành, địa phương.

“Giờ đây, người dân và doanh nghiệp đã có thêm hình thức thứ ba là qua mạng bưu chính công cộng và dịch vụ bưu chính công ích; không phải trực tiếp giao tiếp với cán bộ thực hiện TTHC, qua đó giúp giảm bớt nhũng nhiễu không cần thiết”, ông Nguyễn Quốc Vinh, Thành viên Hội đồng Thành viên Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam không giấu vẻ tự hào khi trao đổi với chúng tôi.

“Nắm bắt chủ trương của Chính phủ là ngày càng tăng cường dịch vụ công trực tuyến, Bưu điện Việt Nam đã nghiên cứu, triển khai giải pháp định danh và xác thực điện tử PostID. Mỗi người dân được cấp miễn phí 1 tài khoản để truy cập Cổng dịch vụ công quốc gia cũng như của các bộ, ngành, địa phương để sử dụng các dịch vụ công trực tuyến. Bưu điện Việt Nam cũng đã chủ động phát triển giải pháp hệ sinh thái cho mảng dịch vụ hành chính công, cài app (ứng dụng) cho người dân, tiến tới mỗi người dân cài app này đều có kênh giao tiếp với các cấp chính quyền địa phương, qua đó có thể phản ánh kiến nghị với chính quyền cũng như sử dụng các dịch vụ công trực tuyến”, ông Nguyễn Quốc Vinh chia sẻ.

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, vị lãnh đạo Bưu điện Việt Nam đặc biệt bày tỏ sự tâm đắc đối với Đề án “Cung ứng dịch vụ công qua mạng bưu chính công cộng, dịch vụ bưu chính công ích tại địa phương” mà Bưu điện Việt Nam đã tích cực phối hợp xây dựng theo chỉ đạo của Bộ TT&TT, đang trình Chính phủ phê duyệt.

Nếu đề án được thông qua, người dân sẽ hết sức thuận lợi khi làm dịch vụ công. Ví dụ, các trung tâm phục vụ hành chính công của các cấp chính quyền địa phương sẽ được đưa về các bưu điện trung tâm tại địa phương. Người dân ra bưu điện hoàn toàn có thể sử dụng các dịch vụ hành chính công vừa liên thông theo ngành dọc và mở rộng liên kết cả theo chiều ngang. Bên cạnh đó, Bưu điện sẽ cung cấp giải pháp chính quyền điện tử cho các địa phương chưa có điều kiện cung ứng.

“Chúng tôi hoàn toàn có thể cung cấp các trang thiết bị, và có đội ngũ nhân viên bưu điện sẵn sàng tham gia tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả TTHC ngay tại các trung tâm phục vụ hành chính công. Qua đó giúp giảm biên chế các cấp chính quyền theo đúng Nghị quyết số 18 của Trung ương 6 về chuyển giao một số nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho các doanh nghiệp. Nếu Bưu điện được tham gia cung cấp giải pháp hành chính công, có thể nói đây là một bước cải tiến còn mạnh hơn nữa so với hiện nay. Sự cải cách hành chính mạnh mẽ chính là một động lực để phát triển kinh tế xã hội”, ông Nguyễn Quốc Vinh khẳng định. (Vietnamnet.vn 19/6, Bình Minh)Về đầu trang

Chuyển đổi số: Thủ tục thông quan hàng hóa và nộp thuế chỉ tính bằng giây

Theo đánh giá của lãnh đạo Tổng cục Hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển sang phương thức quản lý điện tử đã mang đến cho ngành Hải quan bước chuyển lịch sử.

Trao đổi với phóng viên trong cuộc gặp gỡ vừa được tổ chức, lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã có đánh giá, nhìn lại những thay đổi của ngành nhờ ứng dụng CNTT và chuyển đổi trong hoạt động theo phương thức hiện đại.

Ông Nguyễn Dương Thái, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết: “10 năm qua mang tính bước ngoặt lịch sử của Hải quan Việt Nam khi chuyển mình từ phương thức quản lý thủ công, bán điện tử sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên quản lý rủi ro, thực hiện thủ tục hải quan điện tử, ứng dụng CNTT và sử dụng trang thiết bị hiện đại”.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chia sẻ, năm 2014, lần đầu tiên Hải quan Việt Nam sử dụng hệ thống hải quan tự động (VNACCS/VCIS). Cho đến thời điểm hiện tại, tất cả các thủ tục hải quan cốt lõi hoàn toàn thực hiện bằng phương thức tự động thông qua thông quan tự động tại tất cả các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc với hơn 99% doanh nghiệp tham gia. Hệ thống này cũng xử lý hơn 99,6% tờ khai và thời gian tiếp nhận, xử lý, trả kết quả trong thời gian chỉ từ 1-3 giây.

