Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 15/12/2020
1. Chi tiết những thay đổi của thẻ bảo hiểm y tế mới có lợi cho người dân
2. Sửa đổi chính sách nghỉ hưu trước tuổi khi tinh giản biên chế
4. Đà Nẵng đơn giản hóa hơn 300 thủ tục hành chính
5. TP Hồ Chí Minh: Ứng dụng GIS phát triển đô thị thông minh
6. Kho bạc Hà Nội hoàn thành “phủ sóng” dịch vụ công trực tuyến
7. Quy định mới về chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số
8. Tỉnh Hải Dương giải quyết kịp thời những kiến nghị từ cơ sở
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Xu hướng “phổ cập cao học”, đi học chỉ để xóa bằng tại chức, chuẩn hóa chức danh
10. Có cần phải vội vã thế không?
11. Không hạ chuẩn đánh giá để lấy kết quả thi đua
12. Trung Quốc xem xét thành lập cơ quan mới chuyên kiểm soát đại dịch
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Chi tiết những thay đổi của thẻ bảo hiểm y tế mới có lợi cho người dân
Thẻ bảo hiểm y tế mẫu mới được sử dụng chất liệu giấy tốt hơn và được ép plastic sẽ khắc phục được tình trạng mã vạch in trên thẻ bị mờ.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, thẻ bảo hiểm y tế mới sẽ được sử dụng chính thức từ ngày 1/4/2021. So với mẫu thẻ hiện hành, mẫu thẻ bảo hiểm y tế mới có nhiều điểm khác biệt, mang lại nhiều tiện ích cho người tham gia.
Theo Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh, mẫu thẻ bảo hiểm y tế mới là một giải pháp cải cách hành chính hiệu quả của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tạo được nhiều thuận lợi cho người tham gia, cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế và cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Cụ thể, đối với người tham gia: Kích thước thẻ bảo hiểm y tế được thiết kế nhỏ gọn hơn, hình thức đẹp hơn (bằng với kích thước thẻ căn cước công dân và một số loại thẻ ATM của các ngân hàng thương mại hiện nay) thuận tiện khi cất giữ, bảo quản trong ví, hạn chế các trường hợp bị mất, hỏng thẻ bảo hiểm y tế.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là mã số thẻ bảo hiểm y tế mới là 10 ký tự mã số bảo hiểm xã hội của người tham gia, được sử dụng để tra cứu thông tin về thẻ bảo hiểm y tế (thay thế 15 ký tự mã số thẻ bảo hiểm y tế hiện nay).
Việc thay đổi này nhằm mục đích giảm bớt số lượng ký tự người tham gia cần khai báo khi tra cứu trên Cổng Thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam (tại địa chỉ truy cập http://baohiemxahoi.gov.vn) hoặc khai báo khi làm thủ tục đề nghị tiếp tục tham gia bảo hiểm y tế; cấp lại, đổi thẻ; kiểm tra chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế được hưởng trên Cổng dịch vụ công của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (tại địa chỉ truy cập https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn).
Đặc biệt mẫu thẻ mới dùng dấu phiên hiệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và in chữ ký quét của Trưởng ban Quản lý Thu - Sổ, Thẻ (hoặc người đứng đầu đơn vị thuộc Bảo hiểm xã hội được Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao ký thừa lệnh) giúp cho công tác giải quyết việc cấp lại, đổi thẻ nhanh chóng, thuận tiện hơn, được giải quyết ngay tại cơ quan Bảo hiểm xã hội gần nhất trên phạm vi toàn quốc đối với trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế đi du lịch, công tác, học tập ở tỉnh khác không may bị mất, hỏng thẻ.
Mặt sau mẫu thẻ mới có bổ sung chỉ dẫn sử dụng thẻ bảo hiểm y tế cụ thể hơn, giúp người tham gia biết cách tra cứu thông tin về thẻ bảo hiểm y tế và quyền lợi được hưởng. Nắm được cách liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội để được hướng dẫn và giải đáp mọi khó khăn vướng mắc liên quan đến thẻ và việc sử dụng thẻ.
Trước những băn khoăn của người tham gia bảo hiểm y tế về việc thẻ bảo hiểm y tế đang còn hạn sử dụng có tiếp tục được dùng hay khi đi khám chữa bệnh hay không, đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, trước thời điểm có hiệu lực của quyết định này, thẻ bảo hiểm y tế đã cấp cho người tham gia bảo hiểm y tế còn thời hạn sử dụng thì tiếp tục được dùng để khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Thông tin về quyền lợi bảo hiểm y tế của người tham gia như: mã mức hưởng và mã nơi đối tượng sinh sống vẫn được in trên thẻ bảo hiểm y tế mẫu mới tại vị trí nối tiếp với thông tin về “Giới tính” trên thẻ.
Tuy nhiên, từ ngày 1/4/2021, nếu cần biết rõ hơn về các thông tin quản lý khác như: mã đối tượng đóng bảo hiểm y tế, địa chỉ cư trú… của người tham gia, sẽ cần thực hiện tra cứu trên Cổng tiếp nhận dữ liệu hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế và Cổng Thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Ngoài ra, việc tra cứu còn giúp người tham gia biết thêm về thời gian được miễn cùng chi trả trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến (khi người tham gia đã được cơ quan bảo hiểm y tế xác định đã có đủ 5 năm tham gia bảo hiểm y tế liên tục và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở). (Anninhthudo.vn 14/12, Phạm Phương) Về đầu trang
Sửa đổi chính sách nghỉ hưu trước tuổi khi tinh giản biên chế
Cán bộ Cục Thuế Hà Nội hướng dẫn doanh nghiệp làm thủ tục hành chính (Ảnh minh họa).
Chính phủ vừa ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều về chính sách tinh giản biên chế để phù hợp với các quy định tại Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức sửa đổi 2019 và Bộ luật Lao động 2019.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 143/2020/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 143) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế (TGBC) và Nghị định 113/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 108/2014/NĐ-CP.
Nghị định số 143 quy định các trường hợp TGBC tại điểm c, d, đ, e, g khoản 1 Điều 6 Nghị định 108/2014 được sửa đổi như sau:
Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc được cơ quan, đơn vị bố trí việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện TGBC và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;
Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên không hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng không thể bố trí việc làm khác hoặc được cơ quan, đơn vị bố trí việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện TGBC và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;
Có hai năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét TGBC, cán bộ, công chức có một năm được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ và một năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp; hoặc không hoàn thành nhiệm vụ trong năm trước liền kề tại thời điểm xét TGBC nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện TGBC và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;
Có hai năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét TGBC, viên chức có một năm được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ và một năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp; hoặc không hoàn thành nhiệm vụ trong năm trước liền kề tại thời điểm xét TGBC nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện TGBC và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;
Có hai năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét TGBC mà trong từng năm đều có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật BHXH, có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh và của cơ quan BHXH chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định của pháp luật; hoặc năm trước liền kề tại thời điểm xét TGBC có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật BHXH, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và của cơ quan BHXH chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định của pháp luật nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện TGBC được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.
Theo đó, sửa đổi, bổ sung Điều 8 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP và các khoản 6, khoản 7 Điều 1 Nghị định số 113/2018/NĐ-CP về chính sách về hưu trước tuổi. Quy định này áp dụng với bốn nhóm đối tượng của chính sách TGBC được quy định tại Điều 6 của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.
Thứ nhất, Đối tượng TGBC quy định có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động (BLLĐ) và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) trở lên. Trong đó, có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB và XH) và Bộ Y tế ban hành; hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH.
Họ còn được hưởng các chế độ sau: Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi; Được trợ cấp ba tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định về tuổi tối thiểu tại khoản 3 Điều 169 BLLĐ; Được trợ cấp năm tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác, có đóng đủ BHXH. Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng BHXH được trợ cấp ½ tháng tiền lương.
Thứ hai, Đối tượng TGBC theo quy định nếu có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 BLLĐ và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH và chế độ quy định…; được trợ cấp ba tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 BLLĐ.
Thứ ba, Đối tượng TGBC nếu có tuổi thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 169 BLLĐ và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, trong đó có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB và XH và Bộ Y tế ban hành; hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
Thứ tư, Đối tượng TGBC quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu có tuổi thấp hơn 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 BLLĐ và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
Các sửa đổi tại Nghị định này để phù hợp với các quy định tại BLLĐ 2019 sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2021 và Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 có hiệu lực từ ngày 1-7-2020. (Nhandan.com.vn 14/12, Xuân Anh) Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Đà Nẵng: Điểm sáng giải quyết thủ tục thuế nhà đất của người dân thông qua hệ thống liên thông điện tử
Theo lãnh đạo Cục Thuế Đà Nẵng, việc giải quyết thủ tục thuế đối với hồ sơ nhà đất của người dân thông qua hệ thống liên thông điện tử của cơ quan thuế và Văn phòng Đăng ký đất đai (thuộc Sở TN-MT) là một trong những điểm sáng cải cách hành chính của ngành thuế TP, và đến nay vẫn chưa có nhiều tỉnh, thành triển khai được.
Đà Nẵng: Rực rỡ “Lễ thắp sáng cây thông Noel” tại Furama Resort / Đà Nẵng ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính: Đổi mới công nghệ hay đổi mới quản trị công?
Ông Lê Bá Tiến, Phó Cục trưởng Cục Thuế Đà Nẵng cho hay, thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 theo Quyết định 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 của Thủ tướng Chính phủ, công tác cải cách thủ tục hành chính thuế là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu luôn được ngành thuế Đà Nẵng quan tâm triển khai thực hiện.
Trong đó, ngành thuế TP đã tăng cường áp dụng CNTT vào công tác quản lý thuế, triển khai các phần mềm khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử; đăng ký thuế điện tử, hóa đơn điện tử, xác định nghĩa vụ tài chính đối với hồ sơ nhà đất thông qua hệ thống liên thông điện tử với cơ quan TN-MT.
“Đặc biệt, giải quyết thủ tục thuế đối với hồ sơ nhà đất của người dân thông qua hệ thống liên thông điện tử của cơ quan thuế và Văn phòng Đăng ký đất đai (thuộc Sở TN-MT) là một trong những điểm sáng cải cách hành chính của ngành thuế Đà Nẵng. Qua đó, nghĩa vụ thuế về đất đai của cá nhân và hộ gia đình luôn được thực hiện đầy đủ, minh bạch và nhanh chóng!” – Ông Lê Bá Tiến nói.
Cụ thể, ông Lê Bá Tiến cho biết, hệ thống dịch vụ công trực tuyến và một cửa điện tử để luân chuyển hồ sơ, trao đổi thông tin về đất đai của cá nhân, hộ gia đình giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý đất đai được triển khai thực hiện từ tháng 6/2016.
Theo số liệu thống kê tại website kết nối liên thông điện tử giữa hai cơ quan Cục Thuế Đà Nẵng và Văn phòng Đăng ký đất đai TP, kết quả xử lý hồ sơ nghĩa vụ tài chính từ ngày 1/7/2016 đến 30/6/2020 là hơn 220.000 hồ sơ. Trung bình mỗi tháng hai cơ quan phối hợp giải quyết được 4.600 hồ sơ trả kết quả cho hộ gia đình, cá nhân.
“Từ khi thực hiện chuyển hồ sơ theo phương thức liên thông điện tử, thời gian xử lý hồ sơ rút ngắn 1 - 1,5 ngày (trước đây 2 – 3 ngày); số lượng hồ sơ giải quyết tăng lên, bình quân những tháng cao điểm giải quyết 7.000 đến 8.000 hồ sơ (trước đây thực hiện bằng phương thức thủ công giải quyết khoảng 2.000 đến 3.000 hồ sơ).
Người nộp thuế chỉ cần nộp 01 bộ hồ sơ tại bộ phận “một cửa” UBND quận, huyện và chờ nhận kết quả theo phiếu hẹn, đã giảm đáng kể thời gian đi lại của người dân và không tiếp xúc trực tiếp với công chức xử lý hồ sơ!” – Phó Cục trưởng Cục Thuế Đà Nẵng Lê Bá Tiến cho biết.
Theo lãnh đạo Cục Thuế Đà Nẵng, có thể đánh giá hệ thống liên thông điện tử giữa cơ quan thuế và Văn phòng Đăng ký đất đai TP Đà Nẵng là điểm sáng cải cách hành chính thuế của cả nước, đến nay vẫn chưa có nhiều tỉnh, thành triển khai được hệ thống liên thông điện tử này.
Số lượng lớn hồ sơ được giải quyết nhanh chóng là do các Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và các Chi cục Thuế tại các quận, huyện đã phối hợp tốt trong ứng dụng CNTT, việc gửi và nhận file điện tử thực hiện nhanh chóng, thay vì phải đi lại bàn giao hồ sơ của cán bộ, công chức giữa các đơn vị.
Bên cạnh đó, các Chi cục Thuế không phải nhập dữ liệu đầu vào vì tất cả thông tin đã bao hàm trong dữ liệu điện tử truyền sang cơ quan thuế, bản sao điện tử được quét và lưu trữ trên hệ thống nên khi cần tra cứu, xác minh thông tin thì thời gian chỉ tính bằng phút thay vì vài giờ.
“Việc luân chuyển hồ sơ điện tử còn tiết kiệm chi phí in ấn, sao kê, gửi hồ sơ bản giấy, không sợ thất lạc hồ sơ, đồng thời tiết kiệm đáng kể công sức của cán bộ làm nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ và người dân thực hiện nghĩa vụ thuế!” – Ông Lê Bá Tiến cho biết thêm. (Daonhnghiepvn.vn 14/12) Về đầu trang
Đà Nẵng đơn giản hóa hơn 300 thủ tục hành chính
Giai đoạn 2011 - 2020, thành phố Đà Nẵng đã đơn giản hóa được hơn 300 thủ tục hành chính. Thành phố ban hành 15 đề án liên thông, liên kết nhiều lĩnh vực quan trọng như: đầu tư và đăng ký doanh nghiệp; xây dựng và quản lý đô thị; tư pháp; lao động - thương binh và xã hội; đất đai; văn hóa. Đáng chú ý, thành phố đã đơn giản hóa, rút ngắn 20% thời gian xử lý hồ sơ đối với các thủ tục hành chính liên quan đến xây dựng cơ bản trong đầu tư công. Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính, thành phố đã sắp xếp 70 đơn vị và giảm 37 đơn vị sự nghiệp công lập; giảm 121 đơn vị cấp phòng; giảm 172 vị trí lãnh đạo, quản lý... Từ năm 2014 đến nay, thành phố đã tinh giản biên chế 509 trường hợp bảo đảm đúng quy trình, thủ tục và phù hợp nguyện vọng. Thành phố liên tục đứng đầu trong 10 năm về Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Index) do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp Hội Tin học Việt Nam đánh giá, xếp hạng.