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, nhờ hệ thống thông quan tự động, thời gian thông quan những lô hàng xuất khẩu giàm 3 giờ, và giảm 6 giờ với lô hàng nhập khẩu. Với khoảng 11- 12 triệu tờ khai/năm, hệ thống thông quan điện tử đã giúp tiết kiệm khoảng 200 triệu USD.

Cũng theo lãnh đạo Tổng cục Hải quan, hiện đã có hơn 98% thuế, phí, lệ phí với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện bằng phương thức điện tử tiên tiến.

Nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 là hình thức nộp tiền thuế và các khoản phải nộp khác qua ngân hàng thương mại phối hợp thu với Tổng cục Hải quan thông qua Cổng thanh toán điện tử Hải quan.

Năm 2019, Tổng cục Hải quan tiếp tục xây dựng và triển khai đề án “Chương trình nộp thuế điện tử Doanh nghiệp nhờ thu”. Đề án được nâng cấp trên nền tảng Hệ thống nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp thường xuyên làm thủ tục xuất nhập khẩu có số lượng lớn tờ khai phải nộp tiền thuế, có đủ năng lực tài chính. Hiện đã có 43 ngân hàng phối hợp thu với Tổng cục Hải quan, 29 ngân hàng triển khai kết nối 24/7, 6 ngân hàng triển khai chương trình doanh nghiệp nhờ thu. “Thời gian nộp thuế trước đây tính bằng giờ thì hiện tại chỉ tính chỉ bằng giây không kể thời gian khai báo”, ông Thái cho biết.

Không chỉ phục vụ cho cơ quan Hải quan và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hệ thống thu thuế điện tử còn phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, chẳng hạn việc thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng cảng biển Hải Phòng qua Cổng thanh toán điện tử Hải quan 24/7 được triển khai đầu năm 2020 với 4 ngân hàng phối hợp thu.

Cũng theo đại diện Tổng cục Hải quan, trong tương lai, hệ thống này sẽ phục vụ thanh toán bằng phương thức điện tử không chỉ giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước (B2G) mà còn cả thanh toán điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp tham gia Cơ chế một cửa quốc gia.

Triển khai dịch vụ công trực tuyến hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, góp phần tích cực vào công tác cải cách thủ tục hành chính.

Thực hiện Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử và Kế hoạch triển khai Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan chính thức triển khai Hệ thống DVCTT từ 2017.

Đến nay gần 90% thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan đã được cung cấp DVCTT mức độ 3,4, trong đó 100% các thủ tục cốt lõi của ngành Hải quan đã được cung cấp DVCTT ở mức độ 4. Hơn 98% số thủ tục hành chính của ngành Hải quan trong tổng số 192 thủ tục được thực hiện bằng phương thức điện tử.

Theo dự kiến, Tổng cục Hải quan sẽ tích hợp 60 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 lên Cổng dịch vụ công quốc gia trong năm 2020 theo Danh mục dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia năm 2020 mà Bộ Tài chính vừa ban hành.

Tổng cục Hải quan cũng là cơ quan chủ trì thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Báo cáo từ đơn vị này cho biết: tính đến ngày 30/5, có 13 Bộ, ngành tham gia kết nối; 198 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia xấp xỉ 3,104 triệu bộ hồ sơ và trên 38,7 nghìn doanh nghiệp tham gia. (Ictvietnam.vietnamnet.vn 18/6, Duy Vũ)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Khánh Hòa: Quy định về công chức cấp xã áp dụng từ ngày 1-7

UBND tỉnh Khánh Hòa vừa có quyết định ban hành quy định về tiêu chuẩn, trình độ chuyên ngành đối với công chức cấp xã và việc quản lý cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1-7.

Theo đó, công chức cấp xã phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo khoản 1 Điều 1 Thông tư số 13/2019 của Bộ Nội vụ. Riêng tiêu chuẩn, trình độ chuyên ngành của chỉ huy trưởng quân sự cấp xã và trưởng công an xã thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.