Thời gian tới, thành phố tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng bám sát Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 của Chính phủ và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới của thành phố; đồng thời sắp xếp, kiện toàn bộ máy các cơ quan hành chính, triển khai hiệu quả việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị theo Nghị quyết số 119/2020/QH14 của Quốc hội. Cùng với phát triển các ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, thành phố chú trọng phát triển các nền tảng tích hợp, đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp. (Nhandan.com.vn 15/12) Về đầu trang
TP Hồ Chí Minh: Ứng dụng GIS phát triển đô thị thông minh
Nhằm thực hiện thành công chương trình chuyển đổi số, phát triển đô thị thông minh bền vững, TP Hồ Chí Minh đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) trong lĩnh vực tài nguyên môi trường và quản lý đô thị. Đây là một trong những giải pháp đưa thành phố trở thành một đô thị sạch, đáng sống và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong thời gian qua, GIS kết hợp với công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI)… và các thiết bị thông minh tạo ra những ứng dụng đa dạng trong quản lý đô thị, quản lý dịch bệnh; hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Quan tâm đến vấn đề này, hiện nay, TP Hồ Chí Minh đã cơ bản hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, ứng dụng GIS phục vụ quản lý nhà nước, dịch vụ Chính phủ điện tử và đang mở rộng một số hệ thống Web GIS ứng dụng kết hợp với thiết bị thông minh… nhằm hướng đến ứng dụng GIS phục vụ quản lý đô thị thông minh (Smart City). Theo các chuyên gia, GIS cần được đẩy mạnh ứng dụng sâu rộng nhằm phục vụ đời sống người dân cũng như công tác quản lý đô thị. Ông Nguyễn Tất Thắng, Phó Giám đốc Trung tâm Giải pháp tích hợp hệ thống Công ty Công nghệ thông tin (Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam) cho biết: “TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu cả nước đẩy mạnh ứng dụng GIS trong quản lý kinh tế nói chung; trong đó, có ngành tài nguyên môi trường. Thành phố đã triển khai rất nhiều nội dung quan trọng như thiết lập được kiến trúc ứng dụng GIS vào ngành tài nguyên môi trường. Riêng về lĩnh vực đất đai, thành phố có thử nghiệm hệ thống thông tin đất đai tại quận 1 và quận 12. Thành phố cũng đang triển khai số hóa dữ liệu theo các quy định của ngành tài nguyên môi trường. Nhằm triển khai chương trình chuyển đổi số và xây dựng đô thị thông minh, thành phố cũng đang chuyển mình và mong muốn các doanh nghiệp lớn tham gia vào quá trình hình thành hệ thống thông tin tổng thể, toàn diện, toàn ngành tài nguyên môi trường ở các cấp kể cả cấp thành phố đến cấp quận/huyện, phường/xã để bảo đảm công tác quản lý tài nguyên môi trường trên toàn thành phố”.
Hiện các đơn vị quản lý nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã từng bước ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng. Các hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng đã mang lại hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước của các sở, ban, ngành và quận, huyện. Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý chuyên ngành chưa có sự liên thông, chia sẻ thông tin, dữ liệu một cách đồng bộ, thống nhất trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng. Ông Nguyễn Tất Thắng nêu thực tế: “Trước đây việc xây dựng cơ sở dữ liệu vẫn có tình trạng cát cứ giữa các lĩnh vực. Thí dụ, trong lĩnh vực đất đai đã hoàn thành cơ sở dữ liệu nhưng chỉ dùng trong văn bản kín. Việc công khai ra bên ngoài còn hạn chế và không liên thông được với các lĩnh vực khác. Giờ đây, theo quan điểm về xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi số, tất cả các thông tin dữ liệu phải được chia sẻ với nhau trong phạm vi có thể. TP Hồ Chí Minh mong muốn sau khi số hóa dữ liệu sẽ có cổng thông tin đất đai. Những dữ liệu được phép công khai phải được đưa lên cổng thông tin đất đai giúp người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin để phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội và dân sinh. Trong vấn đề cải cách hành chính, việc liên thông thông tin qua một cổng giúp người dân, doanh nghiệp giải quyết thủ tục như xin phép xây dựng chỉ cần đến một điểm, không cần phải đi lại nhiều lần qua nhiều cơ quan. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho người dân và doanh nghiệp”. UBND thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định 3030/QĐ-UBND ngày 19-8-2020 phê duyệt Đề án ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng trên địa bàn. Đề án tập trung vào một số nội dung như: Xây dựng kiến trúc tổng thể, chi tiết hệ thống GIS, viễn thám về quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng; rà soát, bổ sung, cập nhật cơ sở dữ liệu, xây dựng ứng dụng quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng; tích hợp, liên thông cơ sở dữ liệu đất đai, quy hoạch và xây dựng. Đồng thời, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ứng dụng GIS, viễn thám phục vụ quản lý và phát triển đô thị bền vững.
Với vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, TP Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh phát triển khoa học ứng dụng, tối ưu hóa nguồn lực để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hướng tới đô thị thông minh. Trước xu thế đó, Trường đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh tăng cường các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong đó, trường đã tập trung nghiên cứu, đào tạo về công nghệ GIS, viễn thám kết hợp với điện toán đám mây, khai thác dữ liệu lớn, in-tơ-nét vạn vật, trí tuệ nhân tạo… Tuy nhiên, theo PGS, TS Lê Văn Trung (Trường đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh), để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phải là xu thế liên ngành, không thể đứng riêng lẻ, từng khoa, từng bộ môn mà có thể triển khai được yêu cầu đặt ra đối với đô thị thông minh, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay. Vì vậy, các chương trình đào tạo trong các cơ sở đào tạo cần thiết hai năm cập nhật một lần để tiếp cận công nghệ mới và hình thành giải pháp mới. (Nhandan.com.vn 14/12, Anh Tuấn) Về đầu trang
Kho bạc Hà Nội hoàn thành “phủ sóng” dịch vụ công trực tuyến
Tính đến hết tháng 11/2020, 100% đơn vị sử dụng ngân sách thuộc đối tượng bắt buộc sử dụng dịch vụ công trực tuyến của kho bạc trên địa bàn Hà Nội đã tham gia giao dịch bằng dịch vụ này.
Kho bạc Nhà nước (KBNN) Hà Nội được chọn là đơn vị đầu tiên triển khai thí điểm dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) từ ngày 1/3/2016. Theo Phó Giám đốc KBNN Hà Nội - ông Đặng Văn Hiền, đây vừa là vinh dự nhưng cũng vừa là thách thức cho đơn vị vì Hà Nội là địa bàn rộng, số đơn vị sử dụng ngân sách (SDNS) rất đa dạng, nhiều cơ quan trung ương, Chính phủ, bộ, ban, ngành đóng trên địa bàn.
Xác định việc triển khai DVCTT là bước cải cách đột phá của KBNN để mang đến thuận lợi cho khách hàng, KBNN Hà Nội đã tiến hành rà soát, lựa chọn 10 đơn vị SDNS (5 đơn vị chi thường xuyên, 5 đơn vị chi đầu tư) là những đơn vị có uy tín, phát sinh nhiều nghiệp vụ kế toán và có điều kiện về cơ sở vật chất và nhân lực để triển khai thí điểm.
Việc thí điểm DVCTT đã thành công, nhưng để triển khai diện rộng cho các đơn vị SDNS cấp tỉnh vào đầu năm 2018, KBNN Hà Nội cũng gặp không ít khó khăn do số lượng đơn vị SDNS trên địa bàn lớn với trên 9.000 đơn vị, trong đó có hơn 6.000 đơn vị thuộc đối tượng bắt buộc tham gia DVCTT. Hơn nữa, hạ tầng công nghệ thông tin tại các đơn vị SDNS không đồng đều; lãnh đạo một số đơn vị chưa quen thao tác trên máy tính…
Khắc phục các khó khăn này, KBNN Hà Nội đã thực hiện tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng và có văn bản gửi đến tất cả các đơn vị SDNS, chủ đầu tư về mục đích, ý nghĩa của việc tham gia DVCTT. Ngoài ra, để công tác triển khai DVCTT được thuận lợi, đạt hiệu quả cao, KBNN Hà Nội đã phối hợp chặt chẽ với Sở Thông tin và Truyền thông, Công ty VNPT, Viettel Hà Nội trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai tập huấn và sử dụng hệ thống DVCTT (đường truyền, cung cấp và cài đặt chứng thư số…).
Nhằm chuẩn bị tốt cho công tác triển khai DVCTT đến các đơn vị SDNS cấp huyện, từ đầu năm 2020, KBNN Hà Nội đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các công chức KBNN huyện về kỹ năng thao tác, xử lý trên hệ thống DVCTT để có thể tiếp nhận xử lý hồ sơ và hỗ trợ người sử dụng tại các đơn vị SDNS. Ngay sau tập huấn, tuy còn nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật (một số đơn vị chưa có máy scan) hay kỹ năng tác nghiệp của người sử dụng, nhưng các đơn vị SDNS đã bắt đầu kê khai và thực hiện giao dịch trên hệ thống DVCTT. Tại từng địa bàn huyện, KBNN Hà Nội cũng lập các nhóm chat Zalo với thành viên là công chức kho bạc, các kế toán trưởng đơn vị SDNS để có thể tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ, giải đáp khó khăn, vướng mắc của đơn vị…
Đến hết ngày 30/11/2020, tổng số đơn vị thuộc đối tượng bắt buộc tham gia DVCTT trên địa bàn Hà Nội đã đạt 100%. Số lượng hồ sơ chứng từ giao dịch qua DVCTT trên toàn địa bàn là 145.658/147.726 chứng từ, đạt 98,58% tổng số hồ sơ chứng từ gửi qua KBNN Hà Nội.
Mặc dù 100% đơn vị SDNS trên địa bàn Hà Nội đã tham gia DVCTT, nhưng số lượng hồ sơ giao dịch qua DVCTT vẫn chưa đạt 100%. Lý giải về việc này, ông Nguyễn Mạnh Đức - Trưởng phòng Kế toán Nhà nước (KBNN Hà Nội), cho biết là do trên địa bàn có các cơ quan và các đơn vị sự nghiệp trung ương như cơ quan Đảng (khoản chi có nội dung mật), hoặc khối bệnh viện với đặc thù vừa làm quản lý vừa làm chuyên môn. Vì vậy, để đảm bảo linh động và phù hợp với thực tế, các đơn vị này đã đề nghị KBNN Hà Nội thực hiện giao nhận chứng từ theo 2 phương thức là qua DVCTT và thủ công.
Tuy nhiên, thời gian tới đây, KBNN Hà Nội tiếp tục đôn đốc các đơn vị SDNS đẩy mạnh số lượng hồ sơ thanh toán qua DVCTT, phấn đấu đến 31/12/2020, số lượng hồ sơ giao dịch qua DVCTT đạt 100% đối với các đơn vị bắt buộc.
Để tăng cường giao dịch qua DVCTT về số đơn vị và số lượng hồ sơ, chứng từ gửi qua DVCTT, KBNN Hà Nội đề nghị các bộ, ngành, UBND thành phố chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường gửi hồ sơ, chứng từ qua DVCTT, giảm thiểu giao dịch thủ công. Đối với các đơn vị thực hiện chưa nghiêm cần có chế tài cụ thể để nâng cao hiệu quả trong công tác giao dịch điện tử. Đồng thời, nâng cấp hệ thống truyền thông đủ mạnh để các đơn vị gửi chứng từ giao dịch qua DVCTT đến KBNN được thông suốt. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 14/12, Vân Hà) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Quy định mới về chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2020/NĐ-CP quy định chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số, có hiệu lực thi hành từ ngày 23/1/2021.
Nghị định nêu rõ, người học là người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển gồm người dân tộc thiểu số rất ít người; người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số.
Nghị định quy định rõ tiêu chuẩn chung của tuyển sinh. Theo đó, người học được cử tuyển phải thường trú từ 5 năm liên tục trở lên tính đến năm tuyển sinh tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; có cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi (hoặc có một trong hai bên là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi), người trực tiếp nuôi dưỡng sống tại vùng này; đạt các tiêu chuẩn sơ tuyển đối với các ngành, nghề có yêu cầu sơ tuyển; không quá 22 tuổi tính đến năm tuyển sinh, có đủ sức khỏe theo quy định hiện hành.
Ngoài tiêu chuẩn chung quy định ở trên, người học được cử tuyển vào đại học phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể sau: Tốt nghiệp trung học phổ thông; xếp loại hạnh kiểm các năm học của cấp học trung học phổ thông đạt loại tốt; xếp loại học lực năm cuối cấp đạt loại khá trở lên; có thời gian học đủ 3 năm học và tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường thuộc địa bàn tuyển sinh theo quy định hoặc tại trường phổ thông dân tộc nội trú.
Ngoài tiêu chuẩn chung, người học được cử tuyển vào cao đẳng phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể sau: Tốt nghiệp trung học phổ thông; xếp loại hạnh kiểm các năm học của cấp học trung học phổ thông đạt loại tốt; xếp loại học lực năm cuối cấp đạt loại trung bình trở lên; có thời gian học đủ 3 năm học và tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường thuộc địa bàn tuyển sinh theo quy định hoặc tại trường phổ thông dân tộc nội trú.
Ngoài tiêu chuẩn chung, người học được cử tuyển vào trung cấp phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể sau: Tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông; xếp loại hạnh kiểm các năm học của cấp học cuối đạt loại khá trở lên; xếp loại học lực năm cuối cấp đạt loại trung bình trở lên; có thời gian học đủ 4 năm học và tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc học đủ 3 năm học và tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường thuộc địa bàn tuyển sinh theo quy định hoặc tại trường phổ thông dân tộc nội trú. (Cand.com.vn 15/12) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Tỉnh Hải Dương giải quyết kịp thời những kiến nghị từ cơ sở
Tỉnh Hải Dương tổ chức 7 cuộc tiếp xúc, đối thoại theo chuyên đề; cấp huyện tổ chức gần 80 cuộc; cấp xã tổ chức trên 2.000 cuộc đối thoại, với gần 15.000 lượt ý kiến, kiến nghị của cán bộ và nhân dân.