Về trình độ chuyên ngành, đối với khu vực đồng bằng và đô thị, các công chức cấp xã đều phải tốt nghiệp đại học trở lên với chuyên ngành phù hợp. Cụ thể, chức danh văn phòng - thống kê yêu cầu đã qua đào tạo về lĩnh vực văn phòng, thống kê, cải cách hành chính, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, như chuyên ngành: văn thư, lưu trữ, quản lý nhà nước, luật, quản trị văn phòng... Chức danh địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) đã qua đào tạo về địa chính, xây dựng, đô thị và môi trường, như chuyên ngành: địa chính, quản lý đất đai, trắc địa, xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, quản lý đô thị...

Chức danh địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) phải qua đào tạo về lĩnh vực phát triển nông thôn, thủy lợi, địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường, như chuyên ngành: địa chính, quản lý đất đai, xây dựng, quy hoạch, trắc địa, tài nguyên, lâm nghiệp... Chức danh tài chính - kế toán cần đã qua đào tạo một trong các chuyên ngành: tài chính, kế toán, kiểm toán. Chức danh tư pháp - hộ tịch phải có chuyên ngành luật. Chức danh văn hóa - xã hội cần đã qua đào tạo về văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, thông tin truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, gia đình, trẻ em và thanh niên.

Các công chức cấp xã làm việc tại miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn yêu cầu trình độ trung cấp trở lên với chuyên ngành tương ứng với từng chức danh công chức cấp xã làm việc tại đồng bằng và đô thị.

Quyết định cũng nêu, riêng công chức cấp xã đã tuyển dụng trước ngày Thông tư số 13 có hiệu lực mà chưa đạt chuẩn thì thực hiện theo khoản 3 Điều 1 thông tư này. (Báo Khánh Hòa ngày 19/6, N.V)Về đầu trang

Quảng Trị: Xã "buộc" người dân nộp tiền để trả nợ quán xá và xây dựng nhà văn hóa

Nhiều hộ dân ở miền núi tỉnh Quảng Trị bị chính quyền địa phương yêu cầu nộp số tiền lớn mới giao đất sản xuất. Đáng nói, số tiền này sau đó được lãnh đạo xã giải thích là do người dân "tự nguyện đóng góp" để xã trả nợ và xây dựng nhà văn hóa.

Tháng 3-2020, xã Hải Phúc sáp nhập vào xã Ba Lòng, huyện Đakrông (Quảng Trị). Bốn tháng trước khi sáp nhập, UBND xã Hải Phúc tiến hành giao đất trên thực địa cho hàng chục hộ dân tham gia canh tác trên địa bàn. Điều đáng nói, xã này yêu cầu người dân nộp từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng mới tiến hành giao đất mà không nói rõ lý do thu tiền.

Ông Nguyễn Ngọc Thành (55 tuổi, ngụ thôn Tân Xá), cho biết năm 2004 gia đình ông khai hoang gần 2 ha đất ở thôn 5, xã Hải Phúc để trồng rừng. Quá trình canh tác, gia đình ông có đóng tiền thuê mượn đất cho UBND xã Hải Phúc với thời hạn 5 năm một lần. Đến tháng 11-2019, UBND xã Hải Phúc thống nhất giao nhiều diện tích đất sản xuất ở thôn 5 cho người dân, trong đó có thửa đất rộng gần 2 ha của ông Thành.

Tuy nhiên, trước khi tiến hành lập biên bản giao đất trên thực địa để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay còn gọi là sổ đỏ), UBND xã Hải Phúc yêu cầu ông Thành cùng nhiều hộ khác phải nộp 15 triệu đồng/ha đất. Đối với phần đất của ông, xã Hải Phúc yêu cầu phải nộp 25,5 triệu đồng. "Vì sợ xã thu hồi diện tích đất đã canh tác lâu nay nên gia đình đã vay mượn, nộp đủ cho xã 25,5 triệu đồng"-ông Thành tâm sự.

Trong khi đó, ông Lê Công Sáng (ngụ thôn Tân Xá) phải vay mượn nộp cho xã này 18 triệu đồng để được cấp thửa đất rộng hơn 1,2 ha, đã canh tác 15 năm nay. Tuy nhiên, quá trình nộp tiền ở UBND xã Hải Phúc, ông Sáng khá bức xúc vì cán bộ thu tiền nhưng không ghi biên lai hay giấy tờ xác nhận gì. Khi yêu cầu, cán bộ xã mới in cho ông tờ giấy biên nhận sơ sài với lý do nhận tiền là "tiền mượn đất".