Từ năm 2015, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương đã ban hành quy định về tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với nhân dân.
Đến nay, việc thực hiện quy định này đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng, hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; đồng thời phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, quyền làm chủ của nhân dân; nâng cao trách nhiệm, vai trò của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực thi công vụ, đảm bảo tính dân chủ, công khai, khách quan, minh bạch, được sự đồng thuận của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh.
Chiều 11/12, tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Cộng Hòa, Ủy ban Nhân dân huyện Kim Thành (Hải Dương) tổ chức hội nghị tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phạm Quang Hưng với nhân dân trong xã.
Đây là một trong những cuộc đối thoại trực tiếp với người dân được chính quyền các cấp trong tỉnh Hải Dương tổ chức thường xuyên.
Tại hội nghị, Chủ tịch Ủy ban Nhân dan huyện Kim Thành thông báo khái quát tình hình kinh tế-xã hội, những vấn đề mà dư luận xã hội và nhân dân quan tâm.
Ông Phạm Quang Hưng cũng đã trả lời 3 kiến nghị của người dân về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; 11 ý kiến về quản lý đất đai, môi trường; 7 ý kiến về lĩnh vực giao thông, vận tải và 2 ý kiến về lĩnh vực văn hóa, xã hội và an ninh, trật tự.
Đó là các vấn đề như hỗ trợ thêm thuốc diệt chuột, phát quang cây cối, cỏ dại ở hàng tre chắn sóng hạn chế chỗ trú ngụ cho chuột để bảo vệ đê và đồng ruộng; một số doanh nghiệp xả khí thải, nước thải gây ô nhiễm môi trường; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn khó khăn; tình trạng vứt bừa bãi xác động vật chết; sửa chữa phòng học ở trường mầm non; xử lý các hàng quán lấn chiếm lòng, lề đường dọc quốc lộ 5; xử lý nghiêm tình trạng “tín dụng đen,”đòi nợ thuê, ném chất bẩn vào nhà dân…
Các ý kiến, kiến nghị của người dân đều được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện và các cơ quan chức năng giải đáp cụ thể dựa trên các quy định của pháp luật, nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh, huyện.
Trước buổi đối thoại, ông Đào Quang Thoan, thôn Lai Khê, nêu tình trạng cho vay nặng lãi núp bóng dưới các hình thức như kinh doanh dịch vụ cầm đồ, hỗ trợ tài chính, cho vay tín chấp, đáo nợ ngân hàng...
Sau khi cho vay, các đối tượng đòi nợ thuê bằng các hình thức khủng bố như ném chất bẩn vào nhà khiến người dân ở vùng nông thôn rất lo sợ. “Tôi đã gửi ý kiến đến người đứng đầu huyện, mong cơ quan chức năng có các giải pháp kịp thời, xử lý tình trạng này để người dân có cuộc sống an toàn hơn,” ông Thoan chia sẻ.
Đối với kiến nghị này, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Kim Thành Phạm Quang Hưng cho biết từ đầu năm 2020 đến nay, lực lượng chức năng của huyện đã điều tra, làm rõ, khởi tố 4 vụ, 7 bị can; xử lý hành chính 8 vụ, 10 đối tượng liên quan đến “tín dụng đen.”
Công an huyện đã triệt phá, xử lý 1 ổ nhóm có biểu hiện hoạt động tín dụng đen, đòi nợ thuê và có hành vi gây rối trật tự công cộng tại địa bàn xã gồm 6 đối tượng; trong đó khởi tố 4 bị can, đưa đi cơ sở giáo dưỡng 2 đối tượng. Sau khi nhận được thông tin trả lời của người đứng đầu Ủy ban Nhân dân huyện Kim Thành, ông Thoan đã bày tỏ sự hài lòng với các ý kiến trả lời trực tiếp và mong muốn sẽ có nhiều cuộc đối thoại như thế này để người dân có thể kịp thời gửi ý kiến, trình bày nguyện vọng với người đứng đầu huyện.
Năm 2020, Nam Sách là một trong những huyện tổ chức được nhiều cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy và chính quyền với nhân dân. Qua đối thoại, nhiều kiến nghị, đề xuất của nhân dân đã được chính quyền các cấp của huyện tích cực giải quyết.
Qua các cuộc đối thoại, Bí thư Huyện ủy Nam Sách Bùi Văn Thăng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng khởi công xây dựng kênh thoát nước bằng bê tông khép kín nhằm hạn chế phát tán mùi hôi thối từ nước thải của làng nghề Mạn Đê ở xã Nam Trung.
Công trình kênh thoát nước trị giá hơn 5 tỷ đồng, trong đó huyện hỗ trợ 2 tỷ đồng. Xã Minh Tân sau khi nhận được kiến nghị của người dân đã đẩy mạnh thực hiện các biện pháp diệt chuột bảo vệ sản xuất; chỉ đạo lực lượng Công an xã tăng cường tuần tra, kiểm soát phòng chống tội phạm, kiên quyết xử lý khi có tụ điểm tệ nạn xã hội…
Thời gian qua, Nam Sách đã triển khai một số đề án nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao; áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thu gom, xử lý rác thải tại các thôn, khu dân cư nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là khu vực nông thôn.
Từ sự vào cuộc trên đã góp phần giúp địa phương xây dựng thành công huyện nông thôn mới. 100% số trường học công lập của huyện đạt chuẩn quốc gia; tất cả trục đường huyện, xã, thôn được đổ bê tông; 80% số đường nội đồng được bê tông hóa, cứng hóa...
Ông Nguyễn Văn Phú, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Hải Dương cho biết 5 năm qua, khối dân vận cơ sở và tổ dân vận thôn, khu dân cư đã chủ động tham mưu cho người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức tiếp xúc, đối thoại với nhân dân.
Cụ thể, cấp tỉnh tổ chức 7 cuộc tiếp xúc, đối thoại theo chuyên đề; cấp huyện tổ chức gần 80 cuộc; cấp xã tổ chức trên 2.000 cuộc đối thoại, với gần 15.000 lượt ý kiến, kiến nghị của cán bộ và nhân dân.
Các ý kiến, kiến nghị chính đáng của nhân dân đã được người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trực tiếp trả lời và chỉ đạo, yêu cầu các cơ quan chức năng trả lời, giải quyết làm rõ ngay tại hội nghị.
Theo Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Hải Dương Nguyễn Văn Phú, hoạt động tiếp xúc, đối thoại của người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp với nhân dân đã mang lại hiệu quả rõ nét, qua đó tuyên truyền phổ biến các chủ trương của cấp ủy, quy định của chính quyền địa phương, đồng thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và ý kiến tham vấn của nhân dân; kịp thời đánh giá rút kinh nghiệm, phát hiện những hạn chế, thiếu sót để xây dựng, điều chỉnh, bổ sung những nội dung, quy định cho phù hợp với tình hình thực tế.
Nội dung đối thoại thẳng thắn, cởi mở, nhiều vấn đề về tư tưởng, dư luận xã hội, những vấn đề còn khúc mắc, bức xúc trong nhân dân được quan tâm nắm bắt và từng bước giải quyết, tạo được không khí dân chủ, hài hòa, cởi mở, gắn bó trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân.