Qua tìm hiểu được biết, ngoài ông Sáng chỉ có thêm vài người được cấp giấy biên nhận như trên. Nhiều người khác dù đã nộp tiền cho xã nhưng không có giấy tờ xác nhận gì và "tù mù" về lý do xã thu tiền.

Trao đổi với phóng viên, ông Hồ Xuân Hoàng, Chủ tịch UBND xã Ba Lòng (trước khi sáp nhập là Chủ tịch UBND xã Hải Phúc) phủ nhận việc UBND xã Hải Phúc yêu cầu người dân nộp 15 triệu đồng/ha đất sản xuất được cấp. Theo ông, một số người dân được xã giao đất đã "tự nguyện đóng góp" để xã xây dựng công trình nhà văn hóa thôn Tà Lang và trả nợ cho quán xá. Theo đó, có khoảng 9 hộ dân ở thôn Tân Xá đã đóng góp cho xã từ 2-5 triệu đồng. Tuy nhiên, ông Hoàng không nhớ tổng số tiền người dân đã đóng góp là bao nhiêu vì không có trong sổ sách.

Theo tìm hiểu, tùy theo diện tích đất, nhiều hộ dân ở thôn Tân Xá đã nộp cho UBND xã Hải Phúc với số tiền từ 2 - 25,5 triệu đồng. Nhiều hộ dân khẳng định, vì cuộc sống còn khó khăn nên không có chuyện "tự nguyện đóng góp" cho xã với số tiền lớn như vậy nếu không được yêu cầu.

Nhiều hộ dân thôn Tân Xá đã nộp tiền cho xã Hải Phúc cho biết, khoảng tháng 11-2019, UBND xã có văn bản gửi cho người dân thông báo về số tiền phải nộp là 15 triệu đồng/ha đất. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, cán bộ địa chính xã này đã đến từng nhà để thu hồi lại văn bản này.

Về sự việc này, ông Hồ Xuân Hoàng cho hay, khi UBND xã Hải Phúc ra văn bản ông đang đi công tác ở xa. Đến khi trở về nghe người dân phản ánh mới biết văn bản sai quy định nên chỉ đạo thu hồi, hủy bỏ. "Tôi nói với anh em làm như này là sai, ép dân là không được. Phải thỏa thuận, nếu dân thỏa thuận được thì nhất trí, không thì thôi"- ông Hoàng nói. (Người lao động 18/6, Đức Nghĩa)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Xử lý trách nhiệm đến cùng

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình vừa yêu cầu các bộ và địa phương được nêu tên khẩn trương xử lý và báo cáo gửi Chính phủ về việc xử lý các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật được ban hành. Đây là lần đầu tiên các bộ, địa phương ban hành văn bản trái pháp luật được nêu rõ tên cụ thể.

Theo đó, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cơ bản, đồng ý với nội dung tại Báo cáo số 98/BC-BTP ngày 29.4.2020 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2019, phương hướng, nhiệm vụ năm 2020. Trên tinh thần đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Quyết định số 209/QĐ-TTg ngày 7.2.2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ và nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 12.2.2020 của Thủ tướng Chính phủ… Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, thống kê về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; công bố, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác kết quả rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.

Đặc biệt, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu HĐND tỉnh Phú Yên, UBND các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Cần Thơ, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Lâm Đồng, Nam Định, Hà Giang, Đắk Lắk, Hải Dương khẩn trương xử lý dứt điểm 21 văn bản có nội dung trái pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận; báo cáo kết quả xử lý, lý do chậm xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản, kết quả khắc phục hậu quả và xử lý trách nhiệm; gửi kết quả đến Bộ Tư pháp trước ngày 30.8.2020 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài việc nêu tên các địa phương chậm xử lý văn bản trái pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cũng chỉ rõ các Bộ Công an, Quốc phòng, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Lao động, Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo và UBND các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Hà Nội, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, Thái Bình khẩn trương xử lý dứt điểm 17 văn bản có quy định trái pháp luật; báo cáo kết quả xử lý, lý do chậm xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản, kết quả khắc phục hậu quả và xử lý trách nhiệm; gửi kết quả đến Bộ Tư pháp trước ngày 30.8.2020 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, có thể thấy đây là lần đầu tiên các bộ, ngành, địa phương ban hành văn bản trái pháp luật được nêu tên, công khai trên các phương tiện thông tin. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật thiết nghĩ không chỉ dừng lại ở việc nêu tên các bộ, ngành, địa phương mà còn phải chỉ rõ trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật; cũng như việc thực hiện xử lý trách nhiệm đến cùng của cá nhân đó. (Daibieunhandan.vn 18/6, Đình Khoa)Về đầu trang

Chúng ta có bất lực đến thế?