Người dân được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, hiến công, hiến kế, góp ý, phản ánh, kiến nghị với tinh thần xây dựng tích cực. Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nội quy, quy định của địa phương, các chương trình, đề án, dự án được tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân và nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân.
Mới nhận nhiệm vụ từ tháng 9/2020 và lần đầu tiên đối thoại với người dân trên vị trí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện, ông Phạm Quang Hưng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Kim Thành chia sẻ: “Dù mới nhận nhiệm vụ là Chủ tịch UBND huyện nhưng qua buổi đối thoại trực tiếp với người dân, cá nhân tôi nhận thấy đây là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp lãnh đạo huyện bổ sung, hoàn thiện các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, cũng như thấy được tất cả những vấn đề nhỏ nhất phát sinh trong đời sống người dân, nhất là ở khu vực nông thôn để đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong huyện.”
Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Hải Dương Nguyễn Văn Phú chia sẻ việc tiếp xúc, đối thoại tại Hải Dương vẫn còn bộc lộ một số bất cập như: Vẫn còn tình trạng nhân dân tụ tập đông người, đơn thư khiếu kiện vượt cấp do một số vấn đề bức xúc chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết triệt để.
Một số đơn vị cấp cơ sở thực hiện quy chế tiếp xúc, đối thoại còn mang tính hình thức. Thậm chí, có nơi người đứng đầu còn ngại, né tránh tiếp xúc, đối thoại ở những nơi có vấn đề nổi cộm, bức xúc của nhân dân; còn tư tưởng trông chờ, ỷ nại vào sự trả lời, giải quyết của cấp trên.
Một bộ phận nhân dân còn có ý kiến, kiến nghị nặng về tính cá nhân không mang tính đại diện những nguyện vọng chính đáng mà nhân dân mong muốn được tập trung giải quyết, gây khó khăn cho cấp ủy, chính quyền trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, cơ sở.
Để phát huy vai trò của người đứng đầu trong xử lý những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở, trong thời gian tới, Hải Dương tăng cường tổ chức hội nghị tiếp xúc, đối thoại theo chuyên đề, lựa chọn địa bàn có những vấn đề còn vướng mắc, khó khăn để tập trung giải quyết.
Đối với các địa phương, cơ sở có dấu hiệu phát sinh những yếu tố phức tạp, nổi cộm, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chủ động đối thoại, để giải quyết kịp thời những ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân ngay tại cơ sở.
Các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội và chính quyền địa phương cũng tăng cường phối hợp, kịp thời nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu chuẩn bị các nội dung liên quan, các điều kiện cần thiết cho các cuộc tiếp xúc, đối thoại và trả lời ý kiến, kiến nghị của nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.
Đồng thời, người đứng đầu nêu cao vai trò, trách nhiệm trong việc chỉ đạo giải quyết kịp thời các ý kiến, kiến nghị chính đáng của nhân dân trước, trong và sau hội nghị tiếp xúc, đối thoại, đảm bảo về thời gian, chất lượng nội dung giải quyết.
Hải Dương cũng tập trung phát huy vai trò và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, người đứng đầu trong hệ thống chính trị để thống nhất về phương hướng, biện pháp đồng bộ, chỉ đạo xử lý, giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp gây phức tạp tình hình ở địa phương, cơ sở.
Hải Dương còn tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận chính quyền, cải cách thủ tục hành chính; tháo gỡ những bất cập về cơ chế, chính sách, nhất là trong bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, phương án hỗ trợ ổn định đời sống người dân khi bị thu hồi đất…
Sau mỗi cuộc tiếp xúc, đối thoại, các cơ quan chức năng sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để đảm bảo về thời gian, hiệu quả, chất lượng thực thi nhiệm vụ, củng cố niềm tin trong nhân dân. (VietnamPlus.vn 14/12, Mạnh Tú) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Xu hướng “phổ cập cao học”, đi học chỉ để xóa bằng tại chức, chuẩn hóa chức danh
Trong xã hội hiện nay đang xuất hiện xu hướng “phổ cập cao học” khi mà tỷ lệ người học cao học ngày càng tăng, chương trình các trường mở ra “trăm hoa đua nở”.
Thực tế cho thấy, bậc học này ở nhiều nơi được đánh giá đem lại ít kiến thức, học hời hợt, nhiều trường hợp đi học chủ yếu để xóa bằng tại chức, chuẩn hóa chức danh và mở rộng mối quan hệ nhằm mục đích cá nhân.
Trong tiếng Hán, chữ "thạc" có nghĩa là danh vọng to lớn và danh hiệu thạc sĩ có nghĩa là người có học thức rộng, biết nhiều điều. Tuy vậy, với việc tuyển sinh cao học dễ dãi và đào tạo hời hợt như hiện nay, với nhiều trường hợp, thạc sĩ gần như chỉ là hư danh. Để đánh giá một người có học thức thật sự hay không, tấm bằng thạc sĩ chỉ mang tính tham khảo.
Việc đào tao thạc sĩ tràn lan đến từ 3 nhóm đối tượng chính theo học bậc cao học mà không vì mục tiêu phục vụ công việc hay để nâng cao kiến thức, trình độ, đó là: sinh viên ra trường thất nghiệp, người muốn"xóa" bằng đại học xấu và người muốn học để cho oai.
Ước chừng hiện nay nước ta có khoảng 200.000 cử nhân không có việc làm. Một bộ phận nhóm này học lên cao học để muốn có việc làm, xét về lý thuyết, học lên cao sẽ có nhiều kiến thức và có cơ hội việc làm rộng mở hơn. Tuy vậy hàng năm, số lượng thạc sĩ thất nghiệp hoặc làm trái ngành ở nước ta vẫn ở con số lớn. Như vậy, lãng phí lại chồng lãng phí.
Thứ hai, với một xã hội bằng cấp được thể chế bằng pháp luật thì những người có bằng đại học hệ tại chức luôn cố gắng đi học thạc sĩ để "xóa" bằng xấu. Khi có bằng thạc sĩ ở một trường lớn thì nghiễm nhiên không ai còn quan tâm đến tấm bằng đại học. Bên cạnh đó, không ít người học thạc sĩ để làm đẹp hồ sơ cho các vị trí lãnh đạo, bổ nhiệm hoặc nâng lương. Với nhiều người, thời gian học trên lớp thì ít mà thời gian đi "thực tế", liên hoan, họp lớp nhiều gấp mấy lần.
Tiền quỹ lớp thì như một "ngân hàng thu nhỏ". Điều này khiến cho những người có ý thức học tập thực sự cũng rất khó nếu không theo cùng tập thể. Một học viên cao học chia sẻ: "Học cao học thì ngoài tiền học phí đã nhiều thì tiền quỹ lớp cũng xấp xỉ. Không đóng không được vì cả lớp đều thế để giải quyết các công việc chung".
Thứ ba, với tâm lý sĩ diện, học cho oai, không ít người đăng ký học cao học để thành ông "thạc" bà "sĩ" cho dù biết rằng kiến thức thu nhận được không nhiều. Một số người là con cán bộ cấp cao, không những có bằng thạc sĩ mà có bằng tiến sĩ khi còn rất trẻ. Với tấm bằng hoành tráng đó cùng với tuổi đời trẻ, họ dễ dàng được bổ nhiệm vào một vị trí mà nhiều người có năng lực phấn đấu cả đời chưa chắc đã đạt tới.