“Tôi không ủng hộ việc cắt điện, cắt nước”, ĐBQH Nguyễn Mai Bộ (An Giang) nói thẳng trong phiên thảo luận sáng 18.6 của Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể là, quy định bổ sung biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính “ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước tại địa điểm vi phạm đối với cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm”. Nhiều đại biểu Quốc hội khác chia sẻ quan điểm này và yêu cầu phải bỏ ngay đề xuất này ra khỏi dự thảo Luật.

Luật Xử lý vi phạm hành chính đã có ít nhất 23 biện pháp được quy định tại 4 điều luật để Nhà nước áp dụng cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và đình chỉ các vi phạm. Cụ thể là, Điều 86 quy định các biện pháp cưỡng chế hành chính, Điều 119 quy định các biện pháp ngăn chặn và Điều 21 quy định các biện pháp buộc khôi phục tình trạng ban đầu và Khoản 1 Điều 76 quy định người chậm nộp phạt thì mỗi ngày phải tính thêm 5,5% tiền phạt. Trong khi các biện pháp của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành có tính trực tiếp để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại chưa được thực thi nghiêm túc, đầy đủ thì đề xuất của Chính phủ, theo ĐBQH Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) đã cho thấy “cơ quan công quyền của chúng ta rất yếu kém, rất bất lực và pháp luật không nghiêm”.

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long cho biết, có 2 lý do khiến Chính phủ đề xuất bổ sung biện pháp này. Một là, Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chưa có quy định về biện pháp cưỡng chế trong trường hợp đối tượng vi phạm không chấp hành quyết định có áp dụng các hình thức như đình chỉ hoạt động, tước giấy phép hoạt động. Hai là, Điều 86 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định chung, thực tế, trong một số trường hợp đặc biệt như ở lĩnh vực xây dựng và môi trường là không cưỡng chế được.

“Báo cáo thật với Quốc hội là phạm vi áp dụng và đối tượng rất hạn chế trong trường hợp không xử lý được trên thực tế thôi”, Bộ trưởng Lê Thành Long nói. Dẫu vậy, nội dung dự thảo Luật lại nói khác. Biện pháp cắt điện, cắt nước bắt nguồn từ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, từng được quy định tại Nghị định 180 năm 2007 để đình chỉ thi công công trình xây dựng trái phép. Nhưng với đề xuất của Chính phủ, phạm vi áp dụng đã mở rộng ra toàn bộ các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Dù Bộ trưởng nói rằng, “phạm vi áp dụng và đối tượng sẽ rất hạn chế” nhưng rõ ràng, nếu đưa biện pháp này vào Luật thì nguy cơ lạm dụng là rất lớn vì biện pháp này dễ thực hiện nhất. “Người có thẩm quyền chỉ ra lệnh cho cơ quan điện, nước cắt điện, nước là người ta làm ngay trong khi hậu quả có thể vô cùng lớn”, ông Nguyễn Hữu Cầu nhận định và dẫn chứng, một trang trại ở Nghệ An có khoảng 3.000 - 4.000 con lợn, nếu chủ trang trại vi phạm về môi trường, chúng ta bảo họ chưa xử lý xong nên cắt điện, nước thì trang trại sẽ vận hành thế nào? Lợn sống thế nào? Hay người nuôi tôm vùng đồng bằng miền Tây Nam bộ, nếu vi phạm hành chính nhưng chưa khắc phục được mà chúng ta cắt điện thì cả một đìa tôm đang dùng điện để lấy oxi, chỉ cắt 5 phút thôi có lẽ tôm cũng chết hết, ông Nguyễn Mai Bộ bổ sung. “Đây là biện pháp không có tính nhân văn bởi những người, đối tượng không liên quan đến hành vi vi phạm hành chính lại trở thành nạn nhân của hành vi vi phạm”, ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) nói thẳng.

Nhiều ví dụ khác cũng đã được các đại biểu dẫn chứng cho thấy những hệ lụy mà biện pháp cắt điện, cắt nước có thể gây ra nếu Quốc hội chấp thuận đề xuất của cơ quan soạn thảo. Trong đó, phải kể đến một hệ lụy phức tạp hơn mà cơ quan soạn thảo không biết đã tính tới hay chưa, đó là với biện pháp này, chúng ta đang lấy quyền lực của hành chính nhà nước để can thiệp vào hoạt động dân sự. Hợp đồng cung cấp dịch vụ điện nước không có một điều khoản nào quy định rằng nếu sai phạm hành chính thì bị cắt điện, cắt nước. Trong khi đó, quyết định cắt điện, nước là quyết định hành chính. “Tôi khẳng định, nếu quyết định này bị khởi kiện ra tòa, trừ trường hợp chúng ta ép tòa phải xử để cho chính quyền đúng còn thực chất là sai hoàn toàn. Biện pháp này là trái luật”, ông Nguyễn Mai Bộ nhấn mạnh.

“Tôi đề nghị Quốc hội nên xem xét lại biện pháp này. Không lẽ chúng ta lại bất lực đến mức như vậy?”, ông Nguyễn Hữu Cầu đặt câu hỏi. Thực ra, bộ máy công quyền của chúng ta không bất lực đến thế. Chỉ là một bộ phận trong bộ máy ấy muốn chọn cách làm dễ dàng hơn, giành phần thuận lợi hơn cho quản lý nhà nước mà thôi. Vì thế, câu hỏi đúng nên là, chúng ta chấp nhận sự tồn tại của tư duy quản lý và tư duy hoạch định chính sách như vậy đến bao giờ? (Đại biểu nhân dân 19/6, tr2, Quỳnh Chi)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nhật Bản và vợ bị bắt vì nghi án mua phiếu bầu

Các công tố viên Tokyo cho biết trong một tuyên bố rằng cựu Bộ trưởng Tư pháp Katsuyuki Kawai và vợ Anri đã trả 1,7 triệu yên (15.900 USD) cho 5 người vào năm ngoái để bà được bầu vào Thượng viện năm 2019.

Theo nguồn tin tố cáo, ông Katsuyuki Kawai đã trao tổng cộng 24 triệu yên cho khoảng 90 người, bản tuyên bố cho biết.

Đây là một đòn giáng mạnh vào Thủ tướng Shinzo Abe, khi ông ra sức ủng hộ ông Katsuyuki Kawai, người trước đây từng là cố vấn chính sách đối ngoại cho ông Abe.

Ông Katsuyuki Kawai đã từ chức bộ trưởng vào tháng 10-2019 sau khi các báo cáo về sự bất thường trong việc bầu cử của vợ ông.

"Tôi chưa bao giờ tham gia vào các hoạt động chính trị đáng xấu hổ dưới ánh sáng của lương tâm, cũng không trái pháp luật", hãng tin Kyodo dẫn lời ông Katsuyuki Kawai vào ngày 17-6.

Bà Anri từ chối trả lời về thông tin mua phiếu bầu, các phương tiện truyền thông cho biết. Hôm 17-6 , bà nói với các phóng viên rằng luật sư đã khuyên bà không nên phát biểu ý kiến về vụ việc này.

Các đại biểu không thể bị bắt trong khi quốc hội đang họp. Phiên họp của Quốc hội kết thúc vào ngày 17-6 và ngày 18-6 hai vợ chồng cựu bộ trưởng bị bắt.

Ông Abe trở lại vai trò thủ tướng vào tháng 12-2012. Vào tháng tháng 11-2019, ông đã trở thành thủ tướng tại vị lâu nhất của Nhật Bản. Nhiệm kỳ của ông sẽ kết thúc vào tháng 9-2021. Trong hai cuộc thăm dò dư luận vào tháng 5-2020, sự ủng hộ của cử tri dành cho ông đã giảm xuống dưới 30%. Đồng thời, có suy đoán rằng ông có thể phải từ chức sớm hơn.

"Trách nhiệm của Thủ tướng Abe trong việc bổ nhiệm ông Kawai làm bộ trưởng tư pháp sẽ được đặt câu hỏi", Giáo sư khoa học chính trị Tomoaki Iwai, ĐH Nihon, nói. "Xếp hạng tín nhiệm của ông ấy có thể còn giảm hơn nữa".

Các nguồn tin chính trị và các chuyên gia cho biết vị thế của Thủ tướng Abe sẽ bị suy yếu nhưng khó có thể từ chức ngay lập tức, vì Nhật Bản có nguy cơ chứng kiến xu hướng bùng phát trở lại của đại dịch Covid-19. (Người lao động 18/6, Gia Minh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.024.357 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này