Thực tế khách quan cho thấy, thành phần người học cao học phân khúc rất mạnh, trẻ có, già có, doanh nhân có, sinh viên mới tốt nghiệp cũng không ít. Điều này đến từ việc chất lượng đào tạo thạc sĩ ngày càng thấp và mang tính hình thức, việc đi học thạc sĩ trở nên dễ dàng.
Trước tiên, phải nói đến việc tuyển sinh của các trường đại học. Việc trúng tuyển cao học trở thành một điều hiển nhiên với mỗi thí sinh khi đi thi. Nhà trường cần học viên và học viên cần bằng. Kỳ thi tuyển sinh chỉ lo thiếu thí sinh so với chỉ tiêu chứ không lo việc phải loại ai. Một số trường tuyển sinh bậc cao học nhưng lại không thi môn chuyên ngành, không giới hạn ngành gần, tạo điều kiện cho người có bằng cử nhân khác ngành học một ngành mới mà việc bổ sung kiến thức chỉ là hình thức.
Bậc học cao học là một nguồn thu quan trọng đối với trường đại học so với bậc đại học. Thậm chí, nhiều trường đại học còn cho ra các chương trình "cao học chất lượng cao", mời một số giảng viên nước ngoài đến nói chuyện để "đánh bóng". Chương trình chất lượng cao nhưng tập trung vào dịch vụ cao như các hoạt động ngoại khóa, tham quan, ăn uống giữa giờ mà ít tập trung vào đào tạo, thực tế, nghiên cứu khoa học...
Ngoài ra, đối tượng học cao học thường là người đi làm đã có thu nhập, có gia đình và quỹ thời gian dành cho việc lên lớp khá hạn hẹp. Cộng với "văn hóa bôi trơn" "văn hóa phong bì" đang tồn tại ở nước ta, họ dễ dàng được đi thi, được qua môn và bảo vệ luận văn một cách dễ dàng. Giảng viên thường lên lớp khá muộn, về sớm, họ thường tới kể chuyện nhiều hơn là giảng dạy. Không hề có một áp lực học tập nào.
Đối với học viên, nhiều người đến lớp nhằm mục đích quen biết những người có chức vụ, kể về công việc hiện tại và tìm cách tháo gỡ bằng những con đường không chính thống mà không hề có ý niệm học tập. Với tâm thế đi học như vậy, chương trình đào tạo cao học đã giảm chất lượng trầm trọng, tạo ra một xã hội bằng cấp nhưng thiếu thực chất.
Cần phải có những giải pháp tổng thể để chương trình đào tạo cao học về đúng giá trị thực vốn có, nếu không quyết liệt thì dần dần nạn nhân tiếp theo sẽ là bậc nghiên cứu sinh, "phổ cập tiến sĩ" sẽ chỉ là vấn đề thời gian. Nhiều người học thực sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội học tập ở nước ngoài và giáo dục nước nhà chỉ thấy bề nổi mà không thấy chất lượng.
Trước tiên, đứng về góc độ quản lý, các cơ quan chức năng, trường đại học cần phải có đánh giá chương trình khách quan, khảo sát ý kiến người đã tốt nghiệp về việc làm, lấy ý kiến từ đơn vị sử dụng lao động. Từ đó, cơ sở đào tạo xem xét về chỉ tiêu, tuyển sinh, chương trình đào tạo thay đổi cho phù hợp, đặc biệt phải có quy định rõ ràng về điều kiện đội ngũ giảng viên cơ hữu, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Nhìn tổng quan, cơ sở đào tạo cần phải tăng thời lượng môn học chuyên ngành cùng với thời gian thực hành, tránh việc sa lầy vào lý thuyết, các môn đại cương và thực hành "giải ngân" quỹ lớp.
Để người học cao học xác định được tâm thế rõ ràng trước khi đăng ký học, nên xem xét quy định về tuổi, cụ thể người học cao học trước 35 tuổi, người học nghiên cứu sinh trước 45 tuổi sẽ thi những môn gì, cần điều kiện cụ thể nào. Người sau độ tuổi này, nếu muốn đăng ký học phải bổ sung các điều kiện như thời gian công tác thực tế, bài báo khoa học, tham gia hội thảo, hội nghị... để nâng cao chất lượng tuyển sinh, tránh việc đi học lấy bằng cho có danh có vị.
Ngoài ra, trong chương trình đào tạo cao học hiện nay, hầu hết cơ sở đào tạo chưa có môn học định hướng nghề nghiệp. Có khá nhiều người đi học cao học để mong có việc làm nhưng cơ sở đào tạo mặc nhiên cho rằng đây là việc của người học.
Cơ quan quản lý cần phải siết chặt về cơ sở và thời gian đào tạo, bắt buộc đào tạo cao học phải ở cơ sở chính, vào ban ngày (thứ bẩy, chủ nhật hoặc các ngày trong tuần), giám sát việc lên lớp và các chương trình thực tế, điền dã. Làm tốt các nội dung trên, tấm bằng thạc sĩ trong nước sẽ trở về đúng giá trị vốn có. (Phunuvietnam.vn 15/12, Nguyễn Văn Công) Về đầu trang
Có cần phải vội vã thế không?
Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi bị kỷ luật cảnh cáo nhưng chỉ 4 tháng sau lại được bổ nhiệm làm giám đốc Sở Giao thông Vận tải đã gây nhiều ý kiến trái chiều.
Theo điều 82 Luật Cán bộ, công chức trước đây, công chức bị xử lý kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không được nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Như vậy, công chức chỉ có cơ hội được bổ nhiệm lại nếu sau 12 tháng không có vi phạm nào đến mức phải bị xử lý kỷ luật.
Trong khi đó, về việc xử lý công chức đang bị kỷ luật, Luật Cán bộ, công chức sửa đổi (2019) có hiệu lực từ ngày 1-7-2020 lại quy định cụ thể theo các hình thức xử lý kỷ luật. Theo đó, khi bị kỷ luật bằng khiển trách, cảnh cáo hoặc hạ bậc lương: Không bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; khi bị kỷ luật bằng giáng chức hoặc cách chức: Không bổ nhiệm trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Đặc biệt khi hết thời hạn nêu trên mà công chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục được bổ nhiệm theo quy định.
Như vậy, từ ngày 1-7-2020, khi có quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo hoặc hạ bậc lương có hiệu lực, công chức không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn nhưng vẫn có thể được bổ nhiệm lại hoặc vào chức vụ thấp hơn.
Trở lại trường hợp ở Quảng Ngãi, vị giám đốc sở vẫn có cơ hội bổ nhiệm lại nhưng theo thông lệ thi hành pháp luật, phải chấp hành 2/3 thời hiệu mới được xét bổ nhiệm. Như vậy, bổ nhiệm vị này có cần thiết vội vã đến thế không? Chưa hết, cụm từ "bổ nhiệm lại" là vào vị trí cũ hay vị trí khác ngang cấp vì 2 sở này đòi hỏi chuyên môn khác nhau. Rõ ràng văn bản pháp luật viết như vậy có gì đó hơi "mập mờ" dễ đưa đến cách thi hành khác nhau. Đây là điều tối kỵ trong kỹ năng lập pháp, lập quy. (Nld.com.vn 15/12, Diệp Văn Sơn) Về đầu trang
Không hạ chuẩn đánh giá để lấy kết quả thi đua
5 năm thực hiện công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên giai đoạn 2015-2020 cho thấy, đã có nhiều hoạt động được triển khai và đạt nhiều kết quả tích cực.
Tính đến năm học 2019-2020, 100% Sở GD&ĐT đã triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Trong đó nhiều tỉnh/TP có tỷ lệ cơ sở giáo dục được đánh giá ngoài cao trên 90%, như: Bắc Ninh; Hà Nam; Hưng Yên… 4 tỉnh/TP có số lượng trường được đánh giá ngoài lớn (trên 1.500 trường) gồm Hà Nội, TP HCM, Nghệ An và Thanh Hóa.
Tính đến tháng 7-2020 có 24.984 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và thường xuyên trên cả nước đã được đánh giá ngoài, đạt tỷ lệ 58,70%. Số lượng này tăng gần 6 lần so với mức 4.206 trường (chiếm tỉ lệ 9,75%) được đánh giá ngoài năm 2014. Công tác tự đánh giá của các cơ sở giáo dục cũng chuyển biến rõ rệt; đạt tỷ lệ 96% cơ sở hoàn thành tự đánh giá.
Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT) Lê Mỹ Phong cho biết, năm học 2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành một loạt Thông tư tích hợp quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục các cấp học; các công văn hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông.
Việc thống nhất một bộ tiêu chuẩn đánh giá, một quy trình đánh giá đã tạo nhiều thuận lợi cho các cơ sở giáo dục thực hiện cùng một lúc hai hoạt động, góp phần làm giảm các thủ tục hành chính trong công tác quản lý, giảm công sức, thời gian và chi phí khi triển khai thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.
Qua thực tiễn triển khai, các địa phương đều khẳng định, công tác kiểm định chất lượng có ý nghĩa và tác động lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục. Việc có thêm nhiều cơ sở giáo dục được công nhận kiểm định chất lượng đồng nghĩa với việc có thêm nhiều trường nâng cao được các tiêu chuẩn về tổ chức và quản lý nhà trường; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục;… Người hưởng lợi cuối cùng từ quá trình phấn đấu đạt các mức của tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, trường chuẩn quốc gia chính là các học sinh.
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Hữu Độ cho biết, quy định về công tác kiểm định chất lượng giáo dục các cấp học, bậc học đã được đưa vào Luật Giáo dục từ năm 2005 và được tiếp nối, hoàn thiện trong các văn bản Luật tiếp theo, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (ban hành năm 2009), Luật Giáo dục 2019.
Nguyên tắc về kiểm định chất lượng giáo dục được quy định rõ trong các văn bản Luật này là đảm bảo “Độc lập, khách quan, đúng pháp luật”, “Trung thực, công khai, minh bạch”. Nếu đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (ban hành năm 2009) hoạt động kiểm định chất lượng chỉ dừng ở việc khuyến khích cơ sở giáo dục tham gia thực hiện, thì Luật Giáo dục 2019 đã yêu cầu đây là hoạt động “bắt buộc”, “định kỳ” và thực hiện bình đẳng.
Có địa phương nêu ý kiến rằng: Một số tiêu chuẩn kiểm định chất lượng thực hiện theo Thông tư 13 (ban hành năm 2020) quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường học đang gây khó khăn cho cơ sở giáo dục trong việc đạt công nhận kiểm định, công nhận chuẩn quốc gia.
Trả lời vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ nhấn mạnh: “Chuẩn kiểm định chất lượng không phải danh hiệu thi đua vì trong thi đua có sự động viên. Chúng ta muốn học sinh được học trong môi trường tốt hơn thì phải nỗ lực đáp ứng các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng; không vì danh hiệu đạt chuẩn quốc gia/ chuẩn kiểm định mà hạ chuẩn đánh giá. Một số địa phương gặp khó khăn về quy định diện tích mặt sàn xây dựng, như Hà Nội, TP HCM…
Bộ GD&ĐT đã có quy định đặc thù, cho phép các trường xây dựng trước khi Thông tư ban hành tiêu chuẩn kiểm định chất lượng có hiệu lực, được tính diện tích theo mặt diện tích mặt sàn thay vì phải tính theo diện tích đất.
Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất (Bộ GD&ĐT) Phạm Hùng Anh cho biết, Thông tư được ban hành năm 2020, trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Do đó, tới đây các hạng mục liên quan đến kiểm định chất lượng về tiêu chí cơ sở vật chất sẽ được điều chỉnh lại.
“Theo thống kê của Bộ Xây dựng thì duy nhất hiện nay có Bộ GD&ĐT đã ban hành được bộ tiêu chuẩn cơ sở vật chất thống nhất trong toàn ngành. Đây là bước tiến tốt, giúp chúng ta có thể xây dựng các cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu của tương lai”, Cục trưởng Phạm Hùng Anh nói và đề nghị các địa phương, nhà trường tiếp tục nỗ lực triển khai nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, đáp ứng các yêu cầu mới của Thông tư 13. (Phapluatxahoi.vn 15/12, Phan Thúy) Về đầu trang
THẾ GIỚI
Trung Quốc xem xét thành lập cơ quan mới chuyên kiểm soát đại dịch
Trung Quốc đang xem xét thành lập một cơ quan kiểm soát dịch bệnh mới trong nỗ lực cải cách nền y tế công cộng sau đại dịch COVID-19, theo trang tin Caixin.
Trang tin Caixin đưa tin độc quyền cho biết cơ quan kiểm soát dịch bệnh mới sẽ đảm nhận trọng trách ngăn chặn các đợt bùng phát dịch trong tương lai cũng như xử lý các dịch bệnh mới bùng phát.
Caixin cũng dẫn lời hai quan chức chính phủ và 3 chuyên gia y tế rằng cơ quan mới này có thể kết hợp với các phòng ban của Ủy ban Y tế quốc gia với Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc.
Hiện Trung Quốc cũng đang chạy đua sản xuất vắc xin để không chỉ cung cấp trong nước mà cho cả các nước khác. Nhiều địa phương đã cấp phép sử dụng khẩn cấp vắc xin của hai hãng dược nội địa là Sinovac và Sinopharm.
Dù chưa được chính thức thông qua, Trung Quốc đã tiêm vắc xin thử nghiệm cho hơn 1 triệu người, bao gồm các nhân viên y tế và những người có nguy cơ mắc COVID-19 cao, theo chương trình tiêm ngừa khẩn cấp.
Vắc xin của Trung Quốc đang thử nghiệm lâm sàng ở ít nhất 16 quốc gia và nhận được nhiều đơn đặt hàng từ các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Indonesia…
Dịch COVID-19 bùng phát tại thành phố Vũ Hán ở Trung Quốc vào cuối năm ngoái và lan ra hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã gọi COVID-19 là đại dịch vào tháng 3 vừa qua.
Đến nay, đại dịch đã cướp đi mạng sống của 1,6 triệu người và lây nhiễm cho hơn 71 triệu người trên toàn cầu. (Tuoitre.vn 14/12, Minh Khôi) Về đầu trang./